23:43 EDT Thứ tư, 22/10/2014

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 4


Hôm nayHôm nay : 3585

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 63323

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2642460

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » TIN TỨC-SỰ KIỆN » Tin tức trong Ngành

NHỮNG VI PHẠM PHỔ BIẾN VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC, KHÓ KHĂN TRONG CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN CỦA NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Thứ năm - 17/01/2013 02:02
Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ 10, VKSND Tối cao phát biểu tại Hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2013

Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ 10, VKSND Tối cao phát biểu tại Hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2013

Là một trong các công tác nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động Tư pháp, công tác kiểm sát thi hành án dân sự năm 2012 đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, thông qua công tác này đã trực tiếp góp phần thúc đẩy kết quả công tác thi hành án dân sự trong cả nước và ở từng địa phương.

          Với mục đích để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thi hành án dân sự năm 2013 và các năm tiếp theo, tại hội nghị này chúng tôi xin trao đổi, chỉ ra một số vi phạm đã xảy ra trong công tác thi hành án dân sự  năm 2012 và thông qua đó mong muốn Cơ quan thi hành án dân sự các cấp thấy rõ hơn để có biện pháp khắc phục; đồng thời cũng thông qua công tác kiểm sát thi hành án dân sự chia sẻ về những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động thi hành án dân sự. Vì vậy trong phần ý kiến của tôi xin được trình  bày 03 nội dung lớn:
     -  Những vi phạm, tồn tại trong hoạt động thi hành án dân sự;
     -  Những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động thi hành án dân sự;
     -  Một số đề xuất giải pháp tháo gỡ.
I.  Những vi phạm, tồn tại trong hoạt động thi hành án dân sự
      Trước hết chúng tôi rất vui mừng với những kết quả, thành tích mà hoạt động thi hành án dân sự đã đạt được trong năm 2012, cùng với những thành tích đó dưới góc nhìn của Viện kiểm sát thấy một sự chuyển biến tích cực trong việc hạn chế, khắc phục những tồn tại, vi phạm trong hệ thống cơ quan thi hành án dân sự, đó trước hết là việc đã cơ bản hoàn thành được mục tiêu mà Bộ Tư pháp đề ra trong việc khắc phục tình trạng phân loại việc thi hành án một cách chính xác hơn, đã khắc phục cơ bản được việc xếp loại việc có điều kiện vào không có điều kiện; việc tổ chức kê biên, cưỡng chế thi hành án đã cơ bản đảm bảo đúng pháp luật...
      Chia sẻ với những khó khăn phức tạp của công tác thi hành án dân sự,  tuy nhiên với mục đích chỉ rõ những tồn tại, vi phạm để từ đó Cơ quan thi hành án dân sự các cấp sớm có các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thi hành án dân sự một cách bền vững. Chúng tôi xin nêu rõ những tồn tại và vi phạm mà ngành kiểm sát đã phát hiện thông qua công tác kiểm sát thi hành án dân sự, đó là:
  - Nổi lên là tình trạng Chấp hành viên cơ quan thi hành án chậm tiến hành xác minh điều kiện thi hành án (chủ yếu là loại án chủ động) phần thu cho Ngân sách  nhà nước; theo thống kê của ngành kiểm sát thì trong cả nước có 36/63 tỉnh thành phố chậm tiến hành xác minh 3.087 việc thi hành án. Thời gian chậm xác minh có thể là nhiều ngày, thậm chí hàng tháng cá biệt có  những trường hợp lên đến cả 10 năm.
    -  Có 23/63  tỉnh, thành phố có 1.814 việc có điều kiện thi hành án nhưng Cơ quan thi hành án chưa kiên quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
    -  Tuy đã khắc phục cơ bản được việc xếp loại không chính xác về điều kiện thi hành án, nhưng vẫn còn 18 tỉnh, thành phố có 164 việc có điều kiện thi hành án vẫn xếp vào không có điều kiện thi hành.
    -  Vẫn xảy ra 886 quyết định về thi hành án có vi phạm về nội dung; về căn cứ pháp luật; không đúng nội dung bản án, quyết định; chậm ra quyết định... của 25 tỉnh, thành phố.
    -  Còn 140 vi phạm của 6 tỉnh , thành phố trong việc thu, sử dụng, quản lý tiền thi hành án.
    - 71 vi phạm của 10 tỉnh, thành phố trong việc kê biên, bán đấu giá tài sản thi hành án.....
        Bên cạnh những vi phạm trên một vấn đề phát sinh nhiều trong năm đáng lưu ý là trong mối quan hệ giữa VKS và Cơ quan thi hành án dân sự, nhiều Cơ quan thi hành án không chấp nhận kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát. Trên cơ sở quy định của pháp luật, sau khi yêu cầu Viện kiểm sát ban hành Kháng nghị, kiến nghị tự kiểm tra về kiến, kháng nghị của mình, VKSND tối cao phải trực tiếp kiểm tra hồ sơ, kết quả kiểm tra cho thấy cơ bản các kiến kháng nghị đó được ban hành đúng, nhưng do không cầu thị, sợ trách nhiệm hoặc thiếu trách nhiệm nên Cơ quan thi hành án nhận được kiến nghị, kháng nghị hoặc Cơ quan thi hành án cấp trên không tiếp thu sửa chữa; đáng lưu ý là việc không tiếp thu, sửa chữa được thực hiện thông qua việc  làm sai lệch hồ sơ cung cấp cho VKS  như không cung cấp hồ sơ gốc về thi hành án,  thay đổi một số tài liệu liên quan đến vi phạm qua tẩy xóa, sửa chữa tài liệu sổ sách về thi hành án, photo cắt dán tài liệu....     
        Đồng thời với các vi phạm của cơ quan thi hành án cấp dưới VKS còn phát hiện một số ý kiến, hoặc văn bản chỉ đạo của Cơ quan thi hành án cấp trên ( có cả văn bản của Cơ quan quản lý thi hành án) không đúng quy định của pháp luật hoặc thiếu kịp thời dẫn đến việc tổ chức thi hành án ở một số  loại việc thi hành án thiếu thống nhất; ví dụ văn bản chỉ đạo về việc cho sử dụng số tiền đặt trước của người mua trúng đấu giá tài sản thi hành án, nhưng không tiếp tục mua tài sản; hoặc việc chỉ đạo dừng giảm giá theo điều 104 Luật thi hành án dân sự đối với các trường hợp không có người đăng ký mua tài sản thi hành án khi bán đấu giá; Cũng về vần đề trên do chưa có quy định cụ thể nên ở nhiều địa phương việc tổ chức thi hành khác nhau, nhiều nơi nếu không có người đăng ký mua tài sản được coi là đấu giá không thành và Chấp hành viên tiến hành giảm giá tiếp tục bán đấu giá, nhưng một số địa phương thì dừng việc đấu giá ...
  II.  Những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động thi hành án dân sự
         Ngoài một số nguyên nhân chủ quan thuộc trách nhiệm của Cơ quan thi hành án dân sự, của Chấp hành viên, chúng tôi thấy hoạt động thi hành án dân sự là rất phức tạp và gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc mà trước hết những vướng mắc đó là thể chế, pháp luật về thi hành án dân sự còn thiếu  thống nhất, chưa đồng bộ. Thông qua sơ kết 3 năm thực hiện Luật thi hành án dân sự trong Ngành kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tổng hợp được 56  vấn đề về thể chế pháp luật trong thi hành án dân sự còn bất cập hoặc còn có sự chồng chéo hoặc cần hướng dẫn bổ sung, trong đó có 9 nội dung cần nghiên cứu, chỉnh sửa Luật thi hành án dân sự và pháp luật khác liên quan; 22 nội dung cần được nghiên cứu, bổ sung ngay trong quá trình bổ sung hoặc thay thế Nghị định số 58/CP về hướng dẫn một số điều của luật thi  hành án dân sự về thủ tục thi hành án; 25 nội dung mà Luật và Nghị định đã quy định nhưng cần có Thông tư liên ngành hướng dẫn, cụ thể là:    
    - 9 nội dung cần nghiên cứu, chỉnh sửa Luật thi hành án dân sự và pháp luật khác liên quan:
1. Điểm c khoản 1 Điều 50 Luật thi hành án dân sự, Quy định: "Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu Cơ quan THADS không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba". Quy định đình chỉ thi hành án chưa rõ ràng, còn có hai quan điểm:
Thứ nhất: cho rằng Cơ quan THADS đã ra Quyết định đình chỉ thi hành án xem xét như việc thi hành án đã kết thúc. Các đương sự tự giải quyết mà không được yêu cầu Cơ quan THADS thi hành tiếp.
Thứ hai: cho rằng mặc dù Cơ quan THADS ra Quyết định đình chỉ thi hành án theo thỏa thuận của các đương sự nhưng các đương sự không thực hiện đúng như thỏa thuận thì có quyền yêu cầu Cơ quan THADS thi hành tiếp.
2. Khoản 1 Điều 26 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009, Quy định: "Người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp ngân nhân sách Nhà nước đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí có giá ngạch thì được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 61 Luật thi hành án dân sự"
+ Quy định như vậy, trong thực tế có một số trường hợp hoàn toàn không có điều kiện để nộp. Thực tế những đối tượng được xét miễn, giảm đang chấp hành hình phạt tù, hoàn toàn không có điều kiện thi hành án.
án tồn đọng hiện nay chủ yếu, phần lớn là phải thi hành án phí, tiền phạt. nhưng người phải thi hành án là các đối tượng nghiện, sống lang thang, không có việc làm, không có thu nhập. Với các lý do trên, dẫn đến những hồ sơ đề nghị xét miễn giảm này bị treo mãi, không giải quyết được phải để án tồn đọng.
3. Thành phần tham gia việc xác minh tài sản tại xã, phường, thị trấn ( Điều 44); Quy định:  việc xác minh điều kiện thi hành án phải lập thành biên bản, có xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố, UBND cấp xã, Công an xã.
        Cơ quan THADS gặp không ít khó khăn khi xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án do không có mặt đủ một lúc của 3 người giữ chức vụ nêu nên.
4. Hình thức phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án
       Hiện nay mỗi đơn vị thi hành án thực hiện một khác. Có đơn vị ra quyết định phân công, có đơn vị lại bằng hình thức phân công theo sổ thụ lý.
5. Điểm e khoản 1 Điều 23 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Thủ trưởng Cơ quan THADS phải có trách nhiệm trả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát.
           Trong khi đó Điều 161 Luật thi hành án dân sự mới chỉ quy định Thủ trưởng Cơ quan THADS phải trả lời việc thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày. Luật chưa quy định thời hạn Thủ trưởng Cơ quan THADS phải trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát.
6. Điều 111 Luật thi hành án dân sự ; Quy định:  Khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho Cơ quan THADS.
            Nhưng Bộ luật dân sự và Luật đất đai năm 2003 quy định: Thời điểm chuyển quyền sử dụng đất được tính từ khi đăng ký tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Trong khi đó Luật Nhà ở năm 2005 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở được tính kể từ khi hợp đồng mua bán nhà được công chứng, chứng thực. Như vậy, nếu không xác định rõ phải áp dụng quy định nào để thực hiện kê biên tài sản để thi hành án thì trong hoạt động tổ chức thi hành án dễ bị khiếu nại.
7. Khoản 1 Điều 161 Luật thi hành án dân sự; Quy định: "Thủ trưởng Cơ quan THADS có trách nhiệm trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định về thi hành án của mình hoặc của Chấp hành viên..."
      Như vậy Điều luật không quy định Cơ quan THADS phải trả lời các kháng nghị về hành vi.
8. Điểm đ khoản 1 Điều 23 Luật thi hành án dân sự; Quy định:"Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định theo quy định của pháp luật;"
      Nhưng theo Điều 179 Luật THADS thì việc trả lời kiến nghị trên thuộc trách nhiệm của cơ quan ra bản án
9. Điều 28 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Về việc chuyển giao bản án.
       Điểu 187 Bộ luật tố tụng dân sự không quy định Tòa án chuyển giao Quyết định công nhận việc thỏa thuận giữa các đương sự cho Cơ quan THADS. Đề nghị điều chỉnh bổ sung cho phù hợp.
       Điều 381 Bộ luật tố tụng dân sự quy định những bản án, quyết định sơ thẩm được thi hành ngay thì trong 10 ngày Tòa án phải chuyển giao cho Cơ quan THADS. Còn Điều 28 Luật thi hành án dân sự dân sự thì quy định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định Tòa án phải chuyển cho Cơ quan THADS.
            - 22 vấn đề cần được Chính phủ hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung tại Nghị định
1. Khoản 1 Điều 44 Luật thi hành án dân sự; Quy định:"Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự mình xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh. Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và phải  ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh".
           Việc người được thi hành án tiến hành xác minh là rất khó khăn, việc chứng minh với Cơ quan THADS  đã tiến hành áp dụng các biện pháp cần thiết mà không đạt kết quả càng khó hơn vì các văn bản pháp luật hiện hành không quy định các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân nắm giữ thông tin và quản lý tài sản của người phải thi hành án phải xác nhận cho người được thi hành án việc họ đã thực hiện tiến hành xác minh. Hiện tại, chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là "biện pháp cần thiết" mà người được thi hành án đã áp dụng.
2. Điểm b khoản 2 Điều 47 Luật thi hành án dân sự; Quy định: "Trong trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền được thực hiện như sau: Số tiền thi hành án thu theo Quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có Quyết định cưỡng chế đó. Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các Quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán."
          Quy định này chưa cụ thể rõ ràng, nên có hai cách hiểu: Một là: số tiền THA thu theo Quyết định cưỡng chế nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có Quyết định cưỡng chế đó, nghĩa là thanh toán cho tất cả những người có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có Quyết định cưỡng chế, không phụ thuộc vào đơn yêu cầu có phải là căn cứ cưỡng chế hay không. Hai là: số tiền THA thu được theo Quyết định cưỡng chế nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có Quyết định cưỡng chế đó, nghĩa là những người được thi hành án đã có đơn yêu tính đến thời điểm có Quyết định cưỡng chế nhưng quyết định cưỡng chế đó phải căn cứ vào đơn yêu cầu của họ mới thanh toán. Đối với những người có đơn yêu cầu không thuộc Quyết định cưỡng chế đó thì không ưu tiên thanh toán, mắc dù họ có đơn yêu cầu trước khi có Quyết định cưỡng chế.
3. Khoản 4 Điều 39 Luật thi hành án dân sự; Quy định: "Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định ngân sách Nhà nước chi trả hoặc người được thi hành án chịu"
       Đến nay chưa có văn bản hướng dẫn nào quy định cụ thể về nội dung, mức chi, thủ tục thu khoản tiền này.   Tương tự chi phí xác minh tài sản và điều kiện thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 31 Nghị định 58/2009/NĐ-CP đến nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn.
4. Điều 48 Luật thi hành án dân sự; Quy định:  Quy định về điều kiện hoãn thi hành án
         Đến nay chưa có văn bản hướng dẫn trường hợp hoãn "vì lý do chính đáng khác" được nêu tại mục a khoản 1 Điều này, nên việc áp dụng hoãn tùy tiện.
5. Điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Người phải thi hành án là tổ chức giải thể, không có tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không thể chuyển giao cho các tổ chức khác thì đình chỉ thi hành án.
       Quy định này không phù hợp với quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Điều 6 Nghị định 88/2006/NĐ-CP và Điều 58 Luật doanh nghiệp theo đó người đại diện theo pháp luật tất cả các thành viên doanh nghiệp bị giải thể liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán trong trường hợp bị thu hồi đăng ký kinh doanh.
6. Khoản 1 Điều 51 Luật thi hành án dân sự; Quy định về trả đơn yêu cầu thi hành án
      Luật không quy định thời hạn ra quyết định trả đơn là bao nhiêu ngày kể từ ngày có căn cứ trả đơn yêu cầu. Điểm b của Luật quy định: người phải thi hành án có thu nhập thấp chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình, theo quy định này thì xác định thế nào là cuộc sống tối thiểu, căn cứ xác định mức sống tối thiểu?
7. Điểm e khoản 1 Điều 54 Luật thi hành án dân sự; Quy định: "Trường hợp Doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành Công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, Doanh nghiệp đó tiếp tục thực hiện quyền nghĩa vụ thi hành án"
         Theo Điều 10 Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty cổ phần thì Công ty cổ phân không có trách nhiệm thanh toán khoản nợ của doanh nghiệp Nhà nước đã chuyển đổi nếu sau thời điểm chuyển đổi Công ty cổ phần không được bàn giao trách nhiệm thanh toán. Đây là những quy định không thống nhất giữa hai văn bản pháp luật cần được hướng dẫn sửa đổi để áp dụng thống nhất.
8. Khoản 2 Điều 54 Luật thi hành án dân sự; Quy định:  "Chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án "trong trường hợp ... người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế"
     Còn những trường hợp người phải thi hành án liên đới bồi thường nhưng họ đã chết mà không để lại tài sản thì xử lý như thế nào
9. Điều 61 Luật thi hành án dân sự; Quy định: về điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước.
     Phần lớn hồ sơ tồn đọng tại Cơ quan THADS rơi vào trường hợp người phải thi hành án không có địa chỉ hoặc Chấp hành viên không xác minh được địa chỉ nên việc thi hành một phần nghĩa vụ để được xét miến, giảm là không khả thi.
      Trường hợp Cơ quan THADS đã ra Quyết định thi hành án, sau đó ra Quyết định thu hồi Quyết định thi hành án để ủy thác thi hành án; Trường hợp này thì thời hạn để xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án là kể từ ngày ra Quyết định thi hành án của Cơ quan THADS ủy thác thi hành án hay kể từ ngày ra Quyết định thi hành án của Cơ quan THADS được ủy thác thi hành án.
10. Khoản 2 Điều 66 Luật THADS; Quy định: Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp đảm bảo không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.
           Tuy nhiên Điều luật không quy định người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm phải nộp trước tiền để đảm bảo bồi thường thiệt hại, khi người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại thì sẽ rất khó khăn trong việc giải quyết việc bồi thường.
11. Khoản 1 Điều 74 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Khi bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản.
         Luật thi hành án dân sự còn quy định chung chung, không quy định cụ thể thời gian thông báo, mua tài sản.  Nhưng tại khoản 2 Điều 233 Bộ luật Dân sự quy định thời gian: trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản, kể từ ngày chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán.
12. Khoản 1 Điều 84 Luật thi hành án dân sự ; Quy định "Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên"
       Cần có quy định phù hợp theo hướng: chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ sau khi án có hiệu lực pháp luật, hoặc chuyển quyền sở hữu trí tuệ không hợp pháp mới bị kê biên.
13. Khoản 2 Điều 95 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Kê biên, xử lý đối với tài sản của người phải thi hành án gắn liền với tài sản của người khác.
         Thực tế nhiều trường hợp người phải thi hành án chỉ có tài sản duy nhất là ngôi nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng nằm trên đất thuộc quyền sử dụng của người khác, Cơ quan THADS đã tiến hành kê biên ngôi nhà để đảm bảo thi hành án, nhưng hầu như không thể xử lý tiếp được; hiện chưa có hướng dẫn cụ thể
14. Điều 98 Luật thi hành án dân sự. Quy định: về định giá tài sản thi hành án
       Theo quy định của điều luật này thì việc định giá tài sản, kê biên do Tổ chức thẩm định tiến hành. Tuy nhiên việc giảm giá tài sản, kê biên do Chấp hành viên quyết định và mỗi lần không quá 10% giá trị tài sản, đồng thời không hạn chế số lần giảm giá.  Quy định như vậy tạo cho Chấp hành viên việc tùy ý giảm giá mà không có sự tham khảo, tham gia của bất cứ cơ quan chuyên môn nào dễ dẫn tới vi phạm.
       Tại khoản 2 Điều 15 của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định “Trường hợp không ký được hợp đồng dịch vụ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật thi hành án dân sự, Chấp hành viên tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan trước khi xác định giá của tài sản kê biên”. Việc quy định như vậy là chưa chặt chẽ và trong trường hợp phát sinh khiếu nại, tố cáo về việc định giá thì không có căn cứ, cơ sở để Cơ quan THADS giải quyết trả lời.
        Luật thi hành án dân sự chưa quy định cụ thể Hội đồng kê biên tài sản là nhà, đất và các tài sản khác trong quá trình thi hành án gồm những cơ quan nào.
15. Khoản 1 Điều 99 Luật thi hành án dân sự; Quy định: "Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau... đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản"
       Điều luật quy định chưa rõ là tài sản định giá lại này được định giá bán đấu giá lần đầu hay là các lần khác khi bán đấu giá không thành. Trường hợp có khiếu nại về giá: Luật quy định đương sự có quyền yêu cầu định giá lại nhưng chưa quy định cụ thể định giá lại bao nhiêu lần.
16. Điều 104 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án.
        Nội dung Điều luật quy định là bất hợp lý, bởi vì khi giảm đến mức thấp hơn chi phí cưỡng chế thì khi đó người được thi hành án nhận tài sản sẽ không giải quyết được gì trong việc thi hành án. Vì khi nhận tài sản, người được thi hành án phải nộp chi phí cưỡng chế, lúc đó giá trị tài sản mà họ được nhận bằng không (tức là bằng với chi phí cưỡng chế hoặc thấp hơn). Đồng thời điều này quy định về việc giảm giá tài sản sau mỗi lần bán đấu giá không thành, nhưng không quy định số lần giảm giá tài sản so với trước đây mà việc định giá chỉ dừng lại khi giá tài sản đã thấp hơn chi phí cưỡng chế. Thực tế có những trường hợp giảm giá rất nhiều lần mà không bán được tài sản, nhưng đương sự lại yêu cầu định giá lại tài sản; tuy nhiên, lần thẩm định giá lần sau có giá trị cao hơn lần trước; Do đó, việc thi hành án kéo dài và làm giảm giá trị của tài sản. Quy định này cũng tạo tâm lý cho những người muốn đăng ký mua tài sản THA họ chờ đến thời điểm giá tài sản giảm xuống thấp, kéo dài thời gian THA, điều đó cũng gây bất lợi, thiệt thòi cho người phải thi hành án.         
17. Khoản 4 Điều 106 và khoản 2 Điều 116 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Đối với những giấy tờ về quyền sử dụng đất mà không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra Quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho đương sự.
        Nhưng tại khoản 3 Điều 42 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 19/10/2004 và khoản 3 Điều 25 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 lại quy định việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành.  Do đó, khi Cơ quan THADS thực hiện các thủ tục đề nghị thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký không thực hiện việc thu hồi hủy bỏ giấy chứng nhận theo đề nghị của Cơ quan THADS. Lý do, pháp luật về đất đai quy định chỉ thu hồi khi có bản án, quyết định của Tòa án.
18. Khoản 1 Điều 31 Nghị định  58/CP; Quy định: Người được thi hành án có yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án phải trả các chi phí thực tế, hợp lý cho việc xác minh
         Luật chưa quy định chi phí đó là bao nhiêu, tính trên căn cứ nào. Mặt khác công chức Nhà nước trả lương để làm công tác thi hành án được hưởng thêm chi phí từ người phải thi hành án là không hợp lý. Vì người được thi hành án đã phải nộp phí thi hành án là 3% trên số tiền thi hành được,  quy định này lại buộc người được thi hành án phải trả thêm các chi phí thực tế, hợp lý cho việc xác minh làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án và còn dẫn đến tình trạng tiêu cực trong việc chi trả tiền xác minh thế nào là đủ, là hợp lý.
19. Điều 32 Nghị Định 58/CP; Quy định về miễn giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
          Khoản 3 Điều 32 của Nghị định này quy định mức miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án, tại điểm a, c khoản 1 được xét giảm 50%. Nhưng đối với trường hợp tại điểm b, khoản 1 là đối tượng thuộc diện gia đình chính sách, có công với Cách mạng thì mức giảm là bao nhiêu không quy định.
20. Luật thi hành án dân sự quy định về định giá tài sản kê biên do Tổ chức dịch vụ thẩm định giá tiến hành. Việc giảm giá do Chấp hành viên quyết định và mỗi lần giảm giá không quá 10% giá trị tài sản đồng thời không hạn chế số lần giảm giá mà có giảm giá cho đến khi bán được tài sản (giảm giá để bán đến khi giá không thấp hơn mức chi phí thì thôi)
           Hiện nay không có văn bản hướng dẫn trình tự, thủ tục và các căn cứ để Chấp hành viên quyết định giảm giá, trong khi Chấp hành viên không có kiến thức chuyên môn về giá. Điều này dễ dẫn đến sự tùy tiện, không rõ ràng, dễ phát sinh khiếu nại nếu không được hướng dẫn, giám sát của các cơ quan chức năng.
21. Luật chưa quy định về tính lãi xuất quá hạn trong thi hành án
          Theo khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự, chậm trả thì phạt mức 150% của lãi suất cơ bản. Theo Điều 306 Luật Thương mại quy định chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường.
22. Khoản 1 Điều 31 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án phải có "thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án".
      Luật quy định như vậy sẽ gây khó khăn cho người được thi hành án, nhất là người ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, ít va chạm không am hiểu về pháp luật. Đa số những người này không thể có được thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; hơn nữa pháp luật thực định chưa có một văn bản nào quy định cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án phải cung cấp thông tin cho người được thi hành án khi họ yêu cầu.  Đồng thời pháp luật hiện tại về tài sản, tài khoản, nguồn thu nhập là bí mật thông tin của cá nhân được pháp luật bảo vệ, không thể tùy tiện cung cấp, chỉ được phép cung cấp khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền ... Quy định trên gây rất nhiều tốn kém, chi phí đi lại cho người được thi hành án. Mặt khác dù người được thi hành án có cung cấp thông tin về tài sản và điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên vẫn phải đi xác minh lại cụ thể. Do vậy, không nên bắt buộc người được thi hành án phải cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
   
     - 25 nội dung cần được liên ngành Trung ương hướng dẫn:     
1. Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức Chấp hành viên và Thư ký thi hành án dân sự. Quy định: "Chức trách Chấp hành viên sơ cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ thi hành án dân sự, có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thi hành án đối với những vụ việc đơn giản lượng tiền, tài sản phải thi hành án có giá trị nhỏ thuộc thẩm quyền thi hành của Cục thi hành án dân sự, Chi cục thi hành án dân sự và Phòng thi hành án cấp quân khu"
       Thực tế cho thấy, tại các Cục thi hành án dân sự tỉnh có Chấp hành viên sơ cấp . Vậy, Chấp hành viên sơ cấp được tổ chức thi hành những việc như thế nào thì được gọi là việc đơn giản, lượng tiền là bao nhiêu, tài sản có giá trị nhỏ là bao nhiêu? Chấp hành viên sơ cấp của Cục thi hành án dân sự có được ký tên và đóng dấu của Cục thi hành án dân sự hay không?
2. Điều 60 Luật thi hành án dân sự; Quy định:  Người được thi hành án phải nộp phí thi hành án dân sự.
       Đối với những vụ việc người được THA có đơn yêu cầu THA nhưng sau đó các đương sự tự nguyện thi hành án, người được THA không có đơn rút yêu cầu, Cơ quan THADS chưa có Quyết định cưỡng chế và người phải thi hành án tự nguyện nộp tiền cho Cơ quan THADS, Thông tư liên tịch 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 22 tháng 9 năm 2010 chưa quy định.
3. Điều 117 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Về cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
       Luật THADS khi người mua trúng đấu giá quyền sử dụng đất, Cơ quan THADS đã tiến hành cưỡng chế, giao các giấy tờ, thủ tục đã hoàn tất nhưng sau đó người phải thi hành án chiếm lại, bên được giao đất không biết kiện ở đâu, Cơ quan THADS thì cho rằng khi giao quyền sử dụng đất cho người mua trúng đấu giá xong là hết trách nhiệm. Do đó liên ngành Trung ương cần có hướng dẫn cụ thể xử lý những trường hợp này.
4. Khoản 1, 2  Điều 128; Khoản 3 Điều 180 Luật thi hành án dân sự; Quy định về thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù.  Đến nay đã có văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền.
5. Khoản 2 Điều 33 Nghị Định 58/CP; Quy định: Thủ trưởng Cơ quan THADS ra quyết định thu phí thi hành án để thực hiện việc thu phí khi chi trả tiền hoặc tài sản cho người được thi hành án
        Đối với những trường hợp sau khi có quyết định thi hành án, người phải thi hành án trả tiền hoặc giao hiện vật trực tiếp cho người được thi hành án, không thông qua Cơ quan THADS, thì có thu phí thi hành án không?
6. Thông tư số 22/2011/TT-BTP ngày 02/12/2011; Quy định: Hướng dẫn thực hiện một số thủ tục trong quản lý hành chính về thi hành án dân sự.
       Không hướng dẫn cụ thể các khoản tiền phạt và tịch thu từ các vụ án về ma túy phải nộp vào tài khoản của Sở tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước theo quy định tại Thông tư liên tịch số 144/2009/TTLT-BTC-BCA ngày 16/7/2009 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng quỹ phòng chống ma túy theo quy định tại Quyết định số 110/2008/QĐ-TTg ngày 13/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, quản lý và sử dụng quỹ phòng chống ma túy. Do vậy nhiều Cơ quan THADS khi xử lý các khoản tiền này đều nộp sung công quỹ Nhà nước mà không nộp vào Sở Tài chính theo Thông tư liên tịch số 114/2009 ngày 16/7/2009 quy định.
7. Khoản 2 Điều 58 Luật thi hành án dân sự; Quy định: “Tài sản là kim khí quý, đá quý, tiến hoặc giấy tờ có giá được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước”.
       Nhưng trên thực tế do Kho bạc Nhà nước không có chức năng kiểm định chất lượng vàng nên có Kho bạc Nhà nước huyện không nhận vàng do Chi cục THADS tạm gửi; hoặc có một số đồng tiền nước ngoài như đồng Yên Nhật, đồng Kíp Lào là tang vật của một số vụ án, Tòa án tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước nhưng đã nhiều năm nay, Kho bạc Nhà nước không nhận với lý do những đồng tiền này không thông dụng, dẫn đến một số việc THA tồn đọng không có biện pháp giải quyết.
8. Khoản 3 Điều 70 Luật thi hành án dân sự ; Quy định: "Quyết định cưỡng chế thi hành án trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án
           Cơ quan THADS ra Quyết định cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án có điều kiện thi hành án và ấn định ngày kê biên trong khi chưa thực hiện việc cưỡng chế thì Tòa án ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản của người phải thi hành án nói trên thuộc một vụ kiện dân sự khác, Cơ quan THADS đã thực hiện Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, mặt khác đến ngày ấn định cưỡng chế Cơ quan THADS lại tiếp tục cưỡng chế kê biên tài sản nói trên. Như vậy, một tài sản là đối tượng của hai Quyết định, Quyết định cưỡng chế của Cơ quan THADS và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án. Đề nghị cần có văn bản hướng dẫn để áp dụng thống nhất.
9. Điểm đ khoản 2 Điều 87 Luật thi hành án dân sự; Quy định:  Đối với tài sản không được kê biên “Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải THA và gia đình”.
           Theo quy định trên thì thế nào là công cụ lao động có giá trị không lớn? Và nếu vẫn là công cụ lao động nhưng có giá trị lớn hơn nghĩa vụ họ phải thi hành án thì công cụ lao động này có bị kê biên không lại chưa có văn bản giải thích.
10. Khoản 2 Điều 116 Luật thi hành án dân sự; Quy định: "Đối với giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được thì Thủ trưởng Cơ quan THADS ra Quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án và hướng dẫn đương sự khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết
    Vướng trong thực tế đương sự không khởi kiện vì cho rằng Tòa đã giải quyết trả giấy tờ ( loại không thể cấp lại được) và đã có hiệu lực pháp luật. Hơn nữa về phía Tòa án thì cho rằng nếu đương sự khởi kiện thì Tòa án sẽ ra quyết định trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLDS.  Hiện chưa có hướng dẫn.
11. Khoản 2  Điều 126 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Sau khi có quyết định trả lại tiền Chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền. Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo mà đương sự không đến nhận lại tiền thì Chấp hành viên phải gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn
        Đây là 1 bất cập trong thực tế hiện nay, nếu số tiền trả lại cho đương sự chỉ có 50.000đ thì không mở được tài khoản tiết kiệm nên hiện nay số tiền trả lại dự phí, án phí còn tồn nhiều.
        Trường hợp trả lại tiền, tài sản tạm giữ cho người được THA hết thời hạn 3 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng thì Chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các Điều 98.99 và 101 của Luật THADS và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự; nhưng trường hợp số tiền không lớn, tài sản có giá trị nhỏ người được thi hành án ở xa không đến nhận, hoặc không đến nhận do chi phí đi lại tốn kém hơn số tiền họ được nhận hoặc người được THA không có mặt ở địa chỉ nơi cư trú theo bản án, nếu để theo dõi hết 5 năm mới xử lý theo quy định thì số việc tồn đọng ngày càng nhiều.  Cần hướng dẫn để giải quyết các việc loại này.
12. Khoản 3 Điều 126 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định.
         Thực tế có những trường hợp giấy tờ không có giá trị sử dụng (giấy phép lái xe quá hạn) hoặc cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài thì việc thực hiện trả lại giấy tờ là không cần thiết hoặc rất khó khăn. Luật quy định hết thời hạn 1 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định; tuy nhiên pháp luật chưa quy định trường hợp cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài thì thực hiện trả lại giấy tờ như thế nào, hoặc cơ quan ban hành là cấp Trung ương chứ không phải địa phương thì bàn giao cho ai, ai có trách nhiệm nhận bàn giao.
13. Điều 176, 177, 178 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng, Tổ chức tín dụng, bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản trong việc cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin.
          Nội dung Điều luật chỉ dừng lại trách nhiệm thực hiện chứ chưa quy định chế tài, biện pháp xử lý nếu vì một lý do nào đó họ cố tình chậm hoặc không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên, chưa có quy định cụ thể.
14. Điều 179 Luật thi hành án dân sự; Quy định: Điều luật quy định trách nhiệm của cơ quan ra bản án, quyết định trong thi hành án.
     Nếu bản án, quyết định đã được Tòa án giải thích nhiều lần mà cũng không rõ, đương sự không đồng ý, chính quyền địa phương không đồng tình thì cần phải có biện pháp nào để việc thi hành án sớm được thi hành.
15. Khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 ; Quy định: đối với nghĩa vụ liên đới không xác định rõ phần nghĩa vụ của từng người, Chấp hành viên có quyền yêu cầu 1 hoặc 1 số người có điều kiện thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới
       Trong trường hợp này đề nghị cần bổ sung thêm quy định, nếu những người cùng thực hiện nghĩa vụ liên đới đều có điều kiện THA mà người được THA yêu cầu tất cả những người này cùng thực hiện nghĩa vụ, thì Chấp hành viên phải lập biên bản về việc thỏa thuận THA của những người cùng có nghĩa vụ liên đới, hoặc trong trường hợp cụ thể người vay và người bảo lãnh đều có tài sản, Chấp hành viên phải xử lý tài sản của người vay trước
16. Luật thi hành án dân sự chưa quy định trách nhiệm cho Tòa án ra Quyết định thi hành án phạt tù và trách nhiệm của Trại giam, Trại tạm giam nơi tiếp nhận bị án phạt tù phải có trách nhiệm gửi Quyết định và thông báo cho Cơ quan THADS cùng cấp với Tòa án xét xử bản án sơ thẩm
       Cơ quan THADS không biết được nơi chấp hành hình phạt tù của người phải thi hành án dân sự, gây khó khăn cho Cơ quan THADS trong việc xác định nơi chấp hành hình phạt tù và việc tổ chức thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù.
17. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, UBND trong việc xác nhận về tài sản thi hành án, phối hợp tham gia công tác thi hành án; Quy định: Luật quy định, người được thi hành án có nghĩa vụ xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, các cơ quan, tổ chức và UBND các cấp có trách nhiệm xác nhận tài sản, nguồn gốc thu nhập của người phải thi hành án cho người được thi hành án khi người được thi hành án có yêu cầu.
      Trong thực tế, người được thi hành án gặp rất nhiều khó khăn khi yêu cầu các cơ quan, tổ chức, UBND các cấp, nơi người phải thi hành án làm việc, cư trú xác nhận tài sản của người phải thi hành án. Phần lớn các cơ quan, tổ chức và UBND các cấp chỉ đồng ý xác nhận những tài sản là đất đai, nhà ở (những tài sản buộc phải đăng ký), còn những tài sản khác thì không xác nhận. Điều này gây ảnh  hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án, gây khó khăn cho công tác thi hành án.
 18. Luật Thi hành án dân sự chưa quy định thời hạn Cơ quan THADS chuyển hoặc cung cấp hồ sơ cho Viện kiểm sát khó khăn cho quá trình kiểm sát nhất là việc lập hồ sơ các trường hợp hoãn, trả đơn, đình chỉ, tạm đình chỉ. Hồ sơ cung cấp là hồ sơ gốc hay hồ sơ sao, hồ sơ photocopy.
19. Luật Thi hành án dân sự chưa quy định cụ thể về thi hành án dân sự đối với bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài
             Việc thi hành án dân sự đối với bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài, hiện nay chưa có quy định cụ thể về thủ tục ủy thác tư pháp quốc tế về thi hành án dân sự, việc xác minh điều kiện thi hành án và thi hành án tại nước ngoài như thế nào; dẫn đến, việc thi hành án đối với người nước ngoài gặp nhiều khó khăn, nhiều việc không thể thi hành được, nhất là những việc người ngước ngoài phải có nghĩa vụ thi hành các khoản phải nộp cho ngân sách Nhà nước, mà không có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam, sau khi bị trục xuất về nước, thì không thể thi hành được.
20. Chưa có hướng dẫn về cưỡng chế cấp dưỡng nuôi con
           Đối với cấp dưỡng nuôi con, người phải thi hành án nếu là nông dân chỉ có đất ruộng không có tài sản nào khác, phần cấp dưỡng mỗi tháng thường bằng 1/2 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Nếu người phải thi hành án chưa cấp dưỡng như vậy có được quyền kê biên đất ruộng để thi hành án không? Nếu kê biên thì số tiền phải thi hành án tại thời điểm kê biên quá nhỏ so với đất ruộng, hay phải đợi đến số tiền cấp dưỡng tương đương phần đất ruộng thì mới kê biên? Như vậy thì mất khoản thời gian khá lâu mới thành được trong khi người nuôi con cần. Trường hợp này giải quyết thế nào cho thỏa đáng? ở địa phương Cơ quan THADS đợi đến số tiền cấp dưỡng tương đương phần đất ruộng thi mới kê biên.
21. Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn chưa quy định cụ thể về cưỡng chế thi hành án đối với cơ quan Nhà nước hoạt động bằng ngân sách
Đề nghị liên ngành có Thông tư hướng dẫn
22. Khoản 3 Điều 13 và khoản 4 Điều 13  Luật Đặc xá quy định trách nhiệm của người phải chấp hành hình phạt tù để được xem xét đặc xá: "Chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác sau khi được đặc xá" và "Cam kết không vi phạm pháp luật, tiếp tục chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác sau khi được đặc xá" .
       Luật quy định như vậy nhưng chưa có văn bản nào hướng dẫn ràng buộc sau khi người được đặc xá ra trại về địa phương phải thực hiện đầy đủ và thực hiện đúng những điều trong cam kết trước đây. Vì vậy, việc tổ chức thi hành án dân sự của Chấp hành viên Cơ quan THADS đối với người chấp hành hình phạt tù sau khi đặc xá rất khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác thi hành án dân sự
23. Điều 25 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân;  Quy định: Cơ quan thi hành án phải có trách nhiệm trả lời yêu cầu của Viện kiểm sát trong thời hạn 30 ngày.
Luật thi hành án và các văn bản hướng dẫn chưa quy định về vấn đề này.
      III. Một số đề xuất giải pháp tháo gỡ
1. Đề nghị Bộ Tư­ pháp chủ động phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao,VKSND tối cao nghiên cứu trình Chính phủ đề nghị với Quốc hội cho xây dựng đề án sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự với thời gian sớm hơn. Trư­ớc mắt đề nghị trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế  Nghị định số 58/2009/NĐ- CP ngày 13/7/2009 về thủ tục thi hành án dân sự.
Tăng cư­ờng công tác chỉ đạo và phối hợp liên ngành cùng với việc phát huy trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, tập trung chỉ đạo giải quyết các vụ việc thi hành án tồn đọng, phức tạp; đồng thời tăng cư­ờng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho công dân.
        2. Đề nghị Bộ Tư­ pháp chủ trì phối hợp với Ngân hàng, Kho bạc, Bảo hiểm xã hội... xây dựng Thông tư­ liên tịch về mối quan hệ công tác trong thi hành án dân sự theo quy định của Luật THADS. VKSND tối cao cùng Bộ T­ư pháp thống nhất một số điểm còn vư­ớng mắc trong quá trình phối hợp thực hiện công tác thi hành án dân sự và kiểm sát thi hành án dân sự, bổ sung sửa đổi Thông tư­­ liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-VKSTC-TATC ngày 26/7/2010 về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.
         3. Các ngành tư­ pháp Trung ­ương đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành Thông t­ư liên tịch hư­ớng dẫn thi hành Luật thi hành án dân sự; Phối hợp rà soát những khó khăn, vư­ớng mắc phát sinh trong quá trình hoạt động để thống nhất h­ướng dẫn các ngành ở địa phư­ơng thực hiện.
        Bộ T­ư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, VKSND tối cao cần xây dựng cơ chế rà soát và xử lý đối với những trư­ờng hợp bản án, quyết định không rõ, có sai sót gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự và kiểm sát thi hành án dân sự.
        Bộ Tư­ pháp, VKSND tối cao, Bộ Công an, TAND tối cao cần xây dựng các Thông t­ư hư­ớng dẫn thi hành một số loại tội đ­ược qui định tại Điều 304, 305, 306 Bộ luật hình sự nhằm xử lý dứt điểm những vụ việc không chấp hành án, cản trở THA, hỗ trợ tối đa công tác THA dân sự.
          4. Trước mắt trong năm 2013 đề nghị Bộ Tư pháp cùng VKSND tối cao tiếp tục phối hợp chỉ đạo thực hiện tốt việc phân loại điều kiện thi hành án và kiểm sát việc phân loại; tập trung làm rõ trách nhiệm của Cơ quan thi hành án dân sự, của Chấp hành viên trong việc tổ chức thực hiện các việc thi hành án dân sự có điều kiện nhưng chưa thi hành; ban hành các Thông tư về báo cáo, thống kê trong công tác thi hành án dân sự và kiểm sát thi hành án dân sự; về mối quan hệ phối hợp trong công tác thi hành án dân sự./.
 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu chung về Bắc Ninh

1. Vị trí địa lý Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Công ty CP đấu giá Kinh Bắc
Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Báo điện tử Dân trí