09:54 EST Thứ năm, 23/11/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 21


Hôm nayHôm nay : 2871

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 129366

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7169388

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » GIẢI QUYẾT KHIẾU-TỐ

Những sai phạm trong công tác THADS 2014 và giải pháp khắc phục

Chủ nhật - 07/12/2014 21:33
Những sai phạm trong công tác THADS 2014 và giải pháp khắc phục

Những sai phạm trong công tác THADS 2014 và giải pháp khắc phục

TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG SAI PHẠM THƯỜNG GẶP TRONG CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐƯỢC PHÁT HIỆN THÔNG QUA CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO, KIỂM TRA CỦA TỔNG CỤC, THANH TRA CỦA THANH TRA BỘ, KIẾN NGHỊ, KHÁNG NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT, KẾT LUẬN GIÁM SÁT CỦA CÁC CƠ QUAN QUỐC HỘI, MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ CÁC CƠ QUAN LIÊN QUAN


.
1. Tình hình sai phạm trong hoạt động thi hành án dân sự được phát hiện năm 2014
1.1 Tình hình chung về công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo, thanh tra, kiểm sát, giám sát công tác thi hành án dân sự năm 2014
Trong năm 2014, Tổng cục, Thanh tra Bộ, Viện kiểm sát nhân dân các cấp và các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sát, giám sát, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo đối với hoạt động thi hành án dân sự, hướng tới hoạt động thi hành án dân sự ngày càng đúng đắn, tuân thủ pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và của nhà nước.
Về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong năm 2014, tại Tổng cục Thi hành án dân sự đã thụ lý, xử lý 3.777 đơn tương đương với 1.562 vụ việc khiếu nại, tố cáo đối với Thủ trưởng, Chấp hành viên trong việc thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành án. Trong đó có 115 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tổng cục trưởng theo quy định tại khoản 3 Luật Thi hành án dân sự, đã giải quyết xong 106 vụ việc, trong đó đã ban hành 68 Quyết định giải quyết khiếu nại và 08 Kết luận tố cáo. Kết quả, bên cạnh 20 vụ việc Tổng cục ra Thông báo đình chỉ giải quyết khiếu nại do đương sự rút đơn khiếu nại, tố cáo và 12 việc Tổng cục yêu cầu, chỉ đạo các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thu hồi, hủy bỏ quyết định trái pháp luật đã ban hành theo quy định tại Điều 37 Luật thi hành án dân sự do có sai sót, thì tại 09 Quyết định và Kết luận, Tổng cục đã chấp nhận toàn bộ hay một phần nội dung khiếu nại, tố cáo của công dân về những sai phạm của cơ quan thi hành án dân sự địa phương.
Về kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương trong toàn quốc năm 2014, Tổng cục nhận được tổng cộng 398 Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận nội dung tố cáo. Kết quả tổng hợp của Tổng cục cho thấy, bên cạnh đánh giá chung về chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự ngày càng được chú trọng và nâng cao, các nội dung đương sự khiếu nại, tố cáo và phản ánh cơ bản được xem xét giải quyết kịp thời, đúng quy định, có căn cứ mang tính thuyết phục, hầu hết các quyết định được đương sự chấp nhận, không khiếu nại tiếp, thì có đến 117/398 Quyết định giải quyết khiếu nại và Kết luận tố cáo của cơ quan Thi hành án dân sự địa phương đã chấp nhận toàn bộ hay một phần nội dung khiếu nại, tố cáo của đương sự là một vấn đề đáng lo ngại về việc thiếu tuân thủ quy trình tổ chức thi hành án của người bị khiếu nại hoặc chất lượng thấp của việc giải quyết khiếu nại lần đầu.  
Về công tác kiểm tra, Tổng cục Thi hành án dân sự đã xác định ngay từ đầu năm tập trung kiểm tra các nội dung liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc hội; chỉ đạo các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương xây dựng và thực hiện Kế hoạch kiểm tra, tự kiểm tra trong phạm vi toàn quốc đối với công tác thụ lý, phân loại án, công tác thống kê thi hành án dân sự và kết quả thi hành án. Đến nay, Tổng cục đã thực hiện xong kế hoạch kiểm tra toàn diện năm 2014 (tổ chức 06 Đoàn kiểm tra toàn diện, tại các tỉnh Đồng Nai, Gia Lai, Long An, Phú Thọ, Đồng Tháp, Quảng Nam). Tại các Kết luận kiểm tra đã thẳng thắn, nghiêm túc chỉ ra nhiều sai phạm với các mức độ khác nhau của các đơn vị được kiểm tra.
Ngoài ra, đã chỉ đạo kiểm tra đột xuất, làm việc trực tiếp với Lãnh đạo một số địa phương đạt kết quả thi hành án thấp, còn nhiều yếu kém hoặc để xảy ra vấn đề bức xúc, nổi cộm (Bình Thuận, Hải Phòng, Đồng Nai...); chủ trì, phối hợp với Bộ Công an xây dựng và triển khai Kế hoạch kiểm tra liên ngành (về việc thực hiện Thông tư liên tịch số 07/2014/TTLT-BTP-BTC-BCA hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải thi hành án và trả tiền, giấy tờ cho người được thi hành án dân sự là phạm nhân (tại Phú Thọ, Đồng Nai, Khánh Hòa; hiện chỉ còn 02 cuộc kiểm tra liên ngành tại Quảng Ninh và Bình Dương, dự kiến thực hiện trong nửa cuối tháng 12/2014); tham gia các đợt khảo sát, giám sát do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương chủ trì tại một số địa phương (Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Hải Dương...). 
Tại các Cục Thi hành án dân sự địa phương đã tiến hành 89 cuộc kiểm tra toàn diện công tác thi hành án dân sự đối với các Chi cục trực thuộc, đã chỉ ra sai sót để chấn chỉnh, nhưng kết quả kiểm tra còn hạn chế, kết luận kiểm tra còn sơ sài, không theo mẫu kết luận do Tổng cục ban hành, chưa phát huy triệt để tác dụng của công tác quản lý chỉ đạo điều hành.
Về công tác thanh tra, trong năm 2014, Thanh tra Bộ đã triển khai 23 cuộc thanh tra về thi hành án dân sự, trong đó có 08 cuộc thanh tra theo kế hoạch, 07 cuộc thanh tra đột xuất để giải quyết khiếu nại, tố cáo; 02 cuộc thanh tra về phòng, chống tham nhũng và 06 cuộc kiểm tra sau thanh tra. Kết quả thanh tra đã chỉ ra những sai sót trong giải quyết các vụ việc cụ thể và trong trách nhiệm giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống tham nhũng, tổ chức thi hành án, đầu tư xây dựng cơ bản, sử dụng ngân sách... của các đơn vị thi hành án dân sự là đối tượng thanh tra. Tổng cục đã kịp thời chỉ đạo các cơ quan là đối tượng thanh tra nghiêm túc thực hiện các kết luận thanh tra của Thanh tra Bộ.    
Về công tác kiểm sát, giám sát, số liệu tổng hợp cho thấy trong năm 2014, các cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện 759 cuộc kiểm sát (trong đó, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện 12 cuộc, Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện 103 cuộc, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hiện 644 cuộc) và 265 cuộc giám sát đối với công tác thi hành án dân sự (trong đó, các cơ quan của Quốc hội thực hiện 12 cuộc, Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện 219 cuộc, Mặt trận tổ quốc thực hiện 04 cuộc, các cơ quan khác thực hiện 31 cuộc). Qua kiểm sát, giám sát, các cơ quan có thẩm quyền đã ra kháng nghị, kiến nghị và kết luận đối với 449 cuộc (307 cuộc kiểm sát, 142 cuộc giám sát), chỉ ra cụ thể các sai phạm trong nghiệp vụ tổ chức thi hành án và các nội dung khác có liên quan. Các cơ quan Thi hành án dân sự hầu hết đã nghiêm túc tiếp thu và khắc phục các sai phạm theo nội dung yêu cầu tại các kiến nghị, kháng nghị của các cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội, Trụ sở tiếp công dân của Đảng và Nhà nước, Ban dân nguyện, Tỉnh ủy... và báo chí đã kịp thời chuyển đơn, phản ánh về Bộ, Tổng cục những đơn từ, nguyện vọng của công dân liên quan đến công tác thi hành án dân sự để xem xét, giải quyết và báo cáo kết quả theo quy định của pháp luật. 
Thông qua kết quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra của Tổng cục, Cục; kết quả thanh tra của Thanh tra Bộ, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân; kết luận giám sát của Ủy ban Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội, các Đại biểu Quốc hội, Mặt trận tổ quốc, các cơ quan liên quan, bên cạnh việc chỉ ra các sai sót cũng đều đã đánh giá đầy đủ các mặt ưu điểm của đơn vị được kiểm tra, kiểm sát, thanh tra: theo đó, hầu hết các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương đã làm tốt công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động tổ chức thi hành án; việc ra quyết định thi hành án, thụ lý thi hành án, việc phân loại hồ sơ thi hành án, thực hiện các trình tự, thủ tục về thi hành án cơ bản đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; đội ngũ công chức của cơ quan Thi hành án dân sự đã có nhiều cố gắng, do đó, kết quả thi hành án của phần lớn Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương đã đạt và vượt 3/3 hoặc 2/3 chỉ tiêu được giao; đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đều được đưa ra thi hành kịp thời, đầy đủ, không để xảy ra tình trạng bỏ sót, lọt.
Tuy nhiên, qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra của Tổng cục, Cục; kết quả thanh tra của Thanh tra Bộ, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân; kết luận giám sát của Ủy ban Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội, các Đại biểu Quốc hội, Mặt trận tổ quốc và các cơ quan liên quan cũng đã phát hiện nhiều vi phạm, sai phạm của các Cơ quan Thi hành án dân sự trong công tác tổ chức thi hành án dân sự. Năm 2014, các Cơ quan có thẩm quyền đã xử lý kỷ luật hành chính 98, xử lý hình sự 16 công chức trong toàn ngành Thi hành án dân sự.
Kết quả tổng hợp cho thấy các vi phạm, sai phạm xảy ra ở nhiều địa phương, trong hầu hết tất cả các quy trình, thủ tục khi tổ chức thi hành án, đáng kể là những sai phạm này lặp đi lặp lại nhiều lần, kể cả là những sai phạm đã được tổng hợp tại Chuyên đề những sai phạm thường gặp đã được Tổng cục báo cáo tại Hội nghị tổng kết năm 2013, triển khai công tác năm 2014.
1.2 Tổng hợp các dạng sai phạm điển hình trong hoạt động thi hành án dân sự được phát hiện năm 2014
Trên cơ sở kết quả theo dõi, Tổng cục tổng hợp những sai phạm thường gặp trong năm 2014 được phát hiện thông qua các mảng công tác nêu trên, như sau:
1.2.1 Việc lập sổ sách thi hành án
Vi phạm của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương trong lĩnh vực này chủ yếu là:
 -Không mở đầy đủ các loại sổ sách;
- Không ghi chép, cập nhật đầy đủ thông tin của từng cột mục; tùy tiện sửa chữa trong sổ không có xác nhận nội dung sửa chữa; cập nhật sai các cột, mục;
- Sổ nhận bản án phản ánh không đúng số lượng bản án (ghi lặp lại số ngày tháng năm của Bản án do vào sổ theo nội dung của từng phần quyết định của Bản án);
- Không ký mở sổ, không chốt sổ theo tháng, quý, năm, không đóng dấu giáp lai;
- Thiết lập Sổ ra Quyết định thi hành án, Sổ thụ lý thi hành án trên máy tính và đóng thành quyển khi kết thúc năm công tác, không ghi số quyết định thi hành án, quyết định trùng với số thứ tự của sổ… định dạng sai ngày tháng; không  kết sổ theo kỳ báo cáo, không gạch hồ sơ xong, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, không quản lý chặt chẽ được việc ra quyết định thi hành án;
- Còn chồng chéo trong việc quản lý công văn đi, đến của cơ quan và của Phòng chuyên môn (Phòng Nghiêp vụ tổ chức thi hành án)...
Những sai phạm trên đã vi phạm quy định tại Thông tư số 22/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số thủ tục hành chính trong công tác thi hành án dân sự. Việc kiểm tra, chỉ đạo đối với công tác này thuộc trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án; trách nhiệm thực hiện thuộc cán bộ được phân công phụ trách việc mở sổ và cập nhật thông tin vào các loại sổ được mở. Việc cập nhật phải được thực hiện thường xuyên, liên tục theo kết quả thi hành của từng vụ việc; đòi hỏi phải chi tiết, tỉ mỉ và cẩn trọng. Vi phạm này dẫn đến công tác quản lý, theo dõi không được toàn diện, đầy đủ hoạt động thi hành án từ khâu nhận bản án của Tòa án, nhận đơn của đương sự, công tác thống kê thi hành án…
          Đây là dạng vi phạm phổ biến tại các cơ quan Thi hành án dân sự được Viện kiểm sát nhân dân địa phương nêu tại các bản kiến nghị, kháng nghị khi kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục Thi hành án cùng cấp (như tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Kon Tum, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Điện Biên...), Kết luận kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Gia Lai, Phú Thọ, Đồng Nai, Quảng Nam, Long An; tại Kết luận thanh tra số 15/KL-TTR ngày 14/10/2013 của Thanh tra Bộ kết luận đối với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên...
- Tại một số cơ quan Thi hành án dân sự, số liệu thể hiện trong sổ thụ lý đơn đề nghị thi hành án có sự chênh lệch với số hồ sơ thi hành án thực tế
Như vậy, thể hiện hai trường hợp xảy ra: một là, cán bộ được phân công không cập nhật đầy đủ số lượng đơn của công dân đã gửi cơ quan Thi hành án dân sự theo sự phân công của Lãnh đạo đơn vị; hai là, đơn của đương sự được cơ quan Thi hành án dân sự nhận từ nhiều nguồn: do cơ quan bưu chính chuyển, cơ quan ban ngành, tổ chức chuyển, đơn do đương sự trực tiếp đến gửi tại trụ sở cơ quan Thi hành án hoặc gửi trực tiếp cho cán bộ, Chấp hành viên... Do đó, đã không quản lý được thời điểm gửi, nội dung đơn đề nghị, gửi cho cá nhân cán bộ, Chấp hành viên hay cán bộ được phân công làm công tác nhận và vào sổ thụ đơn của đương sự; từ đó dẫn đến việc khó khăn cho công tác quản lý, bỏ lọt, tùy tiện xử lý đơn thư của công dân (ví dụ: tại tỉnh Phú Thọ).
1.2.2 Việc lập hồ sơ thi hành án
          -Các tài liệu, giấy tờ trong hồ sơ còn sắp xếp lộn xộn không theo thứ tự thời gian (nhất là hồ sơ của các vụ việc rút từ các Chi cục lên, hồ sơ nhận ủy thác từ nơi khác đến…);
          - Không  hoặc chậm đánh dấu bút lục; không vào danh mục tài liệu;
          - Còn tẩy xóa bút lục, ảnh hưởng đến tính chính xác của hồ sơ;
          - Lưu thừa các tài liệu không cần thiết (lưu nhiều bản của một tài liệu, không đánh số bút lục ngay nên đến khi đóng dấu bút lục đã căn cứ mỗi tài liệu đánh một bút lục nên đã đành thừa nhiều bút lục so với quy định);
          - Không lưu trữ đầy đủ các tài liệu phải có trong hồ sơ (hồ sơ thiếu bản án, thiếu chứng từ thu, chi, thiếu chứng từ sung công, thiếu giấy tờ chứng minh nhân thân của người được nhận tiền và tài sản…);
          - Hồ sơ xong nhưng tài liệu có trong hồ sơ chưa hoàn thiện: ví dụ như quyết định về thi hành án vẫn chưa được đóng dấu, một số văn bản thiếu chữ ký của Chấp hành viên, kế toán, thủ quỹ, biên bản xác minh thiếu xác nhận của chính quyền địa phương;
          - Thẩm tra viên, Chấp hành viên chưa kiểm tra hoặc chưa kịp thời kiểm tra hồ sơ xong để trình Thủ trưởng ký duyệt đưa vào lưu trữ
          Những vi phạm trên đã vi phạm quy định tại Điều 17 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định về công tác văn thư và quy định tại Thông tư số 22/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp.
          Những vụ việc điển hình của dạng vi phạm này được nêu tại các bản Kết luận kiểm tra của Tổng cục tại Gia Lai, Đồng Tháp, Phú Thọ, Đồng Nai, Long An và tại nhiều kết luận của Viện kiểm sát.
          1.2.3 Việc ra các quyết định về thi hành án
          Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương vi phạm trong lĩnh vực này chủ yếu là những vi phạm sau:
          - Vi phạm trong việc ra quyết định thi hành án:
          + Vi phạm thời hạn ra Quyết định thi hành án:
          Tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự quy định: trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định hoặc đơn yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án đối với các loại việc Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án và theo đơn yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, nhiều cơ quan Thi hành án dân sự đã vi phạm về thời hạn ra quyết định thi hành án được quy định như trên. Có việc ra quyết định chậm vài ngày, có nơi chậm 07 tháng so với quy định của pháp luật.
          Đây là dạng vi phạm phổ biến tại các cơ quan Thi hành án dân sự, được Viện kiểm sát nhân dân địa phương nêu tại các bản kiến nghị, kháng nghị khi kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục Thi hành án cùng cấp (như tỉnh Đắc Nông, Hậu Giang, Khánh Hòa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long, Yên Bái…), đồng thời được Ủy ban Tư pháp Quốc hội chỉ ra tại Báo cáo số 2114/BC-ĐKS ngày 03/9/2014 đối với kết quả khảo sát về công tác phòng ngừa, chống vi phạm; công tác phòng, chống tham nhũng; công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ Tư pháp tại tỉnh Sơn La, Yên Bái. Việc ra quyết định thi hành án chậm thuộc trách nhiệm của cán bộ nhận và thụ lý đơn thư của đơn vị.
          + Vi phạm trong việc đưa bản án chưa có hiệu lực pháp luật  ra thi hành:
          Cơ quan Thi hành án dân sự đã ban hành quyết định thi hành án phần bồi thường của bản án lao động sơ thẩm đang bị kháng cáo ra để thi hành, dẫn đến khi có bản án phúc thẩm tuyên sửa bản án theo hướng giảm mạnh nghĩa vụ thanh toán của người phải thi hành án thì bản án đã được thi hành án xong nên phải đặt ra trách nhiệm bồi thường. Có trường hợp đưa phần án phí sơ thẩm hình sự khi bị cáo kháng cáo xin xét xử phúc thẩm trong hạn luật định ra để thi hành. Vụ việc bị Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị yêu cầu thu hồi một phần quyết định thi hành án nêu trên. Tuy nhiên, Cơ quan Thi hành án dân sự không chấp nhận yêu cầu của Viện kiểm sát. Vụ việc đã được Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tổng cục Thi hành án dân sự chỉ đạo yêu cầu thực hiện nghiêm túc  kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân.
          + Vi phạm trong việc Quyết định Thi hành án không có nội dung về thời hạn tự nguyện thi hành án; ra quyết định thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
          Trong trường hợp này, do bộ phận thụ lý nhận thức chưa đúng quy định của pháp luật về thời hiệu yêu cầu thi hành án nhưng Thủ trưởng cơ quan Thi hành án thiếu kiểm tra nên đã ra Quyết định thi hành án khi đã hết thời hiệu nên phải thu hồi. Có trường hợp thì chưa xem xét kỹ, đầy đủ các căn cứ để được khôi phục thời hiệu theo đúng quy định của pháp luật tại Điều 2 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự. Hoặc xác định không đúng về lý do trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng quy định tại Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn thi hành.
          + Vi phạm trong việc ban hành quyết định thi hành án viện dẫn không đủ căn cứ, sai căn cứ để ra quyết định thi hành án, tách nội dung để ra nhiều quyết định không đúng quy định, ra quyết định tách riêng khoản chủ động tiêu hủy tang vật với khoản thu án phí, thiếu nội dung (chủ yếu là thiếu phần lãi suất, thiếu phần tài sản đảm bảo thi hành án, không đúng với nội dung đơn yêu cầu của đương sự hoặc chưa đúng với quyết định bản án).
          Như vậy, đã vi phạm quy định tại Điều 2, Điều 7, Điều 31 Luật Thi hành án dân sự; là chưa phù hợp quy định tại Điều 5 Nghị định số 58/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại mục 2 Điều 1 Nghị định số 125/NĐ-CP (ví dụ: Quyết định giải quyết khiếu nại số 1721/CTHA-QĐGQKN ngày 26/3/2014 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh, kết quả kiểm tra của Tổng cục tại Đồng Tháp; Đồng Nai; Quảng Nam; các bản Kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắc Nông, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Hà Tĩnh…). 
          + Vi phạm về hình thức văn bản khi ra quyết định thi hành án: đây là những vi phạm không đáng xảy ra như: viện dẫn nhầm điểm, khoản; sai số, ngày, tháng, ký hiệu quyết định của bản án; ghi nhầm tên tòa án đã xét xử; nhầm họ tên, địa chỉ của đương sự. Ban hành quyết định thi hành án không đúng biểu mẫu; còn nhiều lỗi chính tả. Cá biệt, có trường hợp ngày cơ quan Thi hành án dân sự ban hành quyết định có sau ngày giao quyết định cho đương sự.
          Vi phạm này thể hiện sự cẩu thả, không nghiêm túc, thiếu trách nhiệm của cán bộ, Chấp hành viên có liên quan; tính nghiêm minh của cơ quan Nhà nước không được đảm bảo. Đây cũng là dạng vi phạm được Viện kiểm sát nhân dân địa phương nêu tại các bản kiến nghị, kháng nghị khi kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục Thi hành án cùng cấp (ví dụ: tại tỉnh Quảng Ninh, An Giang…).
          - Vi phạm trong việc ra quyết định hoãn thi hành án:
          + Chậm ban hành quyết định hoãn thi hành án
          Điển hình có vụ việc, từ khi ban hành quyết định thi hành án năm 1994, sau hơn 18 năm chỉ có 02 lần đi xác minh điều kiện thi hành án. Kết quả xác minh cho thấy có đủ căn cứ để ra quyết định hoãn thi hành án, nhưng sau hơn 1 năm sau (tại thời điểm Viện kiểm sát kiểm sát) vẫn chưa ra quyết định hoãn thi hành án. Đây là dạng vi phạm được Viện kiểm sát nhân dân địa phương nêu tại các bản kiến nghị, kháng nghị khi kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục Thi hành án cùng cấp (ví dụ: tỉnh Hải Dương, Đà Nẵng, Tiền Giang, Bình Dương, Hưng Yên, Yên Bái, Nghệ An, Kon Tum...)
          + Ban hành quyết định hoãn không đủ căn cứ quy định tại Điều 48 Luật Thi hành án dân sự, như: hoãn thi hành án theo đề nghị của người được thi hành án mà không có ý kiến của người phải thi hành án là chưa đủ căn cứ để hoãn (dẫn đến có vụ việc trong thời gian hoãn thi hành thì người phải thi hành án vẫn đến nộp tiền để thi hành, hồ sơ hoãn thi hành án nhưng Chấp hành viên vẫn ký Hợp đồng bán đấu giá tài sản với trung tâm bán đấu giá); ngày ra quyết định hoãn thi hành án trước ngày có căn cứ hoãn; ban hành nhiều quyết định hoãn đột biến vào thời điểm hai tháng cuối năm; hoãn tất cả các việc thi hành án của người phải thi hành án khi chưa có căn cứ vững chắc, có biểu hiện của việc chạy chỉ tiêu thi hành án.
          + Không tống đạt quyết định hoãn thi hành án cho đương sự;
          + Chậm xác minh hoặc không xác minh lại điều kiện thi hành án đối với các việc thi hành án đã hoãn;
          + Không ra quyết định tiếp tục thi hành án khi không còn căn cứ để hoãn thi hành án;
          +  Ra quyết định hoãn không đúng số tiền người phải thi hành án còn phải thi hành;
          + Hồ sơ không có quyết định hoãn vẫn được xếp vào dạng hồ sơ hoãn
          Dạng vi phạm được Viện kiểm sát nhân dân địa phương nêu tại các bản kiến nghị, kháng nghị khi kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục Thi hành án cùng cấp (ví dụ: tại tỉnh Long An, Bình Dương, Gia Lai...); kết quả kiểm tra của Tổng cục tại các tỉnh Gia Lai, Đồng Tháp, Phú Thọ, Đồng Nai, Quảng Nam, Long An; Kết luận kiểm tra của tỉnh Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai và Kết luận thanh tra số 15/KL-TTR ngày 14/10/2013 của Thanh tra Bộ kết luận đối với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên…
          - Vi phạm trong việc ra quyết định trả lại đơn thi hành án:
          + Ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án trong khi chưa đủ cơ sở, căn cứ:
          Trước khi ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án, Chấp hành viên chưa xác minh, làm rõ điều kiện thi hành án (điển hình có hồ sơ được thụ lý từ năm 1991 nhưng không tiến hành xác minh, không tổ chức thi hành án, nhưng đến năm 2014, Chấp hành viên ra Thông báo yêu cầu người được thi hành án cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án, sau đó ra quyết định trả lại đơn (18 hồ sơ trả đơn yêu cầu thi hành án của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, Gia Lai).
          Có một số hồ sơ đã được Chấp hành viên tổ chức thi hành một phần hoặc người được thi hành án đã cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án; tuy nhiên, Chấp hành viên không tiến hành xác minh để tổ chức thi hành án, xác minh chưa đúng địa chỉ, có xác minh nhưng xác minh sơ sài chưa phản ảnh đúng điều kiện thi hành án dẫn đến việc ra quyết định trả lại đơn chưa chính xác (điển hình như 30 hồ sơ trả lại đơn của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku).
          Một số Quyết định trả lại đơn không được đóng dấu, cá biệt có việc nội dung trong quyết định trả lại đơn không đầy đủ thông tin như số quyết định thi hành án và bản án, quyết định của tòa án đã tuyên... (ví dụ: vi phạm được nêu tại các bản Kết luận kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Gia Lai, Đồng Tháp, Quảng Nam; các bản kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên và Quyết định giải quyết khiếu nại số 383/QĐ-CTHA.GQKN ngày 23/5/2014 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa…).
          Có những trường hợp trả đơn yêu cầu thi hành án khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án (ví dụ: tại hồ sơ thi hành Quyết định thi hành án số 1284/QĐ-THA ngày 05/3/2012; hồ sơ thi hành Quyết định thi hành án số 28/THA-YC ngày 12/01/2000 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh...).
          Có những vụ việc đã có biên bản xác minh thể hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng Chấp hành viên không tiến hành xử lý tài sản mà vẫn yêu cầu người được thi hành án cung cấp thông tin về tài sản của người được thi hành án và sau đó ra quyết định trả lại đơn (ví dụ điển hình như 06 hồ sơ trả lại đơn của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).
          Có những vụ việc trả đơn yêu cầu thi hành án khi chưa xử lý xong tài sản đảm bảo thi hành án vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 51 Luật Thi hành án dân sự...
          Vi phạm này cho thấy sự tùy tiện trong việc áp dụng các căn cứ pháp luật để giải quyết việc thi hành án dân sự; trách nhiệm kiểm tra, chỉ đạo của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự còn chưa cao, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
          + Không ra quyết định trả lại đơn khi kết quả xác minh đã xác định có đủ căn cứ để ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án (ví dụ: vi phạm được nêu tại bản kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắc Nông).
          - Vi phạm trong việc ra quyết định ủy thác thi hành án:
          + Không thực hiện việc ủy thác sau khi xác định có căn cứ xác định vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình (như người phải thi hành án có tài sản ở nơi khác, ở nơi làm việc hoặc nơi cư trú…) nhưng chậm ra quyết định ủy thác hoặc không ra quyết định ủy thác mà giữ lại để tổ chức thi hành, đã vi phạm khoản 1 Điều 55 Luật Thi hành án dân sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây phiền hà, mất nhiều thời gian cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc thanh tra, kiểm sát, kiểm tra, chỉ đạo khắc phục hậu quả đối với từng vụ việc riêng lẻ, có trường hợp sai sót phải bồi thường và xem xét trách nhiệm cá nhân.
          Dạng vi phạm nêu trên được nêu, ví dụ như: tại Kết luận số 23/KL-TTR ngày 25/12/2013 của Thanh tra Bộ đối với Chi cục THADS huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, các bản kiến nghị, kháng nghị khi kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục Thi hành tỉnh Thừa Thiên Huế...
          + Còn căn cứ nhầm bản án để ban hành quyết định ủy thác thi hành án (ví dụ như: Quyết định ủy thác số 158/QĐ-CTHA ngày 30/9/2013 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng).
          + Không tiến hành xác minh tài sản trước khi ra quyết định ủy thác;
          + Ra Quyết định ủy thác thi hành án trong trường hợp đương sự phải liên đới bồi thường làm mất tính chất liên đới của nghĩa vụ thi hành án;
          + Ủy thác vụ việc đến nơi không có thẩm quyền giải quyết, dẫn đến cơ quan Thi hành án nơi nhận ủy thác phải chuyển trả lại vụ việc đã ủy thác…
          + Ban hành nhiều quyết định ủy thác tới các cơ quan Thi hành án dân sự nơi khác tại thời điểm cuối quý, cuối năm báo cáo để hoàn thành chỉ tiêu thi hành án.          Sau khi kiểm tra đối chiếu tại nơi nhận ủy thác thì có chênh lệch về số liệu (số ủy thác đi nhiều hơn số thực nhận ở nơi được ủy thác). Việc ban hành nhiều quyết định ủy thác trong khi nơi được ủy thác chưa nhận được quyết định tại thời điểm chốt số liệu cuối năm báo cáo (bên cạnh việc ra quyết định đình chỉ, trả lại đơn, hoãn thi hành án) dẫn đến tỷ lệ % giải quyết xong về số việc và số tiền tăng cao, là chưa phản ánh đúng tình hình thực tế về kết quả thi hành án.
          Dạng vi phạm này được nêu, ví dụ như tại bản Kết luận của Viện kiểm sát tối cao đối với kết quả kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục thành phố Hồ Chí Minh (Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hiện nay quy định về ủy thác tài sản trong Luật Thi hành án dân sự bộc lộ nhiều bất cập, khi thực hiện việc ủy thác trong một số trường hợp đã không đạt được mục đích thi hành nhất là đối với trường hợp tài sản ở nơi khác là động sản và tiền trong tài khoản, bởi khi ủy thác đến Cơ quan Thi hành án nơi có động sản hoặc tài khoản để tổ chức thi hành thì người phải thi hành án đã có đủ thời gian để dịch chuyển, tẩu tán tài sản gây khó khăn cho việc tổ chức thi hành án).
          - Vi phạm trong việc ra quyết định đình chỉ thi hành án:
          + Một số cơ quan Thi hành án dân sự sau khi xác định có đủ căn cứ để ra quyết định đình chỉ thi hành án nhưng chậm ra quyết định đình chỉ (ví dụ: tại hồ sơ thi hành Quyết định thi hành án số 15/THA ngày 20/01/1994 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh, sau 12 năm kể từ khi các đương sự thỏa thuận tự thi hành án Chấp hành viên mới ban hành quyết định đình chỉ thi hành án, được nêu tại bản Kết luận của Viện kiểm sát tối cao đối với kết quả kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục thành phố Hồ Chí Minh).
          + Ngược lại, một số cơ quan Thi hành án  kết quả xác minh điều kiện thi hành án chưa rõ ràng (người phải thi hành án đã chết nhưng không làm rõ điều kiện về tài sản) đã ra quyết định đình chỉ thi hành án; hoặc kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng lại đưa vào vụ việc vào diện chưa có điều kiện thi hành để ban hành quyết định đình chỉ hoặc trả lại đơn yêu cầu, hoãn thi hành án. (Vi phạm này được nêu ví dụ như: tại các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Đà Nẵng... và kết quả kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Đồng Nai...
          1.2.4 Việc thông báo về thi hành án
          Đây là thủ tục rất quan trọng trong thi hành án, nhằm đảm bảo cho đương sự kịp thời được thông tin để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, sai phạm trong hoạt động này vẫn còn lặp lại.
Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương vi phạm trong lĩnh vực này chủ yếu là:
          + Chậm thông báo các văn bản về thi hành án cho các đương sự (điển hình có trường hợp từ 05 tháng đến hàng năm sau mới giao cho đương sự).
          + Không giao quyết định thi hành án cho người phải thi hành án.
          Dạng vi phạm này được nêu, ví dụ như tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 205/QĐ-TCTHADS ngày 26/3/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự, Quyết định giải quyết khiếu nại số 499/QĐGQKN-CTHA ngày 07/7/2014 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa…và tại bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án dân sự tại Đắc Nông, Hà Nam, Kon Tum, Long An, Ninh Thuận, ...
Cá biệt hầu hết các hồ sơ đã được Tổng cục kiểm tra tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai đều không có tài liệu thể hiện về việc thông báo các quyết định về thi hành án, thông báo thi hành án cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đã vi phạm quy định về thông báo về thi hành án tại Điều 39 Luật Thi hành án dân sự. Việc làm này, dẫn đến các đương sự, nhất là người phải thi hành án không biết nghĩa vụ mình phải thực hiện; không biết được quyền lợi mà pháp luật quy định để bảo vệ. Từ đó, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người được thi hành án, người phải thi hành án và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
          + Không hoặc ít quan tâm đến việc giao quyết định thi hành án và các văn bản có liên quan cho người được thi hành án (Hồ sơ có rất ít các tài liệu chứng minh cho việc cơ quan thi hành án đã thực hiện việc thông báo cho người được thi hành án: Kết luận kiểm tra của Tổng cục tại Gia Lai, Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An);
          Khi thực hiện việc thông báo, Chấp hành viên không chú ý xem xét kỹ địa chỉ của đương sự (nhất là việc thông báo cho các đồng sở hữu trong trường hợp kê biên tài sản chung của hộ gia đình; thông báo đến địa chỉ cũ  khi đương sự thay đối địa chỉ và đã cung cấp địa chỉ mới; thông báo đến địa chỉ thường trú trong khi đương sự sinh sống tại địa chỉ tạm trú…).
          - Chậm gửi hoặc gửi không đầy đủ các quyết định, thông báo về thi hành án cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp theo quy định, có nơi việc chậm gửi chỉ là đối với một vài trường hợp, có nơi đến hàng trăm trường hợp (ví dụ như tại tỉnh Tiền Giang, Bến Tre…) , nêu tại các báo cáo giám sát số 2114/BC-ĐKS ngày 03/9/2014 của Ủy ban Tư pháp Quốc hội, báo cáo kết quả khảo sát về công tác phòng ngừa, chống vi phạm; công tác phòng, chống tham nhũng; công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ Tư pháp tại tỉnh Sơn La, Yên Bái)...
          1.2.5 Việc xác minh điều kiện thi hành án
          Đây cũng là vi phạm thường xuyên được chỉ ra nhưng chậm được khắc phục.    Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương vi phạm trong việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án chủ yếu là:
          -  Vi phạm thời hạn xác minh điều kiện thi hành án
          Theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra Quyết định thi hành án dân sự chủ động hoặc kể từ ngày người yêu cầu thi hành án yêu cầu xác minh thì Chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh. Tuy nhiên, tại hầu hết các kết luận kiểm tra, kiểm sát cho thấy vẫn còn rất nhiều trường hợp Chấp hành viên chậm tiến hành xác minh (có nhiều vụ việc chậm vài ngày, vài tháng, cá biệt có trường hợp chậm cả năm, thậm chí có trường hợp 15 năm...).
          Nhiều hồ sơ thể hiện việc xác minh lần đầu chậm (sau khi ra quyết định thi hành án 2 năm mới tiến hành xác minh); khoảng cách giữa các lần xác minh vượt quá thời gian xác minh lại theo quy định của pháp luật.
Một số trường hợp, việc chậm xác minh dẫn đến tình trạng vụ việc từ chỗ có điều kiện thi hành nhưng do cơ quan Thi hành án dân sự không đôn đốc và tổ chức thi hành án, người phải thi hành án đã tẩu tán tài sản dẫn đến vụ việc chuyển thành chưa có điều kiện thi hành. Cá biệt có trường hợp không tiến hành xác minh tài sản của người phải thi hành án.
          Dạng vi phạm nêu trên được nêu, ví dụ tại Kết luận thanh tra số 15/KL-TTR ngày 14/10/2013 của Thanh tra Bộ kết luận đối với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên; kết quả kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Gia Lai, Phú Thọ, Đồng Tháp, Quảng Nam và các bản kiến nghị, kháng nghị khi kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục Thi hành án Đà Nẵng, Hải Dương, Lâm Đồng, Thái Nguyên, Phú Yên, Quảng Ngãi.
          - Xác minh điều kiện của người phải thi hành án trước khi ban hành quyết định thi hành án (được nêu tại bản kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang).
          - Lập biên bản xác minh không đảm bảo yêu cầu
          Nhiều cơ quan Thi hành án dân sự lập biên bản xác minh không đáp ứng được mục đích của việc xác minh; không đáp ứng được tính hợp pháp, hợp lệ của một biên bản xác minh điều kiện thi hành án dân sự, cụ thể:
          + Biên bản xác minh có nội dung không đầy đủ, sơ sài;
            + Nội dung xác minh trong cùng một biên bản không thống nhất, có nhận định mâu thuẫn (phần đầu biên bản xác định đương sự có nhiều loại tài sản khác nhau, tuy nhiên, tại phần kết luận xác định đương sự không có điều kiện thi hành án);
          + Biên bản không phản ánh đúng tình trạng về tài sản cũng như điều kiện hoàn cảnh của người phải thi hành án;
          + Lập biên bản chiếu lệ, đối phó;
          + Biên bản xác minh thiếu chữ ký của các thành phần tham gia như: chữ ký của Chấp hành viên, đại diện của chính quyền địa phương;
          + Văn bản ban hành không đúng thể thức, không đúng thẩm quyền, không gạch chéo những phần còn trống;
          + Biên bản xác minh tại các địa chỉ khác nhau nhưng trùng giờ, trùng thành phần làm việc; có trường hợp Chấp hành viên tùy tiện ghi thêm nội dung vào biên bản làm việc.
          Sai phạm trên điển hình là vụ việc nêu tại Thông báo số 1356/TB- TCTHADS ngày 21/5/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự; kết quả kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Quảng Nam và các kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, Đà Nẵng, Yên Bái, Hà Giang, Điện Biên, Bình Dương, Hải Dương, Lạng Sơn, Hà Giang...).
          Xác minh điều kiện thi hành án cũng như công tác giáo dục, thuyết phục đối với các đương sự là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng, làm căn cứ để tiến hành các biện pháp nghiệp vụ tiếp theo. Do đó, việc lập các biên bản xác minh điều kiện thi hành án, biên bản làm việc nói chung của cán bộ, Chấp hành viên, Thẩm tra viên đòi hỏi phải chặt chẽ, về thủ tục và nội dung phải phản ánh đúng, đủ, hợp lệ theo quy định của pháp luật. Những vi phạm nêu trên thể hiện trình độ, năng lực của cán bộ, Chấp hành viên, Thẩm tra viên của Cơ quan Thi hành án dân sự cũng như sự cẩu thả, tùy tiện, đơn giản hóa thủ tục quy định về việc xác minh điều kiện thi hành án cũng như lập biên bản giải quyết thi hành án với đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Điều đó cho thấy cần phải tăng cường hơn nữa trong việc đào tạo để nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn cho cán bộ Thi hành án cũng như tăng cường kỷ cương, kỷ luật ngành; công tác kiểm tra, chỉ đạo thường xuyên của Lãnh đạo đơn vị.
          1.2.6 Việc phân loại án
          Trên cơ sở kết quả xác minh, chấp hành viên có trách nhiệm xác định vụ việc có hay không có điều kiện thi hành án để tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật. Yêu cầu phân loại án chính xác là vấn đề mà Tổng cục đã đặt ra ngay từ đầu năm 2014. Tuy nhiên, trong thực tế, sai phạm trong phân loại án vẫn còn, như:
          - Tỷ lệ phân loại án có điều kiện thi hành án đạt thấp, đồng nghĩa với việc tỷ lệ những người được thi hành án chậm trễ nhận được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị tăng lên.  
          - Việc phân loại án của nhiều cơ quan Thi hành án dân sự địa phương chưa chính xác, không phản ánh đúng tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương và điều kiện thi hành án của đương sự
          Những vụ việc có điều kiện thi hành án nhưng được xếp vào diện chưa có điều kiện thi hành hoặc đưa vào diện trả lại đơn, hoãn thi hành án không đúng quy định của pháp luật. Việc phân loại án có biểu hiện đẩy việc có điều kiện thi hành án sang việc không có điều kiện để nâng tỷ lệ kết quả thi hành án xong trên số có điều kiện thi hành. Vụ việc đang được bán đấu giá tài sản, không thuộc diện án có lý do khác nhưng lại xếp vào diện án có lý do khác…
          Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này được nêu tại kết quả kiểm tra của Tổng cục tại các tỉnh Đồng Tháp, Phú Thọ, Quảng Nam...
          Những vi phạm này dẫn đến các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án không được tổ chức thi hành nghiêm minh, đúng pháp luật; ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người được thi hành án và là nguyên nhân của các vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài trong thi hành án dân sự cần được tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc và quán triệt tránh lặp lại tại các cơ quan Thi hành án dân sự trong toàn quốc.
          1.2.7 Việc tổ chức thi hành án thiếu tích cực, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan tổ chức và của Nhà nước
          Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương vi phạm chủ yếu là:
          - Để việc thi hành án kéo dài nhiều năm không tác nghiệp
Cơ quan Thi hành án dân sự đã ra Quyết định thi hành án để tổ chức thi hành nhưng không tiến hành xác minh và đôn đốc để thi hành án dẫn đến việc thi hành án kéo dài không được tổ chức thi hành. Nhiều hồ sơ không thể hiện các tác nghiệp của Chấp hành viên theo quy định. Cá biệt có hồ sơ từ ngày ra quyết định thi hành án (năm 2002) đến thời điểm kiểm sát (năm 2013), Chấp hành viên bỏ hồ sơ không tiến hành các hoạt động tác nghiệp về thi hành án.
          Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 02/QĐ-CTHA ngày 18/10/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng, Quyết định giải quyết khiếu nại số 07QĐ-CTHA ngày 22/11/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; tại các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Gia Lai...
          - Không đôn đốc, không áp dụng biện pháp tổ chức thi hành dứt điểm vụ việc mà kết quả xác minh đã xác định người phải thi hành án có tài sản, có điều kiện thi hành.
          Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 152/QĐ-CTHADS ngày 04/3/2014 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum, Quyết định giải quyết khiếu nại số 602/QĐ-CTHADS ngày 19/8/2014 và Quyết định giải quyết khiếu nại số 546/QĐ-CTHADS ngày 01/8/2014 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh… Kết luận kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Gia Lai và các bản kiến nghị, kháng nghị khi kiểm sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại Cục Thi hành án tỉnh Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Bắc Giang, Phú Thọ, Nghệ An, Lạng Sơn...).
          1.2.8 Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
          Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp mà Cơ quan Thi hành án dân sự sử dụng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án nhằm đảm bảo tính hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án được tổ chức thi hành; đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền về tài sản của công dân. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế đòi hỏi phải tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục kê biên tài sản của pháp luật thi hành án dân sự và quy định pháp luật khác có liên quan.
Việc chỉ ra các vi phạm, thiếu sót trong quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự của Chấp hành viên có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý, chỉ đạo và thực hiện đối với nội dung này.
Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương vi phạm trong lĩnh vực này chủ yếu là những vi phạm sau đây:
- Vi phạm trong việc chậm xử lý tài sản đã kê biên:
Một số vụ việc, cơ quan Thi hành án dân sự đã ra Quyết định cưỡng chế tài sản để thi hành án, hoặc bản án đã xác định rõ tài sản để thi hành án, đã tuyên duy trì lệnh kê biên, tạm giữ tài sản để đảm bảo thi hành án, nhưng đến thời điểm thanh tra, kiểm sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan Thi hành án dân sự vẫn chưa tiến hành xử lý để thi hành án. Có vụ việc từ năm 2001 hoặc từ năm 2004 Chấp hành viên đã có thông báo bán đấu giá tài sản, nhưng đến tháng 7/2013 chưa thi hành dứt điểm vụ việc, đã vi phạm các quy định về kê kiên, bán đấu giá tài sản được quy định từ Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đến Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện ví dụ như tại hồ sơ thi hành Quyết định thi hành án số 148/QĐ-THA ngày 01/6/2000 Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên; hồ sơ thi hành Quyết định thi hành án số 214/QĐ-THA ngày 09/4/2011 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, Hồ sơ thi hành Quyết định thi hành án số 112/QĐ-THA ngày 01/4/2004 và Quyết định thi hành án  số 42/QĐ-THA ngày 02/3/2009 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát tại Hải Dương, Tiền Giang, Trà Vinh, Quảng Ngãi, Phú Thọ, Thừa Thiên Huế... và kết quả kiểm tra của Tổng cục Thi hành án dân sự tại tỉnh Đồng Nai...
- Vi phạm trong việc kê biên: Kê biên tài sản nhưng chưa làm rõ tài sản là của vợ chồng hay của hộ gia đình; kê biên bỏ sót tài sản (bỏ sót tầng hầm khi kê biên nhà cao tầng, bỏ sót cây cối, giếng nước, bờ rào.. khi kê biên diện tích đất, vẫn ra quyết định kê biên khi theo quy định thì không phải ra quyết định kê biên vì Tòa án đã tuyên kê biên…(kết quả giải quyết khiếu nại của Tổng cục đối với vụ việc ở Hà Nội, Phú Thọ…).
Một số đơn vị thi hành án dân sự đã ban hành quyết định cưỡng chế trái pháp luật như: ban hành quyết định cưỡng chế, kê biên quyền sử dụng đất là đất thuê, trả tiền thuê đất hàng năm; kê biên tài sản là hệ thống phòng cháy, chữa cháy... đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 87 Luật Thi hành án dân sự, theo đó: cấm kê biên những tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách Nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức hoặc kê biên tài sản không phải của người phải thi hành án.
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này ví dụ như  tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 517/QĐ-TCTHADS ngày 24/7/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự; Kết luận thanh tra số 23/KL-TTR ngày 25/12/2013 của Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp; Quyết định giải quyết khiếu nại số 734/QĐ-CTHA ngày 07/10/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum…; tại bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Bình Dương...
- Ngược lại, một số cơ quan Thi hành án dân sự đã không kê biên tài sản duy nhất của người phải thi hành án đã được thế chấp vay tài sản tại Ngân hàng có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án được quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự, theo đó: trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 20/QĐGQKN-CTHA ngày 13/3/2014 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; Kháng nghị số 569/KN-KSTHADS ngày 26/6/2014 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định…; kết quả kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Gia Lai…
- Nhiều trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự chậm ban hành quyết định giải tỏa tài sản bị kê biên khi nhận được quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao và có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc chậm có quyết định giải tỏa biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi đương sự không còn nghĩa vụ phải thi hành án, ra quyết định giải tỏa tài sản khi chưa ra quyết định đình chỉ thi hành án,  đã vi phạm quy định các trường hợp phải ra quyết định giải tỏa kê biên tài sản tại Điều 105 Luật Thi hành án dân sự. Có nơi, Chấp hành viên đã không có biện pháp ngăn chặn và xử lý theo quy định của pháp luật đối với trường hợp tài sản đã được kê biên, thẩm định giá và bán đấu giá không thành nhưng đương sự đã tự bán tài sản gây thiệt hại cho người được thi hành án.
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 07/QĐ-CTHA ngày 24/9/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận, Quyết định giải quyết khiếu nại số 229/QĐ-CTHA ngày 14/5/2014 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, bản kiến nghị của Viện kiêm sát tỉnh Thừa Thiên Huế…
Như đã phân tích ở trên, biện pháp cưỡng chế là thể hiện quyền và sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc đương sự phải thực hiện nghĩa vụ họ không mong muốn. Do đó, để xảy ra vi phạm nêu trên là vi phạm quyền lực Nhà nước, làm cho sự nghiêm minh của cơ quan Nhà nước không được tôn trọng.
- Vi phạm về trình tự thủ tục trong quá trình cưỡng chế thi hành án:
Trình tự, thủ tục trong quá trình cưỡng chế liên quan đến nhiều quy định pháp luật của ngành, lĩnh vực khác nhau; do đó, dạng vi phạm này biểu hiện rất đa dạng tại nhiều khâu, lĩnh vực, thời gian, loại tài sản khác nhau. Ví dụ:
+ Trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, cơ quan Thi hành án đã không tiến hành xác minh, xác minh không đầy đủ, cụ thể tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án hoặc không xem xét đến tính hợp pháp, hợp lý văn bản của cơ quan có liên quan dẫn đến kê biên, bán đấu giá sai đối tượng phải thi hành án, đã vi phạm quy định về xác minh điều kiện thi hành án tại Điều 44 Luật Thi hành án dân sự; Điều 1 Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ sửa đổi Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 và quy định về kê biên và xử lý tài sản thi hành án.
 Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Hồ sơ Quyết định thi hành án số 2965/QĐ-CTHA ngày 09/8/2011; hồ sơ thi hành Quyết định số 527/CTHA ngày 20/12/2011 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh, vụ việc thi hành án tại địa bàn tỉnh Đăk Nông...
+Vi phạm trong việc không cho thời gian tự nguyện thi hành án theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự là 15 ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc thông báo hợp lệ quyết định thi hành án mà hồ sơ không có căn cứ cho thấy phải áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế thi hành án.  
+ Vi phạm trong việc không thông báo các văn bản về cưỡng chế cho các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không niêm yết thông báo cưỡng chế.
+ Không kịp thời hướng dẫn, đảm bảo cho đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản kê biên thuộc sở hữu chung, tài sản cưỡng chế có tranh chấp; kê biên tài sản là nhà và đất nhưng không giao tài sản cho ai quản lý. Cá biệt có đơn vị thi hành án đã không ra Quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản đúng theo biểu mẫu số B26-THA (Ban hành theo TT số 09/TT-BTP ngày 30/5/2011 của Bộ Tư pháp), đồng thời không lập biên bản kê biên tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Luật Thi hành án dân sự mà tiến hành ngay thủ tục thẩm định giá, bán đấu giá tài sản.
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Thông báo số1356/TB-TCTHADS ngày 21/5/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự, Kết luận kiểm tra của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai, Kết luận số 23/KL-TTR ngày 25/12/2013 của Thanh tra Bộ Tư pháp đối với Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, Hải Phòng…
- Vi phạm trong ký hợp đồng thẩm định giá:
Thể hiện ở việc cơ quan Thi hành án dân sự đã ra quyết định kê biên tài sản và xử lý tài sản để thi hành án, nhưng:  
+ Không cho đương sự thỏa thuận về giá, hay lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản theo quy định tại Điều 98 Luật Thi hành án dân sự hoặc
+ Đã tiến hành thủ tục cho đương sự thỏa thuận về giá và thẩm định giá tài sản nhưng chậm ký Hợp đồng thẩm định giá tài sản được quy định tại khoản 2 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự, theo đó: trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên phải ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên...
Vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại các kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắc Nông, Hậu Giang, Khánh Hòa, Kon Tum, Tiền Giang, Quảng Ngãi, thành phố Hồ Chí Minh (28 việc).
- Vi phạm trong việc ký hợp đồng bán đấu giá:
Thể hiện ở việc cơ quan Thi hành án dân sự:
+ Không cho đương sự thực hiện quyền thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá, vi phạm thời hạn đương sự thực hiện quyền thỏa thuận về tổ chức đấu giá.
+ Vi phạm thời hạn ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá theo quy định tại Điều 101 Luật Thi hành án dân sự, theo đó, việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản phải được tiến hành trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày định giá.
+ Vi phạm trong việc Chấp hành viên ký Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản với doanh nghiệp bán đấu giá chưa đủ điều kiện theo pháp luật quy định để được bán đấu giá tài sản thi hành án (Theo đó, doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản phải là đấu giá viên, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 16, Điều 55 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản), hợp đồng không chặt chẽ (ví dụ như: trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày giao xong tài sản cho người mua trúng đấu giá) để ràng buộc trách nhiệm của tổ chức bán đấu giá phải kịp thời chuyển tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản cho cơ quan thi hành án, dẫn đến việc không thu hồi được để xử lý thi hành án theo quy định của pháp luật.
Vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Thông báo Kết luận cuộc họp số 2623/TB-TCTHADS ngày 22/8/2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự đối với vụ việc tại Hà Nội…
- Vi phạm trong bán đấu giá tài sản:
Trong thủ tục bán đấu giá tài sản, vi phạm phổ biến là:
+ Việc thông báo về bán đấu giá cho người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa đảm bảo;
+ Còn nhiều khiếu nại, phản ánh về hiện tượng dìm giá (quân xanh, quân đỏ, đe dọa người đăng ký mua...) người tham gia đấu giá là người thân quen của công chức trong cơ quan Thi hành án gây ra dị nghị của nhân dân về sự minh bạch của hoạt động này.
+ Có trường hợp công chứng viên ký hợp đồng bán đấu giá trước khi tổ chức bán đấu giá.
+ Nhiều trường hợp do các sai sót về nghiệp vụ ở các quy trình trước khi bán đấu giá dẫn đến vi phạm thời hạn bán đấu giá.
+ Sau khi bán đấu giá thành nhưng Chấp hành viên không tiến hành giao tài sản cho người mua trúng đấu giá hợp pháp cũng không còn tiền để trả lại cho người mua trúng đấu giá hoặc Chấp hành viên đã căn cứ lý do người phải thi hành án không đồng ý bán tài sản đã được đưa ra bán đấu giá sau khi tài sản giảm giá lần thứ 3 để quyết định không bán tài sản cho người tham gia bán đấu giá, vi phạm quy định tại Điều 103 và điểm b khoản 1 Điều 36 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ quy định về bán đấu giá tài sản.
+ Bán đấu giá không thành lần thứ ba nhưng không thông báo cho người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án để chấm dứt vụ việc thi hành án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người được thi hành án.
+ Kết quả bán đấu giá đã thống nhất hủy nhưng không giải quyết các vấn đề sau hủy, để kéo dài gây bức xúc cho các bên (không tiếp tục tổ chức bán đấu giá lại tài sản, cũng không thực hiện việc trả lại tiền cho người trúng đấu giá hoặc không xác định hướng xử lý những vấn đề phát sinh do hủy…).
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này được phát hiện thông qua hoạt động kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo, ví dụ như tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 836/QĐ-CTHA ngày 12/12/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, Thông báo Kết luận cuộc họp số 2623/TB-TCTHADS ngày 22/8/2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự đối với việc thi hành án tại địa bàn Hà Nội, các Kết luận kiểm tra của Tổng cục.
1.2.9 Việc thu chi tiền thi hành án, nghiệp vụ kế toán
Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương vi phạm trong lĩnh vực này chủ yếu là những vi phạm như:
- Chậm gửi tiền vào tài khoản tạm gửi hoặc tiết kiệm theo quy định của pháp luật chậm nộp tiền vào ngân sách Nhà nước; chậm nộp số tiền mặt tồn quỹ vào tài khoản tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước theo quy định (có đơn vị thi hành án để tồn quỹ với số tiền lớn 947.659.981 đồng).
- Chậm chi trả tiền thi hành án:
Theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự, việc thanh toán phải thực hiện trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thu được tiền thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tế, còn rất phổ biến những trường hợp vi phạm thời hạn thanh toán tiền cho đương sự, cá biệt có vụ việc hàng chục năm kể từ ngày thu tiền chưa chi trả cho đương sự, để đương sự phải đi lại nhiều lần và có khiếu nại gay gắt về nội dung này. Có trường hợp, khoản tiền thu được từ bán đấu giá tài sản không xử lý kịp thời với số tiền lớn.
Dạng vi phạm này được nêu, ví dụ: tại các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Đà Nẵng, Hải Dương, Lâm Đồng, Phú Yên, Khánh Hòa, Hưng Yên, ....đồng thời được nêu tại Báo cáo kêt quả giám sát số 2114/BC-ĐKS ngày 03/9/2014 của Ủy ban Tư pháp Quốc hội, báo cáo kết quả khảo sát về công tác phòng ngừa, chống vi phạm; công tác phòng, chống tham nhũng; công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp tại tỉnh Sơn La, Yên Bái. 
+ Chứng từ thu, chi chưa chặt chẽ:
 Ví dụ như: thiếu chữ ký của các thành phần theo quy định (thiếu chữ ký của Thủ trưởng, thủ quỹ...), trong hồ sơ kế toán khi nhập phiếu thu, kế toán không lưu chung các biên lai do Chấp hành viên, thư ký, cán bộ văn phòng thu mà bộ phận kế toán lưu riêng, nội dung thu ghi chưa rõ ràng, cụ thể…; chi tiền không có hóa đơn, chứng từ gốc, chứng từ thanh toán là hóa đơn phô tô copy, chi theo Giấy đề nghị chi; không thanh toán dứt điểm các khoản tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án, còn để kéo dài, dây dưa; chi cho người nhận thay nhưng không có giấy ủy quyền; nhận tiền của đương sự gửi lại cơ quan Thi hành án dân sự không đúng quy định gây nghi ngờ trong dư luận...
+ Xác định không đúng về thứ tự thanh toán tiền thi hành án
Vụ việc điển hình cho những dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Thông báo số 1356/TB- TCTHADS ngày 21/5/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự và tại một số kết luận kiểm tra của Cục đối với các Chi cục địa phương…
+ Một thực trạng của một số ít  cơ quan Thi hành án dân sự là thực hiện chi tiền mặt (có nơi với số lượng lớn) cho cơ quan, tổ chức mà không thực hiện việc chi qua tài khoản, vi phạm Điều 10 Thông tư 22/2011/TT-BTP ngày 02/12/2011 của Bộ Tư pháp; thu tiền không đúng quy định, buộc đương sự phải nộp tiền bồi dưỡng cho các thành viên tham gia bán đấu giá tài sản, tiền tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án, tiền thuê nhà ở cho người phải thi hành án và gia đình trước khi cưỡng chế giao nhà…
+ Một số đơn vị, kế toán nghiệp vụ hạch toán số phải thu của người phải thi hành án không đúng; không quản lý được số tiền đã thu của người phải thi hành án; không thực hiện việc kiểm quỹ tiền mặt theo định kỳ (tháng, quý, năm) theo quy định mà cuối tháng chỉ ký kết sổ trên sổ quỹ…
+ Cá biệt có trường hợp thu tiền đương sự nộp bồi thường, án phí, phí thi hành án nhưng không nộp quỹ để tiêu xài cá nhân, xâm tiêu tiền thi hành án, để bảo chí phản ánh và bị điều tra truy tố.  
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Nghệ An... hoặc vụ việc xảy ra tại Tiền Giang.
Dạng vi phạm này cần được nghiêm túc quán triệt rút kinh nghiệm, vì sai sót trong hoạt động kế toán nghiệp vụ thi hành án dẫn đến không phản ánh đúng được số lượng việc, số lượng tiền và kết quả đạt được của hoạt động thi hành án dân sự, nguy cơ dẫn đến xâm tiêu tiền thi hành án, tham nhũng….
1.2.10 Việc thu phí thi hành án 
Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương vi phạm trong lĩnh vực này chủ yếu là những vi phạm sau:  
+ Thu phí bán đấu giá không đúng quy định;
+  Thu phí thi hành án đối với trường hợp không phải chịu phí thi hành án.
Có nơi, cơ quan Thi hành án dân sự chưa ra quyết định cưỡng chế tài sản nhưng người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án và người được thi hành án đã rút đơn yêu cầu thi hành án; tuy nhiên, cơ quan Thi hành án vẫn buộc phải nộp phí thi hành án.
Một số nơi đã thu phí đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, thu phí đối với tài sản không liên quan đến quyết định thi hành án, đã vi phạm quy định về những trường hợp không được thu phí thi hành án tại Nghị định 125/2013/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 34 của Nghị định 58/2009/NĐ-CP và Thông tư 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 22/9/2010, hướng dẫn về chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự.
- Thu phí thi hành án không trên cơ sở đề nghị của Chấp hành viên; Thủ trưởng đơn vị có ký quyết định thu phí nhưng quyết định không ghi số và đóng dấu cơ quan…
Vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện tại Kết luận kiểm tra của Cục Thi hành án dân sự Đồng Nai đối với các Chi cục … kết quả kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Gia Lai.
1.2.11 Việc bảo quản tài sản thi hành án và xử lý vật chứng
Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương vi phạm trong lĩnh vực này chủ yếu là những vi phạm sau:
+ Một số cơ quan Thi hành án dân sự đã để vật chứng còn tồn đọng nhiều năm chưa được xử lý, giải quyết kịp thời.
+ Chậm thành lập Hội đồng tiêu hủy vật chứng, là vi phạm khoản 1 Điều 125 Luật Thi hành án dân sự, theo đó: trong thời hạn một tháng kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án phải ra quyết định thành lập Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản thuộc diện tiêu hủy theo bản án, quyết định trừ trường hợp pháp luật quy định phải tiêu hủy ngay.
+ Vi phạm trong việc chậm chuyển giao tài sản sung công cho cơ quan tài chính quy định tại khoản 1 Điều 124 Luật Thi hành án dân sự và Nghị định 125/2013/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 18 của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, theo đó: trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản và tiến hành giao vật chứng, tài sản tạm giữ đó cho cơ quan tài chính cùng cấp…
+ Vi phạm chế độ bảo quản tài sản: vật chứng bảo quản trong kho không ghi rõ vật chứng của vụ án nào; để lẫn lộn vật chứng trong vụ án đã có quyết định thi hành án với vật chứng trong vụ án chưa được xét xử, cá biệt có đơn vị cưỡng chế thu giữ tài sản mang về giao cho bảo vệ của cơ quan bảo quản dẫn đến cháy tài sản phải đặt ra trách nhiệm bồi thường, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Thi hành án dân sự.
+ Không lưu giữ đầy đủ các biên bản giao nhận vật chứng mà chỉ lưu giữ biên bản giao nhận vật chứng đối với vụ việc chưa có bản án, quyết định của Tòa án, là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư số 22/2011/TT-BTP ngày 02/12/2011 của Bộ Tư pháp.
Vi phạm này mang tính phổ biến tại các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, bị Viện kiểm sát nhân dân các cấp kiến nghị nhiều lần, ví dụ tại nhiều địa phương như: tại tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Hưng Yên, Đà Nẵng, Bình Dương, Điện Biên, Đà Nẵng, Hải Dương... và kết quả kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Quảng Nam...
1.2.12 Việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương vi phạm trong lĩnh vực này chủ yếu là những vi phạm sau:
- Vi phạm về thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo:
Một số cơ quan Thi hành án dân sự vi phạm về thẩm quyền giải quyết quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật khiếu nại, Luật tố cáo năm 2011 và tại Điều 142 Luật Thi hành án dân sự, như:
+ Có trường hợp đương sự khiếu nại không thuộc thẩm quyền của cơ quan Thi hành án dân sự nhưng vẫn thụ lý giải quyết (đương sự khiếu nại không đồng ý với bản án của Tòa án, nhưng được cơ quan Thi hành án dân sự ban hành quyết định giải quyết khiếu nại không chấp nhận khiếu nại của đương sự) .
+ Chấp hành viên ký, ban hành công văn trả lời khiếu nại, trong khi theo quy định, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự.
+ Chuyển đơn đến nơi không có thẩm quyền giải quyết (thẩm quyền giải quyết của Cục nhưng chuyển đơn về Chi cục để giải quyết…).
Dạng vi phạm về thẩm quyền dẫn đến cấp có thẩm quyền phải ra quyết định hủy, yêu cầu thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định giải quyết khiếu nại lần 1; dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết khiếu nại, tố cáo và việc tổ chức thi hành án bị ảnh hưởng.
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 866/QĐ-GQKN ngày 25/12/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ...
- Vi phạm về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo:
 Một số đơn vị thi hành án còn vi phạm về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo (điển hình có nơi giải quyết chậm hơn 12 tháng); có đơn vị Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đã kiến nghị giải quyết dứt điểm nhiều lần nhưng cơ quan Thi hành án dân sự chưa giải quyết dứt điểm, đã vi phạm quy định tại Điều 146, 157 Luật Thi hành án dân sự.
Những vụ việc như trên được nêu tại các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, Bình Định, Thái Nguyên...; Công văn số: 2904/TCTHADS-GQKNTC ngày 23/10/2013 của Tổng cục Thi hành án dân sự và Kết luận kiểm tra của Tổng cục tại tỉnh Gia Lai, Đồng Tháp…
- Vi phạm về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo, cụ thể:
+ Một số cơ quan Thi hành án có nhầm lẫn về trình tự giải quyết giữa giải quyết khiếu nại và giải quyết tố cáo (đương sự làm đơn tố cáo nhưng được giải quyết theo trình tự giải quyết khiếu nại).
+ Ban hành quyết định xác minh tố cáo không ghi thời hạn xác minh và nội dung xác minh.
+ Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo (kể cả ở Tổng cục) chưa thực sự đầy đủ trách nhiệm xác minh, đối thoại, làm việc với người khiếu nại, người bị tố cáo hoặc chậm ra thông báo thụ lý đơn…
Ngoài ra, khi tổ chức đối thoại để giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết đã mời thành phần không có liên quan đến nội dung khiếu nại, không có chuyên môn liên quan đến nội dung khiếu nại tham gia buổi đối thoại với đương sự, vi phạm Điều 30 Luật Khiếu nại năm 2011, theo đó: Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau thì người giải quyết khiếu nại tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại… hoặc khi giải quyết khiếu nại lần hai thì phải tiến hành đối thoại.   
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này thể hiện cụ thể tại Kết luận tố cáo số 2134/KLTC-TCTHADS ngày 16/7/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự về vụ việc ở Hải Phòng, tại các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Long An, Hải Dương, Hậu Giang, Phú Yên...
+ Giải quyết khiếu nại bằng hình thức ban hành công văn trả lời, là vi phạm xảy ra tại nhiều đơn vị địa phương, đã vi phạm quy định tại Điều 150 Luật Thi hành án dân sự; theo đó, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại thuộc thẩm quyền.
+ Có trường hợp cơ quan Thi hành án xác định sai tư cách của người khiếu nại (người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan hay không có liên quan đến nội dung khiếu nại) để ra Thông báo không thụ lý hoặc thụ lý giải quyết sai quy định tại khoản 1 Điều 140 và Điều 141 Luật Thi hành án dân sự.
Điển hình như các vụ việc được nêu tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 410/CTHA-QĐGQKN ngày 21/11/2013 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh, nêu tại Công văn số 186/TCTHADS-GQKNTC ngày 17/01/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự...
- Vi phạm về nội dung giải quyết khiếu nại tố cáo:
Một số đơn vị khi giải quyết nội dung khiếu nại, tố cáo đã xem xét, nhận định, đánh giá và áp dụng căn cứ pháp luật sai dẫn đến quyết định giải quyết sai pháp luật. Sau khi xem xét, cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đã hủy toàn bộ, sửa một phần hoặc yêu cầu thu hồi Quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 và chấp nhận toàn bộ hay một phần nội dung đương sự khiếu nại (đáng chú ý là có đến 126/466 quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận tố cáo chấp nhận khiếu nại của đương sự, trong có có phần không nhỏ cấp có thẩm quyền hủy, yêu cầu thu hồi, sửa đổi quyết định giải quyết lần đầu).
 Điển hình như các vụ việc được nêu tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 02/QĐ-CTHA ngày 12/11/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai, Quyết định giải quyết khiếu nại số 1830/CTHA-QĐGQKN ngày 11/4/2014 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh và các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế…
1.2.13 Việc tổng hợp, thống kê, báo cáo
Một số cơ quan Thi hành án dân sự đã lập bảng biểu thông kê thể hiện về số việc và số tiền chênh lệch với báo cáo tài chính thể hiện kết quả hoạt động thi hành án (có nơi số liệu này trong hai bảng biểu nêu trên đã chênh tăng đến 22.138 việc và 14.703,1 tỷ đồng). Thực tế này được Viện kiểm sát nhân dân các cấp phát hiện và đã chỉ ra nguyên nhân chính của việc chênh lệch số liệu thi hành án giữa báo cáo thống kê và báo cáo tài chính là do lỗi của phần mềm kế toán thi hành án; việc nhập số liệu không thống nhất; sự phối hợp giữa Chấp hành viên, kế toán nghiệp vụ và cán bộ thống kê chưa chặt chẽ. Đây là vấn đề cần có sự chỉ đạo khắc phục của Tổng cục Thi hành án dân sự và sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa Chấp hành viên, kế toán nghiệp vụ và cán bộ làm công tác thống kê thi hành án dân sự.
1.2.14 Việc tiếp công dân và tác phong, ứng xử đối với đương sự của công chức làm công tác thi hành án dân sự
Việc tiếp dân đã được quy định khá cụ thể tại Luật tiếp công dân và Quy chế giải quyết khiếu nại tố cáo của Tổng cục trưởng Tổng cục thi hành án dân sự. Tuy nhiên, một số nơi công tác tiếp dân vẫn chưa đạt yêu cầu. Kết quả kiểm tra của Tổng cục cho thấy vẫn còn tồn tại như chưa bố trí nơi tiếp công dân thuận tiện, chưa niêm yết lịch tiếp công dân, Thủ trưởng chưa trực tiếp tiếp công dân theo quy định, tiếp dân xong không chuyển văn thư vào Sổ để đóng dấu đơn đến, chưa phân công công chức thường trực tiếp công dân, chưa thực hiện đầy đủ chế độ hỗ trợ cho người tiếp công dân và người xử lý đơn thư, chưa có kỹ năng tiếp công dân, chưa thực sự coi trọng công tác tiếp công dân và hết lòng vì quyền lợi của công dân, cơ quan, nhà nước.
Cá biệt một số nơi cán bộ thi hành án có vi phạm trong phong cách ứng xử, phát ngôn không đúng chuẩn mực, gây phiền hà khi làm việc với công dân, thể hiện thái độ vô cảm với nhân dân, xa cách nhân dân, bị báo chí phản ánh (Kết luận tố cáo số 04/KL-CTHA ngày 24/9/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận; Kết luận tố cáo số 2134/KLTC-TCTHADS ngày 16/7/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự…).
2. Một số giải pháp khắc phục những sai phạm được phát hiện và tăng cường hiệu quả trong công tác thi hành án dân sự
Trong bối cảnh năm 2014, tình hình kinh tế trong nước vẫn chưa ổn định, môi trường sản xuất kinh doanh tiếp tục gặp những khó khăn dẫn đến thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội giảm sút, việc xử lý tài sản để thi hành án gặp khó khăn nhất định, tình trạng nợ đọng tài sản, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ dẫn đến khả năng phát sinh nhiều vụ kiện mới phức tạp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chỉ tiêu của ngành năm 2015. Mặt khác, trong quá trình tổ chức thực hiện chỉ tiêu thi hành án, cơ quan Thi hành án đòi hỏi vẫn phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.
Vì vậy, với kết quả tổng hợp một số sai sót, sai phạm của cơ quan Thi hành án dân sự được nêu ở trên phản ánh tình hình sai phạm ở các mức độ khác nhau nhưng khá phổ biến và có tính lặp lại, kể cả ở những đơn vị đã được kiểm tra, đã được chỉ rõ những sai phạm hoặc là thông qua quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận giải quyết tố cáo cụ thể, hoặc qua kết quả thanh tra, kiểm sát đối với vụ việc hoặc đối với đơn vị…Điều đó cho thấy, bên cạnh số lượng công việc quá nhiều, thủ tục thi hành án mà Chấp hành viên phải thực hiện rất lớn nên chậm hoặc cẩu thả, pháp luật còn chồng chéo và quá trình thực hiện phải vận dụng quá nhiều quy định của pháp luật liên quan và nhận thức còn hạn chế dẫn đến sai phạm, thì có phần trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án chưa chú trọng việc quán triệt tại đơn vị và trong ngành mình về những sai phạm tương tự cần tránh, chưa đề cao vai trò và chất lượng của công tác tự kiểm tra và kiểm tra, chưa xử lý nghiêm những sai phạm của công chức có biểu hiện của sự tùy tiện, thiếu trách nhiệm; phân công công chức làm công tác kiểm tra, thẩm tra chưa đáp ứng yêu cầu công việc hoặc thiếu kỹ năng, chậm được bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu của công việc. 
Để khắc phục những khó khăn, tồn tại nêu trên, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ trong năm tới, đòi hỏi phải có biện pháp đồng bộ, không chỉ là sự phối hợp chặt chẽ từ phía cơ quan có thẩm quyền khác, trong đó có cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát, thanh tra, kiểm tra các cấp vừa đảm bảo kiểm soát hoạt động thi hành án dân sự được chặt chẽ, kịp thời, vừa không làm ảnh hưởng đến đơn vị được thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm sát và cần có nhiều biện pháp đồng bộ khác, nhưng từ phía cơ quan thi hành án dân sự và hệ thống cơ quan Thi hành án dân sự phải chủ  động có biện pháp quyết liệt để hạn chế tình trạng trên.  
Về phía ngành Thi hành án dân sự cần nỗ lực thực hiện một số giải pháp như sau trong thời gian tới:
 Thứ nhất, các Cục trưởng cần phổ biến, quán triệt sâu rộng đến toàn thể Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án trên địa bàn về những sai phạm, sai sót đã được chỉ ra tại các quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo, kết luận thanh tra, kiến nghị, kháng nghị đối với công tác thi hành án ở địa phương, địa bàn mình, cũng như về những sai phạm thường gặp ở địa bàn khác đã được Tổng cục tổng hợp để các Chấp hành viên, công chức nắm được, tránh vi phạm tương tự lặp lại trên địa bàn. Nơi nào đã được chỉ ra sai phạm mà không khắc phục, còn lặp lại vi phạm hoặc vi phạm nặng hơn thì sẽ bị xem xét trách nhiệm một cách nghiêm túc.
Thứ hai, cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn hệ thống cơ quan thi hành án dân sự, đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức thi hành án; giáo dục ý thức trách nhiệm với dân. Đồng thời, phải xử lý nghiêm khắc những trường hợp nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân, vi phạm về đạo đức, lối sống và chuyên môn, nghiệp vụ (trong năm 2014, số lượng công chức bị xử lý tăng cao; báo chí phản ánh về sai phạm của cơ quan thi hành án nhiều hơn; bên cạnh những sai phạm về chuyên môn nghiệp vụ mà dẫn đến phải xử lý cán bộ thì nổi lên là những sai phạm liên quan đến tham nhũng, đạo đức nghề nghiệp làm xấu hình ảnh của Ngành).
Bên cạnh đó, cần tiếp tục kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, tuyển dụng đủ biên chế được giao, phối hợp làm tốt công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo; tiếp tục nghiên cứu, nhân rộng việc biệt phái cán bộ, Chấp hành viên đến những địa bàn có số lượng việc lớn, phức tạp nhằm giảm áp lực cho Chấp hành viên trong thực hiện nhiệm vụ.
Thứ ba, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự cần tăng cường kỹ năng quản lý, chỉ đạo, điều hành (áp dụng vào thực tiễn các kỹ năng quản lý đã được Tổng cục tổ chức tập huấn trong năm 2014); thực sự gương mẫu cho cấp dưới noi theo, nắm rõ công việc của cấp dưới, coi trọng việc củng cố và chấn chỉnh từng khâu công tác tại đơn vị và trên địa bàn để đưa công tác thi hành án ở địa bàn, tại đơn vị bài bản, nề nếp; tăng cường vai trò lãnh đạo của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự, đảm bảo các chỉ đạo của cấp trên phải thông suốt xuống cấp dưới, đến tận Chi cục để thực hiện nghiêm; đề cao trách nhiệm và làm rõ trách nhiệm chính, trách nhiệm liên đới của lãnh đạo đơn vị trong công tác kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ trong đơn vị, địa bàn mình phụ trách, quản lý.
Thứ tư, mỗi Lãnh đạo, Chấp hành viên, công chức của Ngành cần tập trung vào công việc ngay từ đầu năm, không để những tháng cuối năm phải chạy nước rút; phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhất là chỉ tiêu thi hành án xong về việc, về tiền, đảm bảo phân loại án, thống kê thi hành án một cách chính xác, thực chất; chú trọng nỗ lực, tránh gian dối, sử dụng kỹ xảo nhằm đạt thành tích; quan tâm những địa bàn, địa phương có lượng án phải thi hành lớn, phức tạp, những vụ việc xử lý nợ xấu của Ngân hàng theo Nghị quyết của Chính phủ; thực hiện tốt công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự, trong đó tập trung giải quyết những vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài.
Thứ năm, cần phải tăng cường vai trò của hoạt động tự kiểm tra và kiểm tra; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới (Tổng cục đối với Cục Thi hành án dân sự; Cục Thi hành án dân sự đối với Chi cục; Lãnh đạo đối với người chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành án).
Điều này đặt ra do yêu cầu của thực tiễn của Ngành thời gian vừa qua, chất lượng của công tác kiểm tra nội bộ của ngành còn chưa cao; chưa phát hiện được những vi phạm mang tính phổ biến, những sai phạm nghiêm trọng của cán bộ ngành. Bên cạnh lý do thời gian kiểm tra quá eo hẹp mà nội dung kiểm tra quá lớn, kỹ năng kiểm tra còn hạn chế thì còn có biểu hiện nể nang, thiếu kiên quyết trong việc chỉ ra những vi phạm, sai phạm của đối tượng bị kiểm tra. Một số vi phạm, sai phạm chưa được kiểm điểm, xem xét trách nhiệm cá nhân để có biện pháp xử lý thích hợp. Cơ bản những vi phạm, sai phạm dẫn đến bị xử lý kỷ luật hình thức nặng hoặc xem xét trách nhiệm hình sự phần lớn là do Viện kiểm sát các cấp, Thanh tra, kết quả giám sát của Quốc hội, cơ quan liên quan phát hiện, đề nghị xử lý đối với cán bộ của Ngành.
Việc kiểm tra định kỳ phải chủ động, có kế hoạch cụ thể, khả thi từ đầu năm, xác định rõ số lượng đơn vị được kiểm tra, phạm vi kiểm tra, nội dung kiểm tra, thời gian kiểm tra, đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp và do Lãnh đạo đơn vị làm Trưởng đoàn kiểm tra. Khi thay đổi kế hoạch thì phải kịp thời điều chỉnh, cần thiết thì kiểm tra đột xuất (đối với địa bàn yếu kém, có biểu hiện sai phạm, có số lượng án lớn…). Kết thúc kiểm tra phải ban hành Kết luận kiểm tra theo mẫu do Tổng cục quy định (hiện Tổng cục đang xây dựng Quy trình kiểm tra công tác thi hành án dân sự; sau khi được ban hành, yêu cầu các cơ quan Thi hành án thực hiện nghiêm). Kết luận kiểm tra phải làm rõ được cụ thể, rõ ràng những ưu, nhược điểm trong từng mặt công tác thi hành án ở đơn vị được kiểm tra, nhằm kịp thời chấn chỉnh, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, kiến nghị chấn chỉnh những tồn tại, yếu kém, xử lý công khai, nghiêm minh những cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, vi phạm nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương, tăng cường hiệu quả trong công tác thi hành án dân sự.
Thứ sáu, tiếp tục cải tiến công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ theo hướng sâu sát, cụ thể đối với những vấn đề được xin ý kiến; kịp thời nghiên cứu, tổng hợp để hướng dẫn chung những vướng mắc về nghiệp vụ thường gặp ở từng khâu tổ chức thi hành án; kiên quyết khắc phục các trường hợp chậm trả lời cấp dưới hoặc cấp dưới chấp hành không nghiêm ý kiến chỉ đạo của cấp trên; kịp thời báo cáo về những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, nhất là tại cơ sở để cấp trên nắm được, có biện pháp chỉ đạo giải quyết hiệu quả, kịp thời.
Tiếp tục quan tâm công tác tập huấn nâng cao kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức của ngành, đảm bảo công chức mới, công chức mới nhận nhiệm vụ mới phải được tập huấn nghiệp vụ được giao.
Tổng cục Thi hành án dân sự cần mở lớp tập huấn kỹ năng cho Thẩm tra viên (là công chức chuyên môn nghiệp vụ nhưng đến nay chưa được trải qua đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn) để nâng cao chất lượng của công tác tiếp công dân, công tác thẩm tra, rà soát hồ sơ thi hành án, kiểm tra công tác thi hành án và công tác tham mưu giải quyết khiếu nại tố cáo. Bên cạnh đó, cần bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên bổ nhiệm lâu năm. Tại các lớp tập huấn, cần chú ý cải tiến nội dung, phương pháp tập huấn (ví dụ: báo cáo viên tổng hợp, đưa ra hướng giải quyết những vấn đề chung phát sinh từ thực tiễn, công chức dự tập huấn trực tiếp xử lý các tình huống thực tiễn cụ thể do báo cáo viên đưa ra để mang tính thiết thực hơn cho cán bộ của ngành…).
Các Cục Thi hành án dân sự cần chủ động hơn nữa trong việc tập huấn, tập huấn lại, nhất là cho những công chức chưa được triệu tập tập huấn, bồi dưỡng, công chức mới nhận nhiệm vụ. Khi tổ chức tập huấn, ngoài việc tổng hợp, giải quyết sâu sát khó khăn vướng mắc trên địa bàn thì có thể dựa trên những tài liệu tập huấn, bồi dưỡng Tổng cục đã biên soạn. Nếu có khó khăn trong khâu chuẩn bị tài liệu, báo cáo viên thì có thể đề nghị Tổng cục hỗ trợ để nâng cao chất lượng tập huấn trên địa bàn.
Các Chấp hành viên phải đầu tư thời gian nghiên cứu văn bản (không chỉ văn bản pháp luật về thi hành án dân sự mà còn phải chú ý nghiên cứu, cập nhật các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, đặc biệt là những lĩnh vực thường xuyên va chạm như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành). Đồng thời, Chấp hành viên cần thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở, hướng dẫn, yêu cầu các công chức giúp việc cho mình (như chuyên viên, thư ký thi hành án…) thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình giúp việc cho Chấp hành viên, đảm bảo quá trình tổ chức thi hành án tuân thủ pháp luật; hồ sơ thi hành án phản ánh đúng, chặt chẽ quá trình tổ chức thi hành án.
Mặt khác, nhằm nâng cao chất lượng cán bộ công chức thi hành án, cần thiết phải nghiên cứu chế độ sát hạch nghề định kỳ để kiểm tra, đánh giá chất lượng công chức đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ.
Thứ bảy, cần phát huy tốt hơn nữa công tác phối hợp và tranh thủ sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác thi hành án dân sự. Tham mưu để cấp ủy ban hành Nghị quyết đưa công tác thi hành án dân sự thành nhiệm vụ chính trị của địa phương, có sự tham gia thiết thực của các tổ chức đoàn thể tại địa bàn. Kinh nghiệm cho thấy, nơi nào có sự vào cuộc thực sự của cấp ủy, chính quyền địa phương thì nơi đó, hoạt động thi hành án dân sự được quan tâm, hiệu quả và được kiểm soát tốt hơn.
Hoạt động thi hành án là đối tượng kiểm tra, thanh tra, giám sát của nhiều cơ quan, tuy nhiên, trong đó hữu hiệu nhất là công tác kiểm sát trực tiếp của ngành kiểm sát. Vì vậy, các cơ quan Thi hành án dân sự cần chủ động trong việc tổ chức thực hiện kết luận thanh tra, phối hợp tốt với cơ quan kiểm sát thi hành án, kể cả  trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong nghiệp vụ thi hành án, giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo của đương sự cũng như thực hiện, trả lời các kiến nghị, kháng nghị của Viện Kiểm sát đối với cơ quan thi hành án dân sự.
Bên cạnh đó, cần chú ý phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm sát các cấp trong việc tham gia kiểm sát trực tiếp, kịp thời, thường xuyên quá trình tổ chức thi hành án của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương.
Đối với những trường hợp án tuyên không rõ (dẫn đến nhận thức về nội dung án tuyên không thống nhất, tổ chức thi hành án có khó khăn) thì cần thận trọng, kịp thời có công văn hoặc hướng dẫn đương sự yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải thích để thi hành. Đối với những trường hợp phát hiện rõ ràng án tuyên không khả thi, có sai phạm thì cần chủ động kiến nghị người có thẩm quyền xem xét lại bản án. Đối với những vụ việc thi hành án phức tạp, có nhiều vướng mắc cần tranh thủ sự phối hợp của các Ngành hữu quan và báo cáo kịp thời Ban chỉ đạo Thi hành án để có chỉ đạo hướng giải quyết.
 Thứ tám, cần tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Ngoài việc coi công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật là công việc cần được tiến hành thường xuyên thông qua công việc hàng ngày (như thông qua công tác tiếp công dân, vận động giáo dục tự nguyện thi hành án, khuyến khích thỏa thuận thi hành án, tiến hành hoạt động thi hành án…) thì cần phối hợp với cơ quan có thẩm quyền ở địa phương có những hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật phù hợp với địa phương (như thiết kế tờ bướm, băng rôn, tham gia trả lời bạn xem truyền hình, bạn nghe đài…) nhằm nâng cao ý thức pháp luật nói chung, pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng cho cán bộ, nhân dân; tăng cường vận động, thuyết phục công dân chấp hành pháp luật và thực hiện các quyết định giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Công việc này đòi hỏi tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương đều phải chú trọng thực hiện.
Thứ chín, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật
Đây là công việc có tính chất lâu dài nhằm xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp. Trong đó chú trọng việc ban hành các quy chế, quy định cụ thể về trình tự thủ tục thực hiện các công việc với dân, tạo sự đồng bộ, nâng cao tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật; chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, tài chính, ngân sách, chính sách xã hội; thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để công dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước và thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ công dân, đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng nhằm tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, hài hòa, tạo động lực mới trong phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thi hành án dân sự.
Tổng cục cần tập trung đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xây dựng đề án, văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự, nhất là trong bối cảnh Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự vừa được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2014 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2015, nhiều văn bản về tổ chức và về pháp luật nội dung, pháp luật hình thức cũng được ban hành với khá nhiều điểm mới. Những nội dung mới cần được rà soát, định hướng nội dung, hướng dẫn kịp thời để đảm bảo khi Luật sửa đổi sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành từ 01/7/2015 thì các văn bản hướng dẫn thi hành cũng cần được đồng thời ban hành để có thể áp dụng ngay, tránh tình trạng Thông tư chờ Nghị định.
Đồng thời, với chủ trương thí điểm và mở rộng hoạt động của Thừa phát lại tại 13 địa phương trong cả nước trong thời gian qua, các cơ quan thi hành án dân sự cần có ý thức, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này được triển khai hiệu quả tại địa phương mình và trong phạm vi toàn quốc, nỗ lực hơn nữa để cùng với hoạt động của Thừa phát lại phục vụ tốt hơn yêu cầu của xã hội, của nhân dân trong hoạt động tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan có thẩm quyền./.
 
Nguồn: TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu chung về Bắc Ninh

1. Vị trí địa lý Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Công ty CP đấu giá Kinh Bắc
Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP