08:06 EST Thứ tư, 14/11/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 37

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 36


Hôm nayHôm nay : 5474

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 93708

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9187699

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN

Góp ý vào Dự thảo Luật SĐBS Luật THADS 2008

Thứ tư - 24/09/2014 22:51
Góp ý vào Dự thảo Luật SĐBS Luật THADS 2008

Góp ý vào Dự thảo Luật SĐBS Luật THADS 2008

Thực hiên sự chỉ đạo của Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp tại công văn số 2714/TCTHADS-TBT ngày 29/8/2014 và theo yêu cầu của Đoàn Đại biểu Quốc Hội tỉnh Bắc Ninh, Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo các Chi cục Thi hành án dân sự và các đơn vị trực thuộc tổ chức cho cán bộ, công chức đóng góp ý kiến vào Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2008 (Dự thảo ngày 28/8/2014 do Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh chuyển sang). Ngày 18,19/9/2014 Cục còn tổ chức Hội nghị toàn tỉnh lấy ý kiến đóng góp trực tiếp vào dự thảo Luật. Tổng hợp ý kiến đóng góp, Cục THADS tỉnh Bắc Ninh báo cáo Đoàn ĐBQH tỉnh như sau:

TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỈNH BẮC NINH
 
Số: 955/CTHADS-BC
 
V/v: Góp ý vào Dự thảo Luật SĐBS một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 
 
Bắc Ninh, ngày 20 tháng 9 năm 2014


 
 
              Kính gửi: Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh
 
Qua 5 năm thi hành Luật Thi hành án dân sự, công tác Thi hành án dân sự đã từng bước đi vào nề nếp và có nhiều những chuyển biến tích cực đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội đất nước. Tổ chức bộ máy được kiện toàn, thể chế thi hành án dân sự ngày càng hoàn thiện, sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn, tỷ lệ thi hành án xong tăng lên đáng kể...
Mặc dù kết quả thi hành án có tăng lên so với trước khi có Luật nhưng chưa thật bền vững và chưa hoàn thành chỉ tiêu theo Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc hội. Bên cạnh đó trong quá trình thực hiện Luật đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự đổi mới của đất nước. Lượng việc thi hành án tồn đọng tuy có giảm nhưng số việc và tiền chuyển sang năm sau vẫn còn rất lớn và có xu hướng tăng lên. Việc tổ chức thi hành án trong nhiều vụ việc còn chưa kịp thời, gặp khó khăn, vướng mắc, trong đó có những trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ ràng, thiếu khả thi nhưng việc trả lời của Tòa án đối với yêu cầu của cơ quan Thi hành án về giải thích bản án còn chậm, nhiều trường hợp dẫn đến khiếu nại, tố cáo gay gắt, kéo dài, là cớ để khiếu kiện vượt cấp. Thủ tục thi hành án còn rườm rà, phức tạp, thời gian làm thủ tục theo quy định còn quá dài dẫn đến kết quả thi hành nhiều vụ, việc rất chậm, gây bức xúc trong nhân dân và tạo dư luận xấu trong xã hội. Do vậy, để Luật Thi hành án dân sự đi vào thực tiễn cuộc sống, thật sự hiệu quả và có sự chuyển biến tích cực thì việc sửa đổi, bổ sung những bất cập của Luật là điều tất yếu.
Thực hiên sự chỉ đạo của Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp tại công văn số 2714/TCTHADS-TBT ngày 29/8/2014 và theo yêu cầu của Đoàn Đại biểu Quốc Hội tỉnh Bắc Ninh, Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo các Chi cục Thi hành án dân sự và các đơn vị trực thuộc tổ chức cho cán bộ, công chức đóng góp ý kiến vào Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2008 (Dự thảo ngày 28/8/2014 do Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh chuyển sang). Ngày 18,19/9/2014 Cục còn tổ chức Hội nghị toàn tỉnh lấy ý kiến đóng góp trực tiếp vào dự thảo Luật. Quá trình thảo luận, các ý kiến đều tán thành việc sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự nhằm hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, tiếp tục tạo chuyển biến căn bản, bền vững, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, góp phần bảo đảm thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án Nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Đối với những quy định cụ thể trong Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án năm 2008 (Dự thảo ngày 28/8/2014 do Đoàn Đại biểu Quốc Hội tỉnh Bắc Ninh chuyển đến), Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh xin tổng hợp ý kiến tham gia vào 18 vấn đề (trong báo cáo này gọi là mục) theo thứ tự 47 mục trong Dự thảo Luật và báo cáo như sau:
1. Mục 4 (Điều 7 Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án):
Theo quan điểm của chúng tôi thì việc người được thi hành án làm Đơn yêu cầu thi hành án (trừ những việc cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành) là cần thiết với các lý do sau:
Thứ nhất là bảo đảm nguyên tắc về "quyền tự định đoạt" của người được thi hành án theo quy định của Bộ Luật Dân sự (quyền yêu cầu thi hành án, quyền yêu cầu không tổ chức thi hành án, quyền thỏa thuận thi hành án...);
Thứ hai là tránh tình trạng cơ quan thi hành án cứ chủ động ra quyết định thi hành án trong khi người được thi hành án không đề nghị thi hành dẫn đến phát sinh rất nhiều thủ tục không cần thiết khi người được thi hành án bày tỏ quan điểm yêu cầu không tổ chức thi hành án;
Thứ ba là Đơn yêu cầu thi hành án còn là căn cứ thể hiện ý chí và trách nhiệm của người được thi hành án đối với việc tổ chức thi hành án, tạo điều kiện thuận lợi khi cần sự phối hợp của đương sự trong quá trình tổ chức thi hành án.
Chính vì vậy, đề nghị bổ sung vào điểm a khoản 1 trong Dự thảo về quyền yêu cầu thi hành án như sau:
"1. Người được thi hành án có các quyền sau đây:
a) Đề nghị cơ quan quan thi hành án tổ chức thi hành án, không tổ chức thi hành án, hoãn, đình chỉ thi hành án;"
2. Mục 5 (Điều 7a Quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành án):
Để bảo đảm chặt chẽ hơn, tránh kẽ hở dẫn đến đương sự có thể "lách Luật", đề nghị bổ sung vào điểm a, c, g khoản 1 về quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành án trong Dự thảo như sau:
"1. Người phải thi hành án có các quyền sau đây:
a) Đề nghị cơ quan quan thi hành án tổ chức thi hành án, Tự nguyện thi hành án;
...
c) Thỏa thuận...; tự nguyện giao tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật;
 ...
g) Được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật;"
3. Mục 7 (Khoản 2 Điều 12 Giám sát và kiểm sát việc thi hành án):
Thứ nhất: Nhằm tránh tình trạng chồng chéo quy định về thẩm quyền trong việc giám sát và kiểm sát hoạt động thi hành án của cơ quan Viện kiểm sát. Tránh tình trạng cơ quan thi hành án dân sự có thể chịu sự kiểm sát của nhiều cơ quan Viện kiểm sát và nâng cao trách nhiệm của cơ quan kiểm sát cùng cấp. Đề nghị bỏ cụm từ “và cấp dưới” được quy định tại điểm b, c, đ khoản 2 Điều 12 và cụm từ "tự kiểm tra việc thi hành án và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân" tại điểm b khoản 2 điều 12 và bổ sung yêu cầu cung cấp hồ sơ khi có đấu hiệu vi phạm hoặc đơn thư khiếu nại tố cáo. Theo đó, điều luật trong Dự thảo nên được sửa đổi như sau:
"2. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc thi hành án dân sự nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật.
Khi kiểm sát thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
...
b) Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến việc thi hành án ra quyết định thi hành án, gửi các quyết định về thi hành án đúng quy định của pháp luật; thi hành đúng bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng có liên quan đến việc thi hành khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
c) Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan; ban hành kết luận kiểm sát khi kết thúc việc kiểm sát;
...
đ) Kiến nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng hoặc vi phạm pháp luật xảy ra nhiều lần của Toà án, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm; kiến nghị cơ quan, tổ chức có liên quan có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn tới vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp phòng ngừa;”
Thứ hai: Quy định như dự thảo luật vẫn chưa rõ ràng về phạm vi và trách nhiệm của Viện Kiểm sát. Lâu nay Viện Kiểm sát hầu như chỉ thực hiện việc kiểm sát đối với cơ quan Thi hành án dân sự và Chấp hành viên mà hầu như không đụng tới đương sự và không rõ trách nhiệm kiểm sát các cơ quan, tổ chức trong việc phối hợp thực hiện công tác thi hành án dân sự. Như vậy, để đôn đốc, kiểm tra, giám sát các hành vi, quyết định của các cơ quan, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết thi hành án, cần bổ sung thêm vào điểm đ khoản 2 điều 12 của Dự thảo nội dung: kiến nghị hành vi, quyết định của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc giải quyết thi hành án.
 “đ) Kiến nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng hoặc vi phạm pháp luật xảy ra nhiều lần của Toà án, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm; kiến nghị cơ quan, tổ chức có liên quan có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn tới vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp phòng ngừa. Kiến nghị hành vi, quyết định của các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan làm ảnh hưởng đến việc giải quyết thi hành án.
Thứ ba: Nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, cần bổ sung thêm điểm h vào khoản 2 trong Dự thảo về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc phối hợp tham gia cưỡng chế và giải quyết thi hành án như sau:
"Khi kiểm sát thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
.........
g) Kiểm sát việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân;
h) Cử Kiếm sát viên tham gia đầy đủ các việc cưỡng chế thi hành án. Trong trường hợp vụ việc phức tạp, khi có đề nghị của cơ quan thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân cử Kiểm sát viên tham gia phối hợp giải quyết việc thi hành án .”
4. Mục 9 (Điều 26 Hướng đẫn quyền và nghĩa vụ thi hành án):
Để bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của đương sự, đề nghị bổ sung thêm vào Dự thảo Luật như sau:
"Khi ra bản án, quyết định,..., quyền yêu cầu thi hành án, quyền không yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và cơ quan có thẩm quyền thi hành."
5. Mục 12 (Điều 35 Thẩm quyền thi hành án):
  Hiện nay chưa có Tòa án khu vực, nên đề nghị nghiên cứu quy định tại điều này về tên gọi của Tòa án cho phù hợp.
6. Mục 13 (Điều 36 Ra quyết định thi hành án):
Đề nghị giữ nguyên như Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và chỉ bổ sung nội dung về quyết định phân công chấp hành viên tổ chức thi hành chức thi hành. Lý do: Giữ nguyên ra quyết định thi hành án gồm hai loại quyết định là Quyết định thi hành án chủ động và quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu (chúng tôi đã giải trình lý do về Đơn yêu cầu thi hành án ở trên).
7. Mục 14 (Điều 38 Gửi quyết định về thi hành án):
Quy định trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp như trong Dự thảo là không hợp lý về mặt thời gian. Những việc có nhiều đối tượng thi hành, phải ra nhiều quyết định thi hành án, trong thực tế cơ quan thi hành án không thể gửi kịp trong thời hạn 02 ngày dẫn đến những vi phạm không đáng có.
Vì vậy, đề nghị sửa lại như sau: "Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp".
8. Mục 15 (Điều 44 Xác minh điều kiện thi hành án):
Về mặt lý luận thì người được thi hành án phải có trách nhiệm xác minh, cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thi hành án trong quá trình tổ chức thi hành án đồng thời người được thi hành án cũng trực tiếp nắm bắt được về tài sản, điều kiện của người phải thi hành án. Tuy nhiên qua thực tế kiểm nghiệm thì việc xác minh điều kiện thi hành án (kể cả do Chấp hành viên thực hiện) luôn gặp phải khó khăn nhất định. Vì vậy cần quy định rõ trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án thuộc về Chấp hành viên. Xuất phát từ thực tiễn trong công tác xác minh điều kiện thi hành án, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh đề nghị sửa đổi Luật Thi hành án dân sự theo hướng sau:
Khoản 1 đề nghị không nên quy định về thời hạn kê khai, cung cấp; bỏ đoạn: "Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà" và bổ sung thêm theo yêu cầu của chấp hành viên. Theo đó, khoản 1 quy định như sau:
"1. Người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải kê khai, cung cấp thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của mình với cơ quan thi hành án theo yêu cầu của Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình."
Khoản 2 đề nghị không nên quy định về thời hạn xác minh, bỏ đoạn: "Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án. Chấp hành viên phải tiến hành xác minh" và bổ sung thêm theo yêu cầu của chấp hành viên. Quy định như vậy làm chậm tiến độ thi hành án và làm mất tính chủ động của Chấp hành viên, thâm chí là điều kiện tốt để người phải thi hành án tẩu tán tài sản. Theo đó, khoản 2 trong Dự thảo nên quy định như sau:
"2. Chấp hành viên có trách nhiệm chủ động, kịp thời xác minh điều kiện thi hành án. Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay."
Khoản 3 điểm a nên bổ sung thêm cho phù hợp với thực tiễn như sau:
"3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên:
a) Xuất trình thẻ Chấp hành viên hoặc giấy giới thiệu của Cơ quan thi hành án có thẩm quyền;"
Bổ sung như trên để tạo thuận lợi cho Chấp hành viên trong trường hợp chưa được cấp, đổi thẻ Chấp hành viên hoặc các trường hợp bất khả kháng khác.
Khoản 7 đề nghị sửa cụm từ "quyết định việc chưa có điều kiện thi hành án". Trong thực tế thì sau khi có kết quả xác minh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định khác nhau căn cứ vào kết quả xác minh của Chấp hành viên. Vì vậy đề nghị quy định như sau:
"7. Căn cứ kết quả xác minh và quy định tại Điều 44a của Luật này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra các quyết định về thi hành án."
9. Mục 19 (Điều 48 Hoãn thi hành án):
Đề nghị bổ sung thêm điểm d vào khoản 1 như điểm c Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Cụ thể bổ sung như sau:
"1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a)...
b)...
c)...
d) Người phải thi hành án về các khoản nộp ngân sách nhà nước không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản đó không đủ chi phí chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loại không được kê biên."
10. Mục 21 (Điều 52 Kết thúc thi hành án):
Để phù hợp với quan điểm về Đơn yêu cầu thi hành án (như đã giải trình trên đây), đề nghị bổ sung thêm khoản 3 như sau:
"Việc thi hành án đương nhiên kết thúc trong các trường hợp sau đây:
1....
2....
3. Có quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án ."  
11. Mục 23 (Điều 61 Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước):
Để giảm lượng án tồn đọng, đảm bảo các điều kiện phù hợp với chính sách hình sự và các nguyên tắc quy định của Bộ luật hình sự, Luật thi hành án hình sự. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định tại Điều 61 là cần thiết, phù hợp và đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật.Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh đề nghị sửa đổi Luật Thi hành án dân sự theo hướng giảm về thời gian và tăng về số tiền miễn, giảm như sau:
Khoản 1 điểm b quy định như sau:
"1. Người phải thi hành án có thể được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:
a)...
b) Hết thời hạn 03 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án khoản nộp ngân sách nhà nước đối với khoản án phí không có giá ngạch.
c) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 10.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án khoản nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng."
Khoản 2 điểm b quy định như sau:
"2. Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước có thể được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 10.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng."
Khoản 3 quy định như sau:
"Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước thì có thể được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá 1/3 số tiền còn lại phải thi hành án;
c) Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá 1/4 số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng/lần."
12. Mục 27 (Điều 69 Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản):
Điều này quy định về biện pháp ngăn chặn, vì vậy không nên quy định về trách nhiệm của Chấp hành viên yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, vì khi kê biên nếu phát sinh tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo yêu cầu của đương sự.
Khoản 3, đoạn 2 nên bỏ quy định:
"3. Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản và yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản theo quy định của pháp luật."
13. Mục 30 (Điều 75 Xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án, giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án):
Theo Dự thảo thì quy định Chấp hành viên sau khi hướng dẫn nhưng đương sự không khởi kiện, Chấp hành viên phải yêu cầu tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết để xác định, phân chia tài sản chung. Quy định như vậy là không hợp lý, trái nguyên tắc về quyền và nghĩa vụ của đương sự phải tuân thủ pháp luật cụ thể là phải khởi kiện, yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Nếu quy định trách nhiệm bắt buộc của Chấp hành viên sẽ dẫn đến nhiều vụ việc bị tồn đọng, kéo dài và hầu hết các vụ việc đều phải do Chấp hành viên thực hiện. Hơn nữa, Chấp hành viên không thể thay đương sự khởi kiện ra tòa án, trái với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong Bộ Luật Dân sự.
Để tăng trách nhiệm, nghĩa vụ của đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, đề nghị Khoản 1 điều này bỏ đoạn: "...yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung. Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền.".
Khoản 1 trong Dự thảo đề nghị quy định như sau:
"1. Trong trường hợp cần xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên hướng dẫn các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền.
Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được hướng dẫn mà đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án."
Khoản 2 quy định: chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung theo giá đã định trước khi bán tài sản lần đầu là 3 tháng đối với bất động sản, một tháng đối với động sản, đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày. Việc quy định như vậy là bất cập, không phù hợp với thực tế. Quy định này làm kéo dài thời gian thi hành án, làm tăng lượng án tồn đọng, xâm phạm quyền lợi của người được thi hành án. Tài sản chung đã được xác định giá (Cơ quan thẩm định hoặc Chấp hành viên thực hiện) và đưa ra bán công khai, chủ sở hữu chung đã được thực hiện quyền ưu tiên trong thời hạn 3 tháng nhưng không thực hiện quyền ưu tiên mua. Vì vậy những lần bán tiếp theo chủ sở hữu chung phải bình đẳng với những người khác. Thực tế thì việc xử lý tài sản mất rất nhiều thời gian, thủ tục, vì vậy chỉ nên quy định chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên một lần.
Do vậy, đề nghị khoản 2 trong Dự thảo bỏ đoạn: " ..., đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo hợp lệ.."
Theo dự thảo bỏ tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng. Đây là loại tài sản mang tính đặc thù và được Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh.
Vì vậy, đề nghị bổ sung vào Khoản 2 như sau:
"Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu chung của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ".
Như trên đã phân tích việc đề nghị tòa án phân chia, xác định quyền sử dụng tài sản thuộc trách nhiệm của đương sự, Chấp hành viên không có trách nhiệm và không có quyền đề nghị Tòa án làm việc này. Do vậy, đề nghị bỏ khoản 5 trong Dự thảo:
"5. Trường hợp Chấp hành viên đề nghị Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản để thi hành án thì không phải nộp tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí và không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án."
14. Mục 32 (Điều 103 Giao tài sản bán đấu giá, tài sản nhận để thi hành án):
Qua thực tiễn việc giao tài sản bán đấu giá trong trường hợp bản án bị sửa hủy theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm việc giải quyết rất phức tạp.
Đề nghị nghiên cứu trong trường hợp bản án bị sửa hủy theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm mà cơ quan thi hành án chưa giao tài sản thì pháp luật nên quy định theo hướng không giao tài sản cho người trúng đấu giá và quy định về trách nhiệm bồi thường Nhà nước cho người trúng đấu giá. Việc xử lý tài sản đã bán đấu giá thành phải thực hiện lại theo bản án giám đốc thẩm, tái thẩm.
15. Mục 33 (Điều 104 Xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, trả giá, bán đấu giá không thành):
Theo chúng tôi, khi bán đấu giá lần đầu mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc tài sản bán đấu giá không thành thì quy định cho người được thi hành án có quyền nhận tài sản đó để trừ vào số tiền được thi hành án nhằm giữ được giá trị của tài sản bán đấu giá và rút ngắn thời gian xử lý vụ việc, góp phần giảm án tồn đọng. Vì vậy, đề nghị bổ sung vào dự thảo nội dung trên như sau:
"1. Sau khi bán đấu giá tài sản lần đầu mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc tài sản bán đấu giá không thành, người được thi hành án có yêu cầu nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết và làm các thủ tục giao tài sản cho người được thi hành án theo quy định của phâp luật.
Khoản 2, điểm a quy định sau hai lần giảm giá người được thi hành án mới được nhận tài sản. Quy định này không đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án, tạo kẽ hở cho người phải thi hành án lợi dụng kéo dài thời gian thi hành án. Trường hợp người được thi hành án nhận tài sản, không nhất thiết phải quy định sau hai lần giảm giá mới được nhận tài sản để thi hành án.
Đề nghị chỉ quy định tài sản sau khi bán đấu giá lần đầu, nếu không có người mua, người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Quy định như vậy đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự, đồng thời cũng đảm bảo được giá trị của tài sản.
Khoản 2 điểm a đề nghị sửa như sau:
"2. Sau khi bán đấu giá tài sản lần đầu mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc tài sản bán đấu giá không thành thì xử lý như sau:
a) ...
Tuy nhiên tại khoản 2 điểm b có liên quan đến quy định này, vì vậy kết cấu của điều luật cần tách điểm b khoản 2 thành khoản 3. Cần quy định trách nhiệm của người được thi hành án trong trường hợp không đồng ý nhận tài sản để thi hành án. Qua thực tiễn thực hiện Luật THADS năm 2008 về nội dung này đã bộc lộ những bất cập, không phù hợp cần chỉnh sửa. Nhiều vụ việc kéo dài và chi phí lớn, giá trị tài sản giảm nhiều so với giá ban đầu. Vì vậy pháp luật cần phải quy định trách nhiệm của người được thi hành án đối với việc nhận tài sản.
Đề nghị sửa theo hướng: Sau ba lần giảm giá, người được thi hành án không nhận tài sản thì trả lại tại sản cho người phải thi hành án và áp dụng biện pháp khác để thi hành án.
Theo đó, điểm b Khoản 2 đề nghị sửa đổi như sau:
"3. Sau ba lần giảm giá mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc tài sản bán đấu giá không thành thì xử lý như sau:
Chấp hành viên yêu cầu người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Trường hợp người được thi hành không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định trả lại tài sản cho người phải thi hành án và áp dụng biện pháp khác nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc trả đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án."
16. Mục 44 (Điều 173 Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự):
Khoản 3: Đề nghị xem xét lại vì liên quan đến thẩm quyền phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị. Thực tế việc cho ý kiến bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển ... đối với đối tượng này đều do Cấp ủy cùng cấp thực hiện (có văn bản hiệp y theo hướng dẫn của các cấp ủy Đảng).
Khoản 8: Đề nghị bỏ cụm từ: "phối hợp với Sở Tư pháp". Trong thực tế thì chỉ có cơ quan thi hành án tham mưu cho UBND cùng cấp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của UBND về thi hành án dân sự. Cơ quan Tư pháp không có thông tin và không có chuyên môn để thực hiện chức năng này. Hơn nữa, nếu hai bên không phối hợp tham mưu cho UBND thì khó quy kết trách nhiệm.
 17. Mục 45 (Điều 174 Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thi hành án dân sự):
Nên quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thi hành án trong việc giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện, không nên quy định việc phối hợp.
Đề nghị Khoản 7 bỏ cụm từ: "phối hợp với phòng Tư pháp" (chúng tôi đã phân tích ở trên).
18. Mục 47 (Bãi bỏ các đều: 30, 31, 32, 33, 34,51,74, 138, 139 và điểm b khoản 1 Điều 163):
Đề nghị giữ nguyên các điều 30, 31, 32, 33, 34,51 liên quan đến nội dung về Đơn yêu cầu thi hành án.
Trên đây là ý kiến tham gia đóng góp vào Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh nghiên cứu, tham khảo./.
         
Nơi nhận:                                       
- Như kính gửi(b/c);
- Tổng cục THADS - Bộ Tư pháp(b/c);
- Lãnh đạo Cục;
- Các đơn vị trực thuộc;
- Lưu VT.
CỤC TRƯỞNG
 
 
Đã ký) 
 

NGUYỄN AN LY
 
Tổng số điểm của bài viết là: 90 trong 18 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Tổ chức bộ máy

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh là đơn vị trực thuộc Tổng Cục thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp, được tổ chức và hoạt động theo Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trụ sở của Cục tại số 2 đường Nguyên Phi Ỷ Lan, phường Suối Hoa, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Cơ cấu...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP