00:01 EDT Chủ nhật, 22/09/2019

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 46


Hôm nayHôm nay : 3582

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 157054

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11204188

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN » Báo cáo - Thống kê

Báo cáo Sơ kết 02 năm thi hành LTHADS 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Thứ ba - 01/05/2012 22:40
Báo cáo Sơ kết 02 năm thi hành LTHADS 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Báo cáo Sơ kết 02 năm thi hành LTHADS 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Thực hiện Công văn số 3882/TCTHADS-VP ngày 02 tháng 11 năm 2011 của Tổng cục thi hành án về việc sơ kết 02 năm Luật thi hành án dân sự 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo các Chi cục trực thuộc tổ chức sơ kết và sơ kết toàn Ngành và báo cáo như sau:





TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỈNH BẮC NINH
 
Số:             /BC-CTHADS
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc
 
Bắc Ninh, ngày  14  tháng 11  năm 2011
 
     BÁO CÁO
Sơ kết 02 năm thi hành LTHADS
2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành
         
Thực hiện Công văn số 3882/TCTHADS-VP ngày 02 tháng 11 năm 2011 của Tổng cục thi hành án về việc sơ kết 02 năm Luật thi hành án dân sự 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo các Chi cục trực thuộc tổ chức sơ kết và sơ kết toàn Ngành và báo cáo như sau:
I.TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ THI HÀNH
1. Về quán triệt, tuyên truyền pháp luật về thi hành án dân sự và công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ
- Ngay sau khi Luật thi  hành án dân sự 2008 có hiệu lực thi hành cục thi hành án dân sự tỉnh đã thực hiện và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc học tập, quán triệt nội dung của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; so sánh, đánh giá các quy định của Luật so với Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn, tạo ra nhận thức đúng đắn, đủ nội dung, tinh thần các quy định để áp dụng được đúng đắn, có hiệu quả trong thực tiễn;
- Tuyên truyền các quy định của Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành tới người dân mà trước hết là người được thi hành án, người phải thi hành án, các đối tượng có liên quan. Đồng thời phối hợp với cơ quan tư pháp tỉnh và huyện, các Đài phát thanh, Đài truyền hình tỉnh để tuyên truyền các quy đinh, nội dung mới của các văn bản này tới các cơ quan chức năng, tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế.v.v.v. cũng như đông đảo người dân trên địa bàn tỉnh;
- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án dân sự đối với đội ngũ cán bộ, công chức Ngành thi hành án cũng như các đối tượng có mối quan hệ  phối hợp thường xuyên với cơ quan thi hành án. Cục thi hành án dân sự tỉnh đã mở 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án và kế toán nghiệp vụ đối với Chấp hành viên, cán bộ và Kế toán nghiệp vụ thi hành án; giúp đôi ngũ cán bộ công chức của Ngành có được nhận thức đúng đắn cũng như kỹ năng thực hiện các thủ tục thi hành án hiệu quẩ nhất.
Tháng 11 năm 2010 Cục Thi hành án dân sự phối hợp với Sở Nội vụ tỉnh mở lớp bồi dưỡng Luật thi hành án và các văn bản hướng dẫn thi hành đối với Lãnh đạo và cán bộ tư pháp 126 xã, phường, thị trấn trong tỉnh. Qua đó tuyển truyền các quy định về thi hành án dấn sự tới các chính quyền và cán bộ cấp sở, tăng cường trách nhiệm phối hợp với cơ quan Thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác này. Từ đầu năm 2011, Cục Thi hành án cũng đã phối hợp với sở khoa học công nghệ tỉnh tổ chức hội thảo khoa học về nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh. Cuộc Hội thảo đã và đang thu hút được sự tham gia của đông đảo cán bộ, Chấp hành viên, các Chi cục trực thuộc cũng như của các cơ quan chức năng, tổ chúc đoàn thể liên quan trong tỉnh; một số cơ quan Thi hành án dân sự ngoài tỉnh, tạo nên không khí học tập nghiên cứu sôi nổi, hướng tới mục tiêu nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh
2. Về kiện toàn, củng cố tổ chức, bộ máy biên chế và mối quan hệ phối hợp trong công tác thi hành án dân sự.
2.1 Kiện toàn, củng cố tổ chức, bộ máy  và biên chế
Sau khi Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành, Nghị định số 74 của Chính phủ, Cục Thi hành án dân sự tỉnh và 8 Chi cục Thi hành án dân sự huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đã được thành lập. Cùng với đó, các chức danh Lãnh đạo đã được bổ nhiệm mới. Hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh đã thành lập 03 phòng chuyên môn: Phòng nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự; Phòng kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo và Văn phòng. Các phòng và các Chi cục đều về cơ cấu chức danh Lãnh đạo và chuyên môn
          Số chỉ tiêu được giao của Ngành thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh là 101 biên chế, hiện đã có 98 biên chế, còn thiếu 03 biên chế do biến động xin chuyển ngành
Đã thực hiện việc chuyển đổi Chấp hành viên cấp tỉnh và cấp huyện sang ngạch Chấp hành viên sơ cấp, trung cấp và cao cấp theo quy định.
Bổ nhiệm 23 chuyên viên vào Ngạch thư ký thi hành án dân sự
Đang thực hiện thủ tục trình bổ nhiệm 06 Thư ký vào ngạch Thẩm tra viên
Đánh giá: về cơ bản, bộ máy tổ chức và biên chế của Ngành thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh đã được kiện toàn, đảm bảo đủ biên chế, các chức danh và cơ cấu cán bộ công chức theo quy định, góp phần nâng cao vị thế cơ quan Thi hành án dân sự cũng như đảm bảo hoạt động của cơ quan Thi hành án được thuận lợi , đem lại hiệu quả cao hơn.
2.2 Về quan hệ phối hợp trong công tác thi hành án dân sự
          - Công tác thi hành hành án dân sự có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức trong qua trình thực hiện các quy định, thủ tục thi hành án dân sự. Trong những năm qua, đặc biệt là từ khi Luật thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành, trên cơ sở hành lang pháp lý, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ công tác của Ngành, Cục thi hành án thi hành án dân sự đã thực hiện và chỉ đạo các đơn vị thực thuộc chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan để giải quyết các vụ việc cụ thể cũng như tạo ra mối quan hệ phối hợp ổn định, lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự của địa phương. Nhờ sự chủ động, tích cực đó mà các cơ quan thi hành án dân sự của tỉnh Bắc Ninh đã nhận được sự đồng thuận, quan tâm phối hợp tích cực của các cấp Ủy đảng, các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị và các cơ quan chuyên môn cũng như chính quyền các cấp và đây trở thành một điều kiện thuận lợi để các cơ quan thi hành án hoàn thành nhiệm vụ ngày một nặng nề, khó khăn hơn.
          - Công tác phối hợp với các cơ quan chức năng trực tiếp liên quan đến công tác thi hành án dân sự.
           Căn cứ quy định Luật về công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, năm 2011 Ngành Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh cùng với Ngành Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân tỉnh xây dựng Quy chế phối hợp hoạt động, trong đó xác định rõ vị trí, vai trò cảu từng Ngành cũng như trình tự, thủ tục phối hợp một cách cụ thể. Đây là cơ sở để các cơ quan thi hành án dân sự duy trì quan hệ phối hợp với các cơ quan ổn định, thường xuyên, đem lại hiệu quả cao.
           Sự phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh và huyện cũng diễn ra nhịp nhàng, thường xuyên theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu công tác. Việc chuyển giao bản án, quyết định được tiến hành kịp thời đầy đủ theo quy định. Các bản án Tòa án tuyên không rõ hoặc có sai sót cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu giải thích hoặc đề nghị giải quyết theo thẩm quyền đều được Tòa án trả lời và giải quyết đầy đủ, kịp thời. Hoạt động này góp phần nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án cũng như tạo điều kiện dể các cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành được thuận lợi, đúng pháp luật.
           Cơ quan tài nguyên và môi trường và cơ quan tài chính các cấp có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan thi hành án xuất phát từ chức từ yêu cầu của hoạt động thi hành án trong các vụ việc liên quan đến đất đai, tài sản .v.v.v cần có sự tham gia về mặt chuyên môn của các cơ quan này. Tất cả các vụ việc kê biên, cưỡng chế quyền sử dụng đất đều có sự tham gia của cơ quan tài nguyên môi trường. Ngoài ra cơ quan tài nguyên còn cung cấp các thông tin về quyền quản lý, sử dụng đất đai của người phải thi hành án, các đối tượng có liên quan; cơ quan tài chính cũng thường xuyên tham gia tiêu hủy tang vật, xác định giá trị tài sản cùng cơ quan thi hành án. Sự phối hợp giữa cơ quan thi hành án và hai cơ quan này trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh rất tốt, đảm bảo đúng yêu cầu, thủ tục quy định.
           Trong những năm qua, cơ quan thi hành án đã phối hợp tốt với Sở Nội vụ và cơ quan Nội vụ cấp huyện thực hiện việc thuyên chuyển, điều động và đào tạo cán bộ công chức cũng như tuyên truyền, giáo dục pháp luật tới cán bộ và nhân dân trong tỉnh.
Các tổ chức đoàn thể, nhất là ở cơ sở tham gia tích cực vào việc quyết các vụ việc cụ thể, giải thích, vận động các đối tượng tự nguyện thi hành án. Đồng thời tham gia tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về thi hành án tới các đối tượng khác nhau; Mặt trận tổ quốc tỉnh tham gia đóng góp ý kiến tích cực vào Hội thảo khoa học về nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự của Ngành thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh năm 2011.
          - Do có các quy định cụ thể của Luật và sự chỉ đạo, quản lý của các cấp Ủy đảng, chính quyền các cấp, sự chủ động tích cực của cơ quan thi hành án, trong những năm qua sự phối hợp của các cơ quan Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng, các tổ chức tín dụng, cơ quan bảo hiểm xã hội với các cơ quan thi hành án rất thuận lợi. Các cơ quan này quản lý tiền, tài sản của người phải thi hành án hoặc các đối tượng có liên quan và luôn cung cấp thông tin cũng như thực hiện các thủ tục khấu trừ tài khoản, thu nhập của các đối tượng theo đề nghị của cơ quan thi hành án.
           2.3 Tình hình, kết quả hoạt động của Ban chỉ đạo THADS
- Ban chỉ đạo thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh được thành lập từ tháng tháng 5 năm 2010 theo Quyết định số 543/QĐ-UBND ngày 10/5/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Thành phần Ban chỉ đạo gồm có: Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng Ban; đại diện Cục thi hành án dân sự tỉnh làm Phó trưởng Ban; đại diện công an tỉnh - Ủy viên; đại diện Sở Tư pháp - Ủy viên; đại diện Sở tài chính - Ủy viên; đại diện Sở tài nguyên và môi trường - Ủy viên; đại diện Ủy ban  MTTQ tỉnh - ủy viên; đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh - Ủy viên; đại diện Tòa án nhân dân tỉnh - Ủy viên.
- Đối với cấp huyện, 8/8 đơn vị đã thành lập Ban chỉ đạo thi hành án dân sự theo nghị định 74. Ban chỉ đạo thi hành án dân sự huyện Thuận Thành được kiện toàn cùng với việc điều chuyển, sắp xếp lãnh đạo của Chi cục.
Thành phần các Ban chỉ đạo thi hành án dân sự tại các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đều do đồng chí Chủ tịch UBND cấp huyện làm trưởng Ban, đồng chí Chi cục trưởng Chi cục thi hành án dân sự làm Phó trưởng Ban và các thành phần khác làm ủy viên là đại diện Cơ quan công an, đại diện phòng Tư pháp, đại diện Phòng tài nguyên và môi trường; Phòng tài chính; đại diện Ủy ban MTTQ, Viện kiểm sát nhân dân và đại diện Tòa án nhân dân huyện.
Ngay sau khi được thành lập, các Ban chỉ đạo thi hành án dân sự đã đi vào hoạt động, kịp thời phối hợp để giải quyết các vụ việc khó khăn, phức tạp, góp phần đạt hiệu quả công tác thi hành án dân sự và đảm bảo nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Về Quy chế hoạt động, sau khi được thành lập, các Ban chỉ đạo thi hành án dân sự vẫn hoạt động theo Quy chế hoạt động cũ. Đồng thời Cục thi hành án và các Chi cục Thi hành án đã chủ động phối hợp với các thành viên Ban chỉ đạo để xây dựng dự thảo Quy chế hoạt động của ban chỉ đạo thi hành án dân sự. Tuy nhiên do chưa có quy định chung thống nhất Quy chế mẫu của Ngành nên Quy chế hoạt động chính thức của các Ban chỉ đạo thi hành án dân sự trong tỉnh chưa được ban hành.
3. Về kết quả một số mặt công tác chuyên môn, nghiệp vụ
3.1. Kết quả thi hành án (từ 01/10/2009 đến 30/9/2011)
Tổng số thụ lý: 7.239 việc =           314.115.570.000 đồng (       Có điều kiện: 5.985 việc =    129.583.433.000 đồng;    Chưa có điều kiện: 1.381 việc= 181.262.675.000 đồng;     ủy thác: 164 việc =  3.269.462.000 đồng )
Số thi hành và giải quyết xong: 5.805 việc =    245.873.243.000 đồng ( Xong hoàn toàn: 5.197 việc =     107.418.622.000 đồng; Đình chỉ: 267 việc    =        16.623.834.000 đồng;Ủy thác: 164 việc = 3.269.462.000 đồng ; Trả đơn:               177 việc   =    117.601.514.000 đồng)
Số còn phải thi hành: 1.434 việc =  68.242.32.000 đồng ( Hoãn: 1.032 việc =  28.603.785.000 đồng; Tạm đình chỉ: 1 việc = 5.864.000 đồng; Lý do khác: 124 việc = 35.051.012.000 đồng; DD+THĐ+CTH:  277 việc = 4.581.166.000 đồng)
3.2 Công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ
Đối với những vụ việc phức tạp, vướng mắc các đơn vị cấp huyện xin ý kiến chỉ đạo đều được hướng dẫn, chỉ đạo tháo gỡ kịp thời. Những văn bản chỉ đạo và hướng dẫn về nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, của Tổng cục thi hành án dân sự đều được triển khai hướng dẫn thực hiện nghiêm túc.
3.3 Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo
- Cục thi hành án luôn quán triệt và chỉ đạo các đơn vị và Chấp hành viên, cán bộ thi hành án nâng cao ý thức trách nhiệm, tôn trọng và đảm bảo đầy đủ quyền lợi của công dân  theo pháp luật, thực hành tốt chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên; kết hợp giữa việc tuân thủ đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án với giáo dục thuyết phục. Chính vì vậy không để xảy ra tình trạng bức xúc, đơn thư khiếu nại, tố cáo nhiều. Các trường hợp có đơn thư khiếu nại đều được nghiên cứu, xác minh và giải quyết đầy đủ, triệt để theo đúng quy định của pháp luật
- Công tác tiếp công dân: Cục thi hành án dân sự tỉnh cũng như các Chi cục đều có lịch phân công lãnh đạo và cán bộ trực tiếp dân tại trụ sở để tiếp thu và giải quyết những yêu cầu, thắc mắc của người dân. Những trường hợp thuộc thẩm quyền sẽ được thụ lý giải quyết theo quy định; những trường hợp không thuộc thẩm quyền được giới thiệu, hướng dẫn tận tình để người dân phản ánh với cơ quan có thẩm quyền đúng theo quy định...
So với những năm trước số việc khiếu nại tố cáo có xu hướng giảm, đồng thời số việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài không nhiều. Các quy định về khiếu nại tố cáo tạo điều kiện để các cơ quan Thi hành án giải quyết được nhanh chóng, không để xảy ra tình trạng vượt cấp, kéo dài.
3.4. Công tác thực hiện kiểm sát thi hành án
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và huyện có mối liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với các cơ quan Thi hành án dân sự. Hàng tháng, Viện kiểm sát đều cập nhật số liệu, kết quả thi hành án và tiến hành kiểm sát hoạt động thi hành án theo định kỳ một năm 2 lần. Đối với các vụ việc cụ thể cơ quan Thi hành án đều đề nghị Viện kiểm sát tham gia theo luật định như các vụ việc cưỡng chế, tiêu hủy vật chứng.v.v.v.
3.5 Công tác thực hiện giám sát thi hành án
Tõ khi cã LuËt thi hµnh ¸n d©n sù 2008, c¸c c¬ quan Thi hµnh ¸n d©n sù lu«n ®­îc mêi dù häp cña H§ND tØnh, huyªn vµ b¸o c¸o còng nh­ tr¶ lêi chÊt vÊn khi cã yªu cÇu.
4. Về các điều kiện đảm bảo khác
4.1. ứng dụng CNTT vào công tác kế toán hành chính sự nghiệp, kế toán nghiệp vụ thi hành án:
Việc ứng dụng CNTT trong công tác kế toán có ý nghĩa quan trọng, giải phóng phương pháp làm thủ công. Phương pháp áp dụng phần mềm công nghệ thông tin trong giai đoạn hiện nay rất phù hợp, hiệu quả, góp phần thực hiện chế độ thông tin báo cáo tài chính nhanh chóng, chính xác, kịp thời, tiết kiệm thời gian trong công tác kế toán. Trong từng giai đoạn sử dụng phần mềm đã được Bộ Tư pháp quan tâm nâng cấp kịp thời khi có sự thay đổi về chế độ, mẫu biểu báo cáo của Bộ Tài chính. Toàn tỉnh 09/09 đơn vị trong suốt thời gian sử dụng phần mềm kế toán hành chính sự nghiệp và phần mềm kế toán nghiệp vụ thi hành án của 2 nhà cung cấp chưa có sự cố gì xảy ra, đáp ứng được nhiệm vụ chuyên môn của ngành.
4.2. Về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và bố trí kinh phí cho hoạt động thi hành án dân sự:
- Về xây dựng trụ sở và kho vật chứng: 100% các cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh đã được Bộ Tư pháp đầu tư xây dựng trụ sở làm việc trong thời gian từ 1998, đơn vị sớm gần đây là năm 2008. Toàn tỉnh có 5/9 đơn vị đã được đầu tư xây dựng kho bảo quản vật chứng. Các trụ sở đều được xây dựng sớm theo thiết kế mẫu của Bộ, nên có nhiều hạn chế, không đủ phòng làm việc và bất cập khi sử dụng, không có hội trường phòng họp và phòng tiếp công dân, chất lượng đầu tư chưa cao, cấu trúc chưa hợp lý nên qua thời gian sử dụng nảy sinh bất cập và nhanh bị hư hỏng nên thường phải sử dụng một phần kinh phí hành chính vào sửa chữa nhỏ. Do vậy rất cần được sửa chữa, nâng cấp và mở rộng thêm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và biên chế hiện tại.
- Về phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác: Các trang thiết bị thiết yếu như máy vi tính, máy phô tô, bàn ghế làm việc, tủ hồ sơ đã được trang cấp đầy đủ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn. Cục Thi hành án tỉnh đã được trang bị thêm 01 xe ô tô bán tải phục vụ nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị. Tuy  nhiên để đáp ứng phục vụ cho nhiệm vụ chuyên môn trong giai đoạn này đề nghị Tổng cục thi hành án quan tâm cấp mới, thay thế máy photocopy, máy vi tính đối với các đơn vị cấp huyện nhằm đáp ứng phục vụ tốt nhiệm vụ chuyên môn trong giai đoạn hiện nay.
- Về bố trí kinh phí: Trong 2 năm 2010, 2011 Bộ Tư pháp cấp kinh phí theo định mức quy định tương đối đảm bảo cho hoạt động của đơn vị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn. Song tính đến năm 2012 nếu định mức kinh phí vẫn cấp như năm 2011 sẽ không đảm bảo vì giá cả các hàng hóa phục vụ cho hoạt động chuyên môn đã tăng tương đối cao. Chênh lệch định mức chi thường xuyên giữa Cục thi hành án tỉnh với Chi cục thi hành án cấp huyện thấp, dẫn đến hoạt động chi tiêu của Cục thi hành án tỉnh còn nhiều bất cập. Đề nghị Tổng cục thi hành án xem xét, nghiên cứu để nâng định mức chi thường xuyên của cấp tỉnh cho phù hợp.
8. Đánh giá tác động tích cực và hiệu quả của Luật Thi hành án dân sự qua hai năm thực hiện.
- Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dân thi hành đã tạo ra hành lang pháp lý ngày càn đồng bộ, hoàn chỉnh làm chuyển biến công tác thi hành án dân sự theo chiều hướng ngày càng tích cực, đồng thời có tác động lớn tới đời sống kinh tế - xã hội đât nước.
a. Điểm nổi bật đầu tiên của Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn là đã xác định được mô hình tổ chức của hệ thống thi hành án dân sự. Theo đó ở trung ương Tổng cục thi hành án dân sự là cơ quan giúp Bộ tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trên phạm vi cả nước. Ở cấp tỉnh là các Cục, Chi cục thi hành án dân sự (trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự) giúp UBND cấp tỉnh, cấp huyện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, đồng thời trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định có hiệu lực thi hành.
Sự độc lập của hệ thống Thi hành án đã khẳng định vị thế mới của Ngành Thi hành án dân sự; khẳng định vai trò quan trọng của công tác thi hành án dân sự trong đời sống kinh tế - xã hội. Cục thi hành án dân sự tỉnh và 8 Chi cục thi hành án dân sự cấp huyện được thành lập đã nhanh chóng khẳng định được vị trí vai trò của mình. Giúp cho hoạt động chuyên môn nghiệp vbuj cũng như quản lý điều hành của các đơn vị linh hoạt và hiệu quả hơn. Đồng thời việc khẳng định các cơ quan thi hành án là một đầu mối của UBND tỉnh và huyện cũng như được sự quản lý trực tiếp của Tỉnh ủy, huyện ủy tạo điều kiện để hoạt động của cơ quan thi hành án gắn bó chặt chẽ với các cơ quan, ban Ngành, tổ chức đoàn thể của địa phương; tranh thủ được sự quan tâm, chỉ đạo và giám sát hoạt động một cách cụ thể và đầy đủ hơn.
b. Một điểm mới có ý nghĩa quan trọng đã và đang trở thành động lực khuyến khích, động viên cán bộ công chức trong ngành hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ ngày càng nặng nề, vất vả đó là các quy định tiêu chuẩn hóa cán bộ công chức, theo đó là chính sách, chế độ phù hợp hơn. Lần đầu tiên Luật và các văn bản hướng dẫn đã xây dựng một cơ cấu cán bộ, công chức hoàn chỉnh của cơ quan Thi hành án dân sự: Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án.v.v.v. và được phân ngạch cụ thể: Chấp hành viên sơ cấp, trung và cao cấp với những tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể được phân bổ hợp lý với các cơ quan Thi  hành án dân sự khác nhau. Chấp hành viên được bổ nhiệm trên cơ sở thi tuyển. Các quy định tiêu chuẩn hóa trên là sự nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí vai trò của người cán bộ làm công tác thi hành án dân sự, nâng cao yêu cầu, chất lượng đội ngũ này, đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện, cũng như động viên để họ hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn được tốt hơn.
c. Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác thi hành án dân sự. Điều 4, Luật thi hành án dân sự quy định “bản án, quyết định dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dan sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của trọng tài thương mại” phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án. Đó là trách nhiệm quản lý, chỉ đạo của UBND các cấp; là trách nhiệm của các cơ quan phối hợp: Công an, Tòa án, viện kiểm sát nhân dân Luật quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn theo chức năng của mỗi Ngành. Đặc biệt Luật khắc phục được những hạn chế, tồn tại của Pháp lệnh thi hành án dân sự về trách nhiệm của các cơ quan liên quan trực tiếp đến tổ chức thi hành án bằng các quy định cụ thể vai trò, trách nhiệm của các cơ quan Bảo hiểm xã hội, kho bạc nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng; trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong thi hành án dân sự; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự.
Các quy định trên đây, thực tế đã phát huy tác dụng tích cực, tạo ra sự gắn kết giữa cơ quan Thi hành án và các cơ quan, ban Ngành các cấp và cả hệ thống chính trị, tạo ra sự động thuận xã hội đối với công tác thi hành án dân sự. Mặt khác, giúp Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự trong liên hệ, phối hợp công tác được nhanh chóng thuận lợi, nâng cao hơn hiệu quả công tác của đơn vị , của Ngành.
d. Một trong những điểm mới có ý nghĩa quan trọng, phát huy hiệu quả tích cực trong thực tiễn của Luật thi hành án dân sự 2008 là các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 còn kế thừa những quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự. Theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, những quy định về quyền khiếu nại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại và thời hạn giải quyết khiếu nại, quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tố cáo về thi hành án đều được Luật Thi hành án dân sự năm 2008 kế thừa. Tuy nhiên, Luật còn quy định một cách cụ thể hơn, đầy đủ hơn, đồng thời, có những quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự được quy định một cách chặt chẽ hơn, hợp lý hơn so với Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004. Lần đầu tiên, pháp luật về thi hành án dân sự có những quy định về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại và người có thầm quyền giải quyết khiếu nại, đảm bảo cho người khiếu nại được thực hiện quyền khiếu nại một cách có hiệu quả, Luật Thi hành án dân sự quy định: người khiếu nại có các quyền tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại; được nhờ luật sư giúp đở về mặt pháp luật trong quá trình khiếu nại; được nhận quyết định giải quyết khiếu nại; được biết các bằng chứng để làm căn cứ giải quyết khiếu nại; đưa ra bằng chứng về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về bằng chứng đó; được khiếu nại tiếp nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; được rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và được bồi thường thiệt hại, nếu có. Bên cạnh đó, Luật cũng tạo điều kiện cần thiết để bảo vệ quyền của người bị khiếu nại. Người bị khiếu nại có quyền được biết các căn cứ khiếu nại của người khiếu nại, đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi bị khiếu nại, được nhận quyết định giải quyết khiếu nại.
- Luật Thi hành án dân sự cũng có nhiều quy định mới thủ tục giải quyết khiếu nại về thi hành án: hình thức khiếu nại quy định phong phú, đầy đủ hơn: gửi đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; trực tiếp trình bày tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nội dung khiếu nại; khiếu nại thông qua người đại diện, người đại diện…
 Về thời hạn giải quyết khiếu nại, Luật Thi hành án dân sự quy định các thời hạn giải quyết khiếu nại theo tính chất và mức độ của quyết định, hành vi như: đối với khiếu nại về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại; đối với khiếu bại về áp dụng biện pháp phong toả tài khoản và quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác thì thời hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại....
Ngoài ra, Luật Thi hành án dân sự còn quy định về việc lập hồ sơ giải quyết khiếu nại, hình thức, nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại. Trong đó, đáng chú ý là nội dung quyết định giải quyết khiếu nại phải có điều khoản quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra và điều khoản hướng dẫn quyền khiếu nại lần hai của người khiếu nại.
- Luật Thi hành án dân sự cũng quy định cụ thể, đầy đủ hơn về tố cáo thi hành án Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 không quy định cụ thể các quy định về giải quyết tố cáo, nhưng Luật thi hành án đã cụ thể hoá những quy định đó từ Điều 154 đến Điều 158. trong đó có nhiều điểm mới về người tố cáo, quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo, thẩm quyền, thời hạn giải quyết tố cáo, trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo
Ngoài những quy định nêu trên, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 còn có điểm mới là quy định cụ thể việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án. Theo đó, Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự, có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
Thực tiễn áp dụng các quy định trên của Luật đã làm cho hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của Ngành thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh đi vào nền nếp, khoa học và hiệu quả tốt hơn, các đơn thư đều được giải quyết nhanh chóng, không có tình trạng khiếu nại tồn đọng kéo dài, qua đó đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích của người dân cũng như của người bị khiếu nại, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thi hành án dân sự cũng như củng cố và tăng cường được niềm tin của người dân và xã hội đối với công tác thi hành án dân sự.
e. Tác động trực tiếp và nổi bật nhất của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đối với công tác thi hành án dân sự là các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Có thể nói Luật thi hành án dân sự có bước tiến vượt bậc về kỹ thuật và nội dung lập pháp, thể hiện rõ nét trong các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự từ giai đoạn thụ lý, tổ chức thi hành và kết thúc thi hành án. Trình tự, thủ tục đã được quy định một cách cụ thể, rõ ràng; kết cấu các Điều, chương, mục được trình bày hợp lý, phù hợp với nội dung các vấn đề cần giải quyết.
Về cơ bản các quy định này đã tạo hành lang pháp lý đưa hoạt động thi hành án đi vào nền nếp, mang tính chuyên nghiệp cao.
- Quy định đầy đủ, chặt chẽ hơn về nhận đơn yêu cầu, thụ lý thi hành án, các hình thức thông báo thi hành án, bổ các biện pháp bảo đảm thi hành án – biện pháp tiền cưỡng chế; các biện pháp cưỡng chế, thủ tục tiến hành cưỡng chế được quy định phong phú, chặt chẽ hơn;
- Các quy định về thời hạn trong thi hành án được rút ngắn và cụ thể có tác dụng thúc đẩy tiến độ thi hành án nhanh hơn, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của đương sự. Thời hạn ra quyết định thi hành án là 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận bản án, quyết định của Tòa án hoặc nhận được đơn yêu cầu thi hành án. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó. Thời hạn tự nguyện thi hành án được rút ngắn xuống còn 15 ngày (Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 quy định là 30 ngày). Các quy định trên góp phần làm giảm số lượng án tồn đọng của Ngành trong những năm qua.
  II. NHỮNG HẠN CHẾ, KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành, đã góp phần hoàn thiện một bước thể chế trong công tác THADS, tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu cho các cơ quan THADS và chấp hành viên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. Tuy nhiên, qua hơn 02 năm triển khai thực hiện, các cơ quan THADS vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc, phần nào hạn chế kết quả đã đạt được của Ngành.
1.1. Khó khăn, vướng mắc về mặt thể chế:
* Khó khăn, vướng mắc về việc xử lý đơn yêu cầu thi hành án không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS và Điều 4 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS:
- Theo quy định tại khoản 1, Điều 31 Luật THADS thì: Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây: Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu; Tên cơ quan THADS nơi yêu cầu; Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án; Nội dung yêu cầu thi hành án; Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án”.
Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều trường hợp, đơn yêu cầu thi hành án không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS (chủ yếu là không có Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án). Vì vậy, cơ quan THADS thông báo cho người được thi hành án bổ sung nội dung đơn yêu cầu thi hành án, nhưng người được thi hành án không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng vẫn không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS. Để xử lý đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp này, thì pháp luật về THADS chỉ quy định cho cơ quan THADS được thực hiện một trong hai phương án:
Một là, cơ quan THADS thụ lý và ra Quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2, Điều 36 Luật THADS: Việc thực hiện quy định này là không có cơ sở pháp lý, vì đơn yêu cầu thi hành án không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS, nên không thể thụ lý và ra Quyết định thi hành án;
Hai là, cơ quan THADS phải gửi văn bản thông báo cho đương sự biết về việc từ chối nhận đơn và nêu rõ lý do theo quy định tại khoản 3, Điều 4, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP của Chính phủ: Việc thực hiện quy định này cũng không có cơ sở, vì tại Điều 34 Luật THADS quy định về từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án, không quy định cơ quan THADS từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không có các nội dung theo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS.
Như vậy, đối với trường hợp này, cơ quan THADS không thể thụ lý, ra Quyết định thi hành án và cũng không thể thông báo từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án.
* Khó khăn, vướng mắc trong xác minh điều kiện thi hành án. Theo quy định tại Điều 44 Luật THADS; Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ và điểm a, khoản 2, Điều 73 Luật THADS thì: Đối với những vụ việc thi hành theo đơn yêu cầu thi hành án nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh và phải chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án.
Tuy nhiên, trong thực tế những quy định này đã thể hiện nhiều vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện, cụ thể như:
- Vướng mắc trong việc thực hiện quy định người được thi hành án phải xác minh điều kiện thi hành án: Theo quy định tại khoản 1, Điều 6, Nghị định số 74/2009/NĐ-CP của Chính phủ thì:“Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án”. Tuy nhiên, Luật cũng chưa quy định cụ thể về chế tài đối với tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ cung cấp thông tin trong trường hợp họ cố tình không cung cấp, cung cấp không đầy đủ hoặc sai lệch thông tin để có thể đảm bảo tốt hơn việc thực hiện quyền năng tự xác minh của người phải thi hành án. Từ đó, người được thi hành án cũng không có cơ sở để yêu cầu chấp hành viên cơ quan THADS tiến hành xác minh điều kiện thi hành ánc ủa người phải thi hành án.
- Vướng mắc trong việc nộp, thu, quản lý, sử dụng chi phí xác minh điều kiện thi hành án hiện nay chưa có văn bản pháp luật quy định về vấn đề này. Vì vậy, gây khó khăn cho người nộp chi phí xác minh người được thi hành án yêu cầu chấp hành viên cơ quan THADS xác minh điều kiện thi hành án và cũng gây khó khăn cho cơ quan Thi hành án trong việc thu, quản lý và sử dụng đối với chi phí xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án.
* Vướng mắc trong việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án  theo quy định tại Điều 59 Luật THADS:
Điều 59 Luật THADS quy định: “Trường hợp theo Bản án, Quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá trị tài sản thay đổi và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá lại tài sản đó thì tài sản được định giá theo quy định tại Điều 98 Luật THADS”. Tuy nhiên, Điều 4 Luật THADS quy định Bản án, Quyết định phải được thi hành và Khoản 2, Điều 20 Luật THADS về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên phải hành đúng nội dung Bản án, Quyết định. Như vậy các quy định của Luật có mâu thuẫn với nhau, gây khó khăn cho Chấp hành viên hoạt động.
* Vướng mắc trong quy định giảm giá tài sản. Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định sau khi tài sản bán đấu giá không có người mua thì Chấp hành viên Quyết định giảm tối đa 10 % gí trị tài sản nếu tài sản vẫn không bán được Chấp hành viên vẫn có quyền giảm giá cho tới khi bán được tài sản hoặc giá trị thấp hơn chi phí cưỡng chế. Điều này không đánh giá đúng giá trị thực của tài sản, thiệt hại cho người phải thi hành án, đồng thời làm cho việc thi hành án bị kéo dài.
* Vướng mắc về điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 61 Luật THADS và Khoản 1 Điều 26 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ: 
Đối với các trường hợp mà người phải thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước trên 5.000.000 đồng thì phải thi hành được 1/20 nghĩa vụ. Thực tế cho thấy các đối tượng này rất khó có khả năng thi hành và những hồ sơ này sẽ không thể miễn, giảm được. Vì vậy, lượng án tồn đọng sẽ tiếp tục tăng tại các cơ quan THADS.
* Vướng mắc do quy định giữa Luật THADS và Bộ Luật tố tụng dân sự chưa đồng bộ về việc khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để đảm bảo thi hành án theo khoản 1, Điều 74 Luật THADS và quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 1, Điều 102 Luật THADS:
Tuy nhiên, Bộ Luật tố tụng dân sự không qui định Chấp hành viên hoặc người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác để thi hành án hoặc khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản và không quy định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc trên. Do đó, chấp hành viên chưa thể  cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác trong trường hợp chưa xác định được phần sở hữu của người phải thi hành án, nên gây khó khăn và làm ảnh hướng đến hiệu quả công tác THADS.
* Vướng mắc về mức tiền phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính được quy định tại Điều 163 Luật THADS; Điều 7 và Điều 47 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp:
Theo Điều 7, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định về hành vi vi phạm quy định về hoạt động THADS và Điều 47, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định mức tiền xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong THADS tối thiểu là 50.000 đồng và mức tối đa là 5.000.000 đồng. Tuy nhiên về thẩm quyền xử phạt lại quy định: Chấp hành viên được xử phạt tối đa 200.000 đồng; Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện được xử phạt tối đa là 500.000 đồng và Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh được xử phạt tối đa là 1.000.000 đồng. Vậy, đối với các hành vi quy định mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.0000 đồng theo quy định tại khoản 3, Điều 7, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của chính phủ thì chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện và Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh không thể xử phạt được. Vậy ai là người có thẩm quyền xử phạt đối với những hành vi vi phạm tại khoản 3. Điều 7, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ. Đồng thời, qua thực tế áp dụng cho thấy, đối với những hành vi vi phạm quy định tại khoản 3, Điều 7, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ đã có xảy ra không những ở cơ quan THADS cấp tỉnh mà còn xảy ra ở cơ quan THADS cấp huyện. Vậy để xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi này, cơ quan THADS không có cơ sở để xử lý.
* Vướng mắc quy định của pháp luật về mô hình tổ chức, cơ chế THADS:
Theo quy định của pháp luật thì công tác quản lý thi hành án hiện nay
đang ở trong tình trạng thiếu tập trung thống nhất do có nhiều cơ quan khác nhau quản lý, tổ chức thực hiện (Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Tư pháp; UBND cấp xã…) nên dẫn đến nhiều khó khăn trong việc tổng kết, đánh giá, nắm tình hình, chỉ đạo, hướng dẫn thi hành án. Ngoài ra, giữa việc THADS và thi hành án hình sự thiếu sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ nên công tác THADS gặp nhiều vướng mắc trong những trường hợp cùng một bản án hình sự có nhiều cơ quan chịu trách nhiệm ra quyết định và tổ chức thi hành (cơ quan Thi hành án hình sự chịu trách nhiệm thi hành hình phạt, cơ quan THADS chịu trách nhiệm thi hành phần án phí, tiền phạt và phần dân sự). Sự chưa gắn kết đó cản trở cho cơ quan THADS trong việc xác minh điều kiện thi hành án của người bị kết án, thực hiện các thủ tục thông báo về thi hành án liên quan đến phần nghĩa vụ dân sự.
2. Khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn:
* Việc thi hành án có khó khăn, phức tạp:
- Khó khăn do người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án, do người phải thi hành án đang thụ hình hoặc thụ hình xong về đi khỏi địa phương không rõ địa chỉ, không có tài sản để thi hành án; Người phải thi hành án đang ở địa phương, nghĩa vụ phải thi hành quá lớn, không có tài sản để thi hành hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc diện không được kê biên hoặc tài sản có giá trị thấp so với nghĩa vụ phải thi hành; Người phải thi hành án đã đủ tuổi thành nên và bị phạt tù. Do vậy, khi cơ quan Thi hành án tổ chức thi hành đã xác minh điều kiện thi hành án thì họ không có điều kiện thi hành; trong khi đó gia đình không thi hành thay cho người phải thi hành án và pháp luật chưa ràng buộc trách nhiệm của gia đình người phải thi hành án trong việc thi hành thay phần nghĩa vụ dân sự cho người phải thi hành án đã thành niên nhưng còn sống phụ thuộc gia đình trước khi phạm tội.
- Tình hình Kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh những năm gần đây phát triển nhanh; nhiều Khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp được hình thành. Cùng với sự phát triển về kinh tế đã nảy sinh nhiều quan hệ xã hội và tranh chấp: tranh chấp về kinh tế, dân sự và lao động ngày càng nhiều, theo đó số vụ việc thi hành án ngày càng tăng. Vì vậy, nhiều công ty trở thành đối tượng là người phải thi hành án, nhưng chưa có điều kiện để thi hành. Do đó, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công tác hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, là nguyên nhân quan trọng của tình trạng án tồn đọng. Đặc biệt số việc thi hành án giải quyết các tranh chấp tín dụng chiếm số lượng lớn: hơn 50% tổng số tiền và hơn 40% tổng số việc phải thi hành. Việc xử lý, kê biên, tài sản mất rất nhiều thời gian, làm chậm tiến độ giải quyết các vụ việc thi hành án. Bên cạnh đó, số việc về ma tuý, cờ bạc ngày càng nhiều (chiếm khoảng 35% về việc và 13 % về tiền trong tổng số việc và tiền phải thi hành). Trong khi đó, người phải thi hành án phải thụ hình lâu năm, không có tài sản hoặc thu nhập để thi hành án. Do đó không thể thi hành được nghĩa vụ cũng như không thể nộp được 1/20 nghĩa vụ thi hành án để được xét miễn, giảm, khiến cho việc giảm số lượng việc thi hành án gặp nhiều khó khăn.
* Khó khăn về cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện, tài chính:
Cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện, tài chính của các cơ quan THADS tỉnh Bắc Ninh luôn được Lãnh đạo Bộ Tư pháp và Tổng cục THADS quan tâm cấp phát và trang bị. Tuy nhiên, các trụ sở đều nhỏ hẹp, lạc hậu về kiến trúc, không đáp ứng được sự phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của Ngành.
Hiện nay, các Sở, ban, ngành của tỉnh đều có trang thông tin điện tử để hoạt động nhằm tuyên truyền và phố biến pháp luật đối với ngành, lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của các Sở, ban ngành. Tuy nhiên, ngành THADS tỉnh Bắc Ninh chưa được Bộ Tư pháp và Tổng Cục THADS trang bị trang thông tin điện tử và cấp kinh phí cho Trang thông tin điện tử hoạt động, đã phần nào ảnh hưởng đến công tác THADS, nhất là công tác tuyên truyền và phố biến pháp luật về THADS đến với các cơ quan, tổ chức có liên quan và người dân.
 
 
* Khó khăn trong công tác phối hợp:
- Phần lớn loại án tranh chấp dân sự khi đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra tổ chức thi hành, người phải thi hành án chống đối hoặc gửi đơn khiếu nại đến Tòa án cũng như Viện kiểm sát yêu cầu xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, đến khi cơ quan Thi hành án tiến hành cưỡng chế thì có văn bản yêu cầu hoãn thi hành án, tạm đình chỉ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nhưng khi hết thời hạn hoãn, đình chỉ mà không có văn bản thông báo cho cơ quan Thi hành án biết có kháng nghị hay không kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm…Hoặc có nhiều trường hợp cơ quan THADS đã tổ chức thi hành xong bản án, Quyết định của Tòa án thì lại có Quyết định kháng nghị yêu cầu xét xử lại bản án theo trình tự Giám đốc thẩm hay tái thẩm… Chính vì vậy, đã gây mất niền tin của các cơ quan phối hợp thi hành trên địa bàn, làm cho các cơ quan THADS gặp khó khăn trong công tác tổ chức thi hành án.
- Một số cơ quan, Ban, ngành, tổ chức còn có sự can thiệp không đúng thẩm quyền vào quá trình thi hành án; không thực hiện đúng nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ, phối hợp, tham gia công tác thi hành án. Trong khi pháp luật chưa có những quy định cụ thể, ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan trong trường hợp không thực hiện đúng và kịp thời những yêu cầu của chấp hành viên và cơ quan THADS.
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
  1. Giải pháp
Để góp phần khắc phục những khó khăn, vướng mắc; Chúng tôi kiến nghị một số giải pháp khắc phục như sau:
          1.1. Về thể chế:
* Những quy định của Luật THADS năm 2008; pháp luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành cần hủy bỏ, sửa đối, bổ sung:
- Cần bổ sung thêm Điều 34 Luật THADS quy định cơ quan Thi hành án từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không đầy đủ các nội dung quy định và đã được thông báo yêu cầu bổ sung nhưng vẫn không đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 31 Luật THADS;
- Sửa đổi, bổ sung quy định về giảm giá tài sản khi bán đấu giá không có người mua theo hướng, sau 2 lần giảm giá, nếu vẫn không có người mua thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản đó.
- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và quy định thêm vào Luật THADS và Bộ luật Hình sự trách nhiệm và chế tài (hành chính và hình sự - quy định tội danh và mức hình phạt) đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án không cung cấp thông tin khi người được thi hành án; đồng thời quy định rõ về trình tự, thủ tục; thành phần tham gia; nội dung, biểu mẫu… biên bản xác minh do người được thi hành án xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
- Nghiên cứu bãi bỏ quy định tại khoản 1, Điều 26, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định về: “Người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 Luật THADS”;
- Cần sửa đối, bổ sung Bộ Luật tố tụng dân sự theo hướng quy định quyền cho Chấp hành viên và đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác và về kết quả bán đấu giá tài sản theo khoản 1, Điều 102 Luật THADS; đồng thời quy định thẩm quyền cho Tòa án thụ lý giải quyết đối với những yêu cầu trên;
- Bổ sung vào khoản 1, Điều 6 Thông tư số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao theo hướng: Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên có quyền hủy bỏ hoặc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy bỏ giao dịch chuyển quyền sở hữu tài sản giữa người phải thi hành án với người khác khi đã có bản án sơ thẩm.
- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp theo hướng mở rộng thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho Chấp hành viên, Tổ trưởng Tổ quản lý thanh lý tài sản, Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện và Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh được quyền xử phạt vi phạm hành chính trong THADS mức tiền phạt tối đa 5.000.000 đồng.
* Những văn bản cần xây dựng mới:
- Cần có văn bản quy định mới về việc thu, nộp, quản lý và sử dụng chi phí xác minh điều kiện thi hành án, để khắc phục khó khăn cho người nộp chi phí xác minh (người được thi hành án yêu cầu chấp hành viên cơ quan THADS xác minh điều kiện thi hành án) và khó khăn của cơ quan Thi hành án trong việc thu, quản lý và sử dụng đối với chi phí xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án.
- Quy định mới về mô hình tổ chức, cơ chế thi hành án; công tác quản lý thi hành án giữa THADS và thi hành án hình sự theo hướng gộp cả THADS và Thi hành án hình sự do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý và tổ chức thi hành tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thi hành án.
- Ban hành Quy chế phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan công an trong công tác phối hợp bảo vệ xác minh điều kiện thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án… nhằm tăng cường công tác phối hợp và đảm bảo về sức khỏe, tính mạng cho cán bộ, chấp hành viên cơ quan Thi hành án trong quá trình thực thi công vụ.
1.2. Về thực tiễn:
- Cần nghiên cứu việc quản lý thu nhập của phạm nhân trong quá trình lao động, sản xuất ở các Trại giam, Trại tạm giam theo hướng có thể trích một phần thu nhập để đảm bảo THADS; đồng thời nghiên cứu xây dựng quy định về chế độ lao động bắt buộc (lao động công ích) đối với trường hợp người phải thi hành án không có tài sản (kể cả phạm nhân khi ra tù chưa có công ăn việc làm) để tạo điều kiện cho họ có thu nhập và có thể khấu trừ thi hành án.
- Tránh tình trạng đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm trong việc phối hợp, nhằm giúp cho hoạt động THADS đạt được hiệu quả, cần phải ban hành quy chế phối hợp THADS, trong đó quy định rõ về chức năng, nhiệm  vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho các cơ quan hữu quan khi tổ chức thực hiện; đồng thời phải quy định chế tài hành chính và chế tài về hình sự đối với các cơ quan, ban ngành hữu quan và cá nhân có thẩm quyền khi không phối hợp, thực hiện những yêu cầu của cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên trong việc tổ chức thi hành án như: xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án, …
3. Một số đề xuất, kiến nghị đối với các cơ quan có liên quan:
* Kiến nghị Quốc hội:
Tiếp tục sửa đổi, bổ sung những quy định của Luật THADS và các văn bản pháp luật có liên quan như: Luật Đặc xá, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự… nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, tăng cường hiệu quả công tác THADS.
Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và ban hành Bộ luật Thi hành án theo hướng gộp cả THADS và Thi hành án hình sự do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý và tổ chức thi hành, nhằm tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thi hành án;
* Kiến nghị Chính phủ; các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Tiếp tục rà soát các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, Bộ, ngành, lĩnh vực để bổ sung kịp thời những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức trong THADS theo Quy định tại Chương VIII (từ Điều 166 đến Điều 180) của Luật THADS, nhằm tạo cơ sở pháp lý và tính ràng buộc cho các cơ quan, tổ chức trong THADS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong THADS.
* Kiến nghị Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Thực hiện đúng quy định về giải quyết khiếu nại của đương sự về yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; trả lời kiến nghị của cơ quan THADS đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, nhằm giải quyết vướng mắc cho các cơ quan THADS trong việc tổ chức thi hành những vụ việc mà đương sự có khiếu nại yêu cầu xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
* Kiến nghị Bộ Tư pháp và Tổng cục THADS: Tiếp tục quan tâm, tăng cường biên chế và ban hành Quyết định thành lập Phòng Tổ chức cán bộ thuộc Cục THADS tỉnh Bắc Ninh; tăng cường Lãnh đạo đối với các Chi cục cấp huyện; đề nghị cấp có thẩm quyền phải tạo cơ chế ưu đãi cho cán bộ, công chức làm công tác THADS, nhằm thu hút những người có trình độ và năng lực chuyên môn vào ngành và gắn bó lâu dài với ngành; tiếp tục cấp kinh phí và trang bị cơ sở vật chất cho các cơ quan THADS (nhất là cho chủ trương và cấp kinh phí đầu tư xây dựng trụ sở làm việc và kho vật chứng đối với các cơ quan THADS có trụ sở cũ, không còn phù hợp với điều kiện thực tế trong giai đoạn hiện nay; cấp xe mô tô cho Cục THADS tỉnh để phục vụ cho công tác cơ sở; tăng cường kinh phí hoạt động thường xuyên…). Đồng thời, nghiên cứu cấp kinh phí để Cục THADS tỉnh Bắc Ninh mở Trang thông tin điện tử và đi vào hoạt động, nhằm tạo điều kiện cho cơ quan THADS trong tỉnh thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp luật về THADS; công khai các quy định, biểu mẫu và các hoạt động chủ yếu, thường xuyên của chấp hành viên, của cơ quan THADS để các cơ quan, ban, ngành có liên quan và người dân biết phối hợp thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả công tác THADS.
* Kiến nghị cấp ủy, Chính quyền địa phương cấc cấp:
Cấp ủy Đảng, chính quyền và các ban Ngành cần quan tâm hơn nữa đối với công tác thi hành án dân sự và phối hợp tốt hơn nữa tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan Thi hành án hoàn thành tốt nhiệm vụ của Ngành cũng như nhiệm vụ chính trị của địa phương; Kiện toàn Ban chỉ đạo thi hành án dân sự tỉnh theo quy định, đồng thời Ban chỉ đạo thi hành án dân sự phải hoạt động và được quan tâm thực sự; Có chính sách hỗ trợ người phải thi hành án không có tài sản hoặc thu nhập để có thể được miễn, giảm thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự;  Quan tâm hỗ trợ về kinh phí, về tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ quan Thi hành án dân sự; Có những chính sách, chế độ riêng của Tỉnh để động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ thi hành án yên tâm công tác gắn bó hơn với Ngành, với địa phương....
Trên đây là báo cáo sơ kết 02 năm triển khai Luật Thi hành án dân sự những khó khăn, vướng mắc và những kiến nghị, đề xuất của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh./.
 
Nơi nhận:
- Vụ NV 1- Tổng cục THADS ( b/c);
- Nội chính Tỉnh Ủy;
- Nội chính UBND tỉnh (để b/c)
- Lãnh đạo Cục;
- Các phòng chuyên môn;
- Các chi cục THADS thuộc tỉnh;
- Lưu VT, TH.
          CỤC TRƯỞNG
       
 
 

           Nguyễn An Ly
 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: thi hành, sơ kết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Tổ chức bộ máy

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh là đơn vị trực thuộc Tổng Cục thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp, được tổ chức và hoạt động theo Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trụ sở của Cục tại số 2 đường Nguyên Phi Ỷ Lan, phường Suối Hoa, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Cơ cấu...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

0222.3824.260
Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP