16:09 EST Thứ ba, 13/11/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 35

Máy chủ tìm kiếm : 8

Khách viếng thăm : 27


Hôm nayHôm nay : 7217

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 89857

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9183848

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN

CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG, NGÂN HÀNG

Chủ nhật - 13/12/2015 21:11
CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN  ĐẾN CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG, NGÂN HÀNG

CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG, NGÂN HÀNG

Việc tổ chức thi hành các quyết định, bản án của Toà án liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng cũng là một trong hàng loạt các biện pháp để xử lý nợ xấu theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp. Nội dung của chuyên đề tập trung phân tích thực trạng công tác thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng ngân hàng năm 2015, khó khăn vướng mắc và một số giải pháp được đề ra trong thời gian tới.
Nợ xấu ngân hàng tại Việt Nam hiện nay đang là vấn đề được xã hội quan tâm, báo chí và truyền thông thường xuyên đề cập đến. Thực chất thì nợ xấu tại các Ngân hàng, tổ chức tín dụng không phải mới phát sinh trong những năm gần đây mà đã tích tụ từ nhiều năm trước. Khi tình hình kinh tế vĩ mô xấu đi, hoạt động sản xuất kinh doanh trì trệ, thì cũng là lúc nợ xấu nảy nở như nấm sau mưa. Dựa vào số liệu tổng hợp, thì nợ xấu có xu hướng gia tăng từ năm 2007 và được quan tâm đặc biệt từ cuối năm 2011. Trong suốt 05 năm qua, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung tiến hành xử lý nợ xấu. Năm 2015 là năm cuối cùng của giai đoạn 2011 – 2015 thực hiện Đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và là năm bản lề thực hiện Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng. Do đó, Chính phủ và Ngân hàng nhà nước đang và sẽ thực hiện quyết liệt các biện pháp để xử lý triệt để nợ xấu - một trong những tác nhân lớn gây bất ổn kinh tế vĩ mô Việt Nam.
 Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015, trong đó có nội dung thực hiện có hiệu quả các giải pháp xử lý nợ xấu, phấn đấu giảm nợ xấu xuống dưới mức 3% vào cuối năm 2015. Việc tổ chức thi hành các quyết định, bản án của Toà án liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng cũng là một trong hàng loạt các biện pháp để xử lý nợ xấu theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp. Ngay từ đầu năm 2015, với vai trò là cơ quan được giao nhiệm vụ “chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương đẩy nhanh tiến độ và xử lý dứt điểm các vụ việc thi hành án dân sự liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng để tạo điều kiện thu hồi nợ, giảm nợ xấu và mở rộng tín dụng; tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự để bảo vệ quyền chủ nợ và thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng”, Bộ Tư pháp đã ban hành Chương trình hành động của ngành tư pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội  và dự toán Nhà nước, trong đó đặt ra 3 yêu cầu đối với công tác thi hành án dân sự , một trong 3 yêu cầu là: “Tập trung giải quyết các vụ việc liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng”. Để thực hiện Chương trình hành động của ngành Tư pháp được ban hành kèm theo Quyết định số 228/QĐ-BTP ngày 30/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án là đơn vị được Bộ Tư pháp giao tiếp tục thực hiện Kế hoạch thực hiện “Chương trình hành động của ngành Tư pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014” ban hành kèm theo Quyết định số 572/QĐ-TCTHADS ngày 5/8/2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự. Do đó, nội dung của chuyên đề tập trung phân tích thực trạng công tác thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng ngân hàng năm 2015, khó khăn vướng mắc và một số giải pháp được đề ra trong thời gian tới.     
1. Công tác thi hành án dân sự liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng
1.1. Công tác triển khai, chỉ đạo việc thi hành án dân sự liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng tại Tổng cục Thi hành án dân sự và kết quả đạt được
1.1.1 Công tác triển khai, chỉ đạo: Để thực hiện có hiệu quả Quyết định số 228/QĐ-BTP ngày 30/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc “Tập trung giải quyết các vụ việc THADS liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng”, nhận thức tầm quan trọng của việc thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ, Chương trình hành động triển khai Nghị quyết của Bộ Tư pháp, để thực hiện kế hoạch công tác, Tổng cục Thi hành án dân sự đã ban hành Quyết định số 308/QĐ-TCTHADS ngày 13/4/2015 kiện toàn lại Tổ công tác chỉ đạo xử lý các vụ việc có liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng và phân công một Phó Tổng cục trưởng làm tổ trưởng. Nhiệm vụ của Tổ công tác này là đẩy nhanh tiến độ và thi hành dứt điểm các vụ án dân sự phức tạp, kéo dài, có liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng để bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng và giúp tổ chức tín dụng thu hồi nợ, giảm nợ xấu và tạo điều kiện mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, xác định đây là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng của ngành thi hành án dân sự, một trong những yếu tố quyết định để toàn ngành hoàn thành chỉ tiêu được giao.
Nhằm tập trung chỉ đạo, hướng dẫn và giải quyết các khó khăn vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án đến hoạt động tín dụng, ngân hàng, Tổng cục đã ban hành Kế hoạch công tác số 1610/KH-TCTHADS ngày 26/5/2015 để tăng cường hiệu quả công tác xử lý nợ xấu.
Với mục tiêu “ đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, phấn đấu đến cuối năm 2015 đưa tỷ lệ nợ xấu dưới 3%” của Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán Ngân sách nhà nước năm 2015, Bộ Tư pháp đã kịp thời phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giao Tổng cục Thi hành án tổ chức cuộc họp với Vụ pháp chế Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào tháng 10/2014 để xây dựng quy chế phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong công tác thi hành án dân sự. Sau quá trình phối hợp xây dựng, ngày 18/3/2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quy chế phối hợp số 01/QCLN/NHNNVN-BTP giữa Ngân hàng nhà nước Việt Nam với Bộ Tư pháp trong hoạt động thi hành án.
Ngay sau khi ban hành Quy chế phối hợp, Tổng cục đã tổ chức cuộc họp với Vụ Pháp chế, cơ quan Thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để thống nhất việc triển khai thực hiện Quy chế trong phạm vi cả nước, trong đó xác định rõ một số địa phương, đơn vị được chọn làm điểm để tập trung chỉ đạo như: thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỉnh An Giang; các tổ chức tín dụng, ngân hàng như: Vietinbank, Vietcombank, Công ty Quản lý tài sản (VAMC), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ đó rút kinh nghiệm để chỉ đạo chung toàn quốc đối với các cơ quan thi hành án dân sự và các tổ chức tín dụng. Trên cơ sở đó, Tổng cục đã tham mưu trình Thứ trưởng Nguyễn Thúy Hiền ký Công văn số 1348/BTP-TCTHADS ngày 24/4/2015 của Bộ Tư pháp về việc triển khai thực hiện Quy chế phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gửi các Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Ngày 08/5/2015, Tổng cục đã ký ban hành Công văn số 1381/TCTHADS-NV1 về triển khai thực hiện Quy chế phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp để quán triệt trong hệ thống thi hành án dân sự và yêu cầu phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cần thiết thì ký Quy chế phối hợp trên địa bàn.
Để thực hiện Quy chế phối hợp, Tổng cục đã có buổi làm việc với lãnh đạo và đại diện các đơn vị chuyên môn thuộc Ngân hàng Vietinbank, Vietcombank và Công ty Quản lý tài sản (VAMC) để bàn biện pháp giải quyết những khó khăn vướng mắc trong thi hành án và lựa chọn 03 đơn vị trên làm điểm để triển khai Quy chế.
                 1.1.2 Kết quả thực hiện việc triển khai quy chế tại 03 đơn vị điểm như sau:
- Đối với hệ thống Ngân hàng Vietinbank: Trên cơ sở báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự địa phương và đề nghị của Ngân hàng, Tổng cục đã lựa chọn những địa bàn có số lượng việc nhiều, giá trị lớn, còn nhiều vướng mắc trong tổ chức thực hiện để phối hợp liên ngành nhằm chỉ đạo sát sao. Tổng cục đã chỉ đạo Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, Hải Phòng tiến hành rà soát các vụ việc thi hành án có liên quan đến Vietinbank trên địa bàn. Trong các ngày 23, 24/5/2015, Tổng Cục trưởng cùng Thủ trưởng các đơn vị chuyên môn thuộc Tổng cục và Tổng Giám đốc cùng Lãnh đạo các đơn vị thuộc Vietinbank đã có buổi làm việc tại 02 địa phương trên và trực tiếp chỉ đạo, giải quyết các vụ việc có điều kiện thi hành án. Tại cuộc họp, trên cơ sở nắm tình hình chung về thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng, Lãnh đạo 02 cơ quan đã có sự chỉ đạo, kết luận từng vụ việc có vướng mắc. Sau cuộc họp đã ban hành Thông báo kết luận số 1758/TB-TCTHADS ngày 05/6/2015, giao thời hạn cụ thể để các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án tín dụng, ngân hàng.
Tiếp đó, ngày 12/9/2015, Tổng Cục trưởng đã trực tiếp chủ trì Hội nghị triển khai Quy chế phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp trong công tác thi hành án dân sự tại Vietinbank khu vực thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đã tạo sự chuyển biến trong công tác phối hợp đẩy lùi nợ xấu, tăng kết quả thi hành án các vụ việc liên quan đến tổ chức tín dụng ngân hàng.
- Đối với hệ thống Ngân hàng Vietcombank: Ngày 16/6/2015, Tổng cục đã có Công văn số 1911/TCTHADS-NV1 chỉ đạo 05 Cục Thi hành án dân sự (gồm Khánh Hòa, An Giang, Thái Bình, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng) tiến hành rà soát về tình hình và kết quả thi hành án cho các tổ chức tín dụng nói chung và của hệ thống Vietcombank nói riêng.
Ngày 26 và 27/6/2015, Tổng Cục trưởng cùng Thủ trưởng các đơn vị chuyên môn thuộc Tổng cục đã có buổi làm việc với Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh An Giang, chỉ đạo việc thực hiện nghiêm và hiệu quả các vụ việc thi hành án liên quan đến Vietcombank. Sau cuộc họp, Tổng cục đã có Thông báo kết luận số 17/TB-TCTHADS ngày 03/7/2015 giao nhiệm vụ cho các đơn vị liên quan thực hiện, tăng kết quả thi hành án dân sự liên quan đến hệ thống Vietcombank. Hiện nay, Tổng cục đang kiểm tra toàn diện tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh trong đó có kiểm tra việc thực hiện kết luận số 17/TB-TCTHADS nêu trên.
- Đối với Công ty Quản lý tài sản (VAMC): Ngày 31/7/2015, Tổng Cục trưởng đã chủ trì cuộc họp với VAMC để nghe VAMC báo cáo để chỉ đạo xử lý việc thi hành án dân sự liên quan đến tình hình, kết quả việc mua bán nợ tín dụng, ngân hàng tại các Cục Thi hành án dân sự. Sau cuộc họp, Tổng cục đã có Thông báo kết luận số 37/TB-TCTHADS ngày 10/8/2015, theo đó, các đơn vị thuộc Tổng cục và Ban pháp chế của VAMC đã tiến hành rà soát các vụ việc mà VAMC đã thực hiện mua bán nợ, VAMC đã lập danh sách để Tổng cục Thi hành án dân sự tiếp tục phối hợp giải quyết trong thời gian tới.
- Ngoài 03 đơn vị điểm được lựa chọn để triển khai thực hiện Quy chế phối hợp nêu trên, ngày 03/9/2015, Tổng cục đã có buổi làm việc với Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) để phối hợp trong công tác thi hành án liên quan đến BIDV. Trên cơ sở Thông báo kết luận cuộc họp số 52/TB-TCTHADS ngày 07/9/2015, các đơn vị liên quan đã rà soát, lập danh sách để phối hợp thực hiện, Tổng cục đã có Công văn số 3258/TCTHADS-NV1 ngày 01/10/2015 đề nghị Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh rà soát, chỉ đạo thực hiện các vụ việc thi hành án liên quan đến BIDV và Tổng cục sẽ phối hợp với Lãnh đạo của hệ thống BIDV tiếp tục thực hiện trong thời gian tới. Ngày 26/10/2015, Tổng cục tiếp tục nhận được đề nghị của hệ thống Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) về việc đề nghị hỗ trợ trong việc thi hành bản án, quyết định liên quan đến ngân hàng SHB, với tổng số 313 vụ việc được đề nghị chỉ đạo thực hiện và một số ngân hàng khác đã gửi Công văn và danh sách đề nghị Tổng cục xem xét, chỉ đạo việc thi hành án.
Bên cạnh đó, nhằm hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động tổ chức thi hành án đạt hiệu quả, trong đó có xử lý nợ xấu cho các tổ chức tín dụng, trên cơ sở đề xuất của Bộ Tư pháp, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự vào ngày 25/11/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015. Với sự nỗ lực của Tổng cục Thi hành án dân sự và các đơn vị liên quan, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự đã có nhiều điểm mới, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, qua đó cũng là bảo vệ  tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng khi tham gia vào hoạt động thi hành án dân sự ở các tư cách khác nhau. Ngày 18/7/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, trong đó có quy định về chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án cho người thứ ba (Khoản 2 Điều 15), theo đó, đối với trường hợp tổ chức tín dụng đã bán nợ cho Công ty mua bán nợ (VAMC) thông qua hợp đồng mua bán nợ theo quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 05/4/2015 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 53/2013/NĐ-CP thì quyền và nghĩa vụ thi hành án chuyển giao tương ứng với các khoản nợ được mua bán theo hợp đồng.
Mặt khác, Tổng cục cũng chú trọng công tác chỉ đạo Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Tổ công tác xử lý nợ xấu tại địa phương, phối hợp với các tổ chức tín dụng trên địa bàn thường xuyên rà soát, thống kê số liệu, trong đó xác định chính xác số vụ việc có điều kiện thi hành, xây dựng kế hoạch và tổ chức thi hành từng vụ việc cụ thể, định kỳ báo cáo Tổng cục Thi hành án dân sự, số liệu thống kê tính đến thời điểm sơ kết, tổng kết (ngày 31/3 và 30/9 hàng năm) và tổng hợp theo từng tổ chức tín dụng được thi hành án.
Trên cơ sở báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự địa phương và đề nghị của Ngân hàng, Tổng cục đã lựa chọn những địa bàn có số lượng việc nhiều, giá trị lớn, còn nhiều vướng mắc trong tổ chức thực hiện để chỉ đạo sát sao. Trong thời gian qua, Tổng cục đã chỉ đạo Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang tiến hành rà soát các vụ việc thi hành án có liên quan đến Ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn, đồng thời trực tiếp làm việc đối với từng vụ việc tại các địa phương  trên và trực tiếp chỉ đạo, giải quyết các vụ việc có điều kiện thi hành án.
            Ngoài ra, Tổng cục đã  triển khai thực hiện một số nội dung công việc khác như đã thành lập đoàn công tác liên ngành (với sự tham gia của đại diện Vụ 10 Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế) để khảo sát việc thi hành án liên quan đến tín dụng Ngân hàng tại 03 tỉnh (Bình Định, Quảng Ngãi, Ninh Bình) vào tháng 01/2015 với sự hỗ trợ của tổ chức Jica - Nhật Bản. Tại các tỉnh, Đoàn khảo sát đã mời tất cả các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng là người đang được thi hành án tham dự các buổi làm việc. Quá trình khảo sát, Đoàn cũng nghe đại diện các Ngân hàng trình bày các khó khăn vướng mắc của các tổ chức tín dụng trong việc thi hành án, kịp thời giải đáp các vấn đề Ngân hàng đưa ra và kiến nghị một số giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc mà cơ quan thi hành án địa phương gặp phải trong việc thi hành án cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng.
Tổng cục cũng đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Bộ như Vụ Pháp luật dân sự- kinh tế báo cáo về các giải pháp để tạo điều kiện xử lý nhanh nợ xấu của tổ chức tín dụng theo yêu cầu của Ban Kinh tế Trung ương, báo cáo tình hình triển khai Kế hoạch hành động thực hiện các khuyến nghị của FSAP, trả lời một số vướng mắc, kiến nghị của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng như: Ngân hàng nhà nước, Công ty VAMC, Ngân hàng Đông Á; phối hợp với Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm trả lời vướng mắc của Ngân hàng BIDV...
1.2. Công tác triển khai, chỉ đạo việc thi hành án dân sự liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng tại các Cục Thi hành án dân sự địa phương
Thực hiện chỉ đạo của Tổng cục, các Cục Thi hành án dân sự đã thành lập Tổ chỉ đạo xử lý nợ xấu do Lãnh đạo cơ quan Thi hành án dân sự là Tổ trưởng. Tổ đã định hướng, chỉ đạo, giải quyết những khó khăn vướng mắc trong quá trình thi hành vụ việc liên quan.
 Trên cơ sở rà soát, thống kê, cơ quan thi hành án chủ trì, phối hợp với các tổ chức tín dụng và cơ quan, tổ chức liên quan thống nhất kế hoạch tổ chức thi hành dứt điểm từng vụ việc. Đối với những vụ việc phức tạp, khó thi hành thì kịp thời tổng hợp, báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Ban chỉ đạo thi hành án, Tổng cục Thi hành án dân sự để được chỉ đạo biện pháp tháo gỡ, giải quyết.
Các Cục Thi hành án dân sự đã tổ chức kiểm tra việc thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng, trên cơ sở đó chỉ ra sai sót để hướng dẫn Chấp hành viên, Chi cục thực hiện. Một số Cục thi hành án dân sự chỉ đạo tổ chức giao ban thường kỳ để kịp thời rút kinh nghiệm, bàn biện pháp khắc phục thiếu sót, thống nhất chỉ đạo những vụ việc phức tạp, khó thi hành. Một số Cục họp giao ban có mời đại diện các tổ chức tín dụng, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh cùng dự để trao đổi, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Một số địa phương có những hoạt động kịp thời để việc triển khai hoạt động xử lý nợ xấu đạt hiệu quả như: bổ sung cán bộ, Chấp hành viên cho các địa bàn có số lượng việc thi hành án liên quan đến tín dụng ngân hàng tăng đột biến (như Cục THADS thành phố Hà Nội); phối hợp tốt với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại địa phương để giải quyết thi hành án, tạo điều kiện cho người phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án như miễn giảm lãi suất, trả dần phần tiền lãi...(như Cục THADS thành phố Đà Nẵng); hàng tháng, hàng quý tổ chức họp giao ban Tổ công tác liên ngành xử lý nợ xấu để kịp thời nghe phản ánh khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án (như Cục THADS Đồng Nai); nhiều Cục THADS đã thực hiện việc triển khai Quy chế phối hợp, tổ chức quán triệt đến các thành viên Tổ công tác xử lý nợ xấu của địa phương và các Chi cục thi hành án dân sự trên địa bàn.
Về công tác ký kết Quy chế phối hợp với Ngân hàng, theo thống kê sơ bộ đến ngày 26/10/2015 đã có 38/63 Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký Quy chế phối hợp với Chi nhánh của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, dự kiến thời gian tới có 16 Cục Thi hành án dân sự chuẩn bị ký Quy chế phối hợp; có 09 Cục Thi hành án dân sự và chi nhánh Ngân hàng dự kiến không ký Quy chế phối hợp (gồm Vĩnh Phúc, Cao Bằng, Khánh Hòa, Hà Giang, Kiên Giang, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Quảng Trị, Đắk Nông) vì 02 lý do: (i) Nội dung tại Quy chế số 01 đã đủ để triển khai thực hiện; (ii) Trên địa bàn số lượng vụ việc thi hành án liên quan tới ngân hàng, tổ chức tín dụng không nhiều.
      1.3. Kết quả thi hành án đối với tổ chức tín dụng năm 2015
Tổng hợp kết quả thống kê 12 tháng năm 2015 (từ 01/10/2014 đến 30/9/2015), số việc phải thi hành cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng là 16.932 việc (chiếm 2,14% so với tổng số thụ lý), tăng 3.436 việc (25,46%) so với cùng kỳ năm 2014, tương ứng với tổng số tiền phải thi hành là trên 68.965 tỷ đồng (chiếm 54,75% so với tổng số thụ lý), tăng hơn 28.114 tỷ đồng (68,82%) so với cùng kỳ năm 2014.
Số việc đã thi hành xong 3.043 việc (chiếm 17,8% trên tổng số việc tín dụng ngân hàng), tăng  2.231 việc (274,75%) so cùng kỳ năm 2014, tương ứng với số tiền trên 15.794 tỷ đồng (22,9% trên tổng số tiền tín dụng ngân hàng), tăng hơn 10.466 tỷ đồng (196,43%) so với cùng kỳ năm 2014.
Như vậy, kết quả thi hành án xong về án tín dụng, ngân hàng năm 2015 đã tăng gần gấp 04 lần số việc và gấp 03 lần số tiền so với cùng kỳ năm 2014 (năm 2014 thi hành xong 812 việc (đạt 6% trên tổng số việc) tương ứng với số tiền trên 5.328 tỷ đồng (đạt 13% trên tổng số tiền)).
Một trong những nguyên nhân đạt được kết quả nêu trên chính là do công tác phối hợp, từ việc ký kết Quy chế phối hợp giữa hai ngành đã tạo ra sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động, từ Tổng cục đến các cơ quan thi hành án dân sự đã nhận thức rõ ràng hơn về trách nhiệm tổ chức thi hành án cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng; tích cực, chủ động, quyết liệt hơn trong việc xác minh, kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án; các tổ chức tín dụng cũng chủ động phối hợp chặt chẽ hơn với cơ quan thi hành án dân sự, cũng như phối hợp với các đơn vị liên quan trong thi hành án và giải quyết vướng mắc trong việc thi hành án. Trong năm 2015, thị trường bất động sản tuy đã bắt đầu “ấm dần” nhưng bất động sản liên quan đến thi hành án dân sự vẫn còn độ trễ và trầm lắng. Trong bối cảnh đó, cơ quan thi hành án dân sự trong cả nước đã nỗ lực phấn đấu để kết quả thi hành án liên quan đến bất động sản trong các bản án tín dụng ngân hàng thi hành xong tăng lên đáng kể so với cùng kỳ năm trước.
2. Khó khăn, vướng mắc trong thi hành án dân sự liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng
2.1 Khó khăn vướng mắc:
Trong quá trình tổ chức thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng, một số cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức tín dụng trên địa bàn còn chưa thực sự tích cực; công tác phối hợp giữa các cơ quan thi hành án và các tổ chức tín dụng tại một số địa bàn trong thực hiện Quy chế phối hợp số 01 và chưa quan tâm đến việc xử lý nợ xấu. Do đó, tuy số việc, số tiền đã thi hành xong tăng hơn nhiều lần so với năm 2014 nhưng kết quả thi hành án xong 3.043 việc (17,8%), tương ứng với số tiền trên 15.794 tỷ đồng (22,9%) so với tổng số việc, số tiền đã thụ lý liên quan đến án tín dụng ngân hàng còn thấp so với yêu cầu, nhất là về tiền. Số vụ việc và số tiền còn phải thi hành chưa có kết quả vẫn còn nhiều gồm 13.889 việc tương ứng với số tiền là 53.170 tỷ 549 triệu 022 nghìn đồng đang được các cơ quan Thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật. Trong đó, có một số ngân hàng thương mại lớn như: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) là 3.866 việc tương ứng với số tiền phải thi hành 12.279.537.968.000 đồng; Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) 1.434 việc tương ứng với số tiền phải thi hành là 4.036.044.373.000 đồng; Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) 1.065 việc tương ứng với số tiền phải thi hành là 3.960.644.795.000 đồng... Trong số việc còn lại 13.899 việc chưa thi hành chủ yếu là số việc đã kê biên tài sản nhưng chưa bán được gồm 4.674 việc; đang trong quá trình xác minh tài sản để tổ chức thi hành 2.832 việc; các bên đương sự thỏa thuận ấn định thời gian thực hiện 1.620 việc; hoãn thi hành án 1.413 việc; đang áp dụng biện pháp bảo đảm 627 việc; có quan điểm khác nhau cần phải thống nhất để giải quyết 140 việc...
Mặc dù số việc phải thi hành án cho tổ chức tín dụng, ngân hàng chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong số việc phải thi hành án (năm 2014 chiếm 1,74%, năm 2015 chiếm 2,14%), nhưng số tiền trong các án tín dụng, ngân hàng chiếm tỷ lệ rất cao trong số tiền phải tổ chức thi hành án (năm 2014 chiếm 42,3%, năm 2015 chiếm 54,75%). Hơn nữa, số việc và nhất là số tiền thi hành án đối với tổ chức tín dụng, ngân hàng năm 2015 tăng nhiều so với cùng kỳ năm 2014: Số việc phải thi hành tăng 3.436 việc  và 28.114 tỷ 644 triệu 602 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2014. Chính vì việc phải thi hành án số tiền quá lớn như trên đã tạo ra áp lực đối với cơ quan thi hành án dân sự.
Ngoài ra, một trong những khó khăn khi thi hành án các vụ việc tín dụng, ngân hàng là do hầu hết các vụ việc loại này đều liên quan đến bất động sản hoặc động sản có đăng ký. Mặc dù, thị trường bất động sản đã “ấm dần”, nhưng nhiều tài sản, nhất là bất động sản đã kê biên, thẩm định giá rất khó bán, nhiều vụ việc phải định giá lại nhiều lần vẫn không có người mua.
 2.2 Nguyên nhân của những khó khăn vướng mắc
2.2.1 Nguyên nhân chủ quan:
Một là, một số lãnh đạo đơn vị thi hành án dân sự chưa thực sự quan tâm sát sao, chưa có biện pháp chỉ đạo thực sự quyết liệt, toàn diện đối với công tác xử lý nợ xấu;
Hai là, Tổ công tác xử lý nợ xấu chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm nên chưa thực sự dành thời gian thích đáng cho công tác này, có lúc hoạt động còn cầm chừng, chưa bài bản. 
Ba là, tinh thần trách nhiệm của một số Chấp hành viên chưa cao trong việc xác minh điều kiện thi hành án, đôn đốc và áp dụng các biện pháp cần thiết để thi hành dứt điểm những bản án, quyết định có điều kiện giải quyết; có trường hợp năng lực còn hạn chế, tổ chức thi hành án chậm, hiệu quả kém; nhận thức và áp dụng pháp luật chưa chính xác dẫn đến nhiều vụ việc dù người phải thi hành án có điều kiện thi hành án (có tài sản thế chấp) nhưng việc thi hành án vẫn bị chậm chễ hoặc không được tổ chức thi hành.
Ví dụ: Việc ra quyết định thi hành án không đúng với nội dung bản án và đơn yêu cầu thi hành án (Bản án dân sự sơ thẩm số 19/DSST ngày 22 tháng 9 năm 2012 đã xét xử, quyết định buộc ông Gia và bà Thị phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 01/HĐTD-NH ngày 12/5/2011 là: 16.282.990.958đ (Mười sáu tỷ, hai trăm tám mươi hai triệu, chín trăm chín mươi ngàn, chín trăm năm tám đồng)”… Trường hợp ông Gia, bà Thị không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của ông Gia, bà Thị tại thửa đất số TT17 - A18(48) tờ bản đồ số 00, diện tích 108,1m2...”. Tuy nhiên, ngày 05/11/2012, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án dân sự số 08A/QĐ-CCTHA không có nội dung “Trường hợp ông Gia, bà Thị không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của ông Gia và bà Thị tại thửa đất số TT17 - A18(48) tờ bản đồ số 00, diện tích 108,1m2...”.
            Hoặc vẫn còn nhiều những trường hợp Chấp hành viên chậm tổ chức thi hành án. Hiện tượng này có thể nói là khá phổ biến, mặc dù đa số các trường hợp phải thi hành án cho tổ chức tín dụng, ngân hàng đều có tài sản thế chấp nhưng có nhiều trường hợp cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án từ vài năm trước đến nay vẫn chỉ dừng ở mức đang xác minh tài sản mà không kịp thời có biện pháp kê biên xử lý tài sản, theo số liệu tính đến 30/9/2015 có 2.832 việc đang xác minh điều kiện thi hành án; tài sản bán đấu giá không có người đăng ký mua nhưng Chấp hành viên chậm thông báo cho đương sự theo quy định tại Điều 104 Luật Thi hành án dân sự.
Hoặc trường hợp Chấp hành viên không tiến hành xác minh mà chỉ căn cứ vào Bản án và hợp đồng thế chấp để kê biên dẫn đến việc xử lý tài sản gặp khó khăn (như: Việc thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận số 04/2012/QĐ.ST-KDTM ngày 10/8/2012, sau khi tổ chức việc bán tài sản đấu giá thành tài sản mới phát hiện ra việc thừa một thang máy và 01 phòng họp 300 chỗ ngồi và một số tài sản khác không có trong hợp đồng thế chấp; việc thi hành Quyết định số 35/2012/QĐST-KDTM ngày 14/9/2012, cơ quan thi hành án đã tổ chức kê biên và bán tài sản thế chấp là Dây chuyền đồng bộ máy sản xuất bánh quy và các thiết bị phụ trợ (có danh mục kèm theo). Khi kiểm tra thực trạng tài sản để giao cho người mua được tài sản thì phát hiện có một số thiệt bị phụ trợ không ở trong danh mục tài sản thế chấp nên người phải thi hành án không đồng ý giao những thiết bị đó cho người mua tài sản dẫn đến việc thi hành án bị kéo dài).
Có một số trường hợp tài sản thế chấp có ở địa phương khác nhưng Chấp hành viên không đề xuất để ủy thác thi hành án đến nơi có tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Luật Thi hành án dân sự nhưng Chi cục Thi hành án dân sự không thực hiện ủy thác mà vẫn tiến hành kê biên bán đấu giá tài sản thế chấp. 
   Theo quy định tại khoản 5, Điều 115 Luật thi hành án dân sự quy định “Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật này”. Tuy nhiên, có trường hợp Chấp hành viên yêu cầu người được thi hành án bỏ tiền ra thuê nhà cho người phải thi hành án, khi người được thi hành án không thực hiện theo yêu cầu trên thì Chấp hành viên đã cho hủy kết quả bán đấu giá và trả lại tiền cho người mua được tài sản dẫn đến việc thi hành án bị kéo dài, gây thiệt hại cho người được thi hành án và người phải thi hành án (như việc thi hành án Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 11/DSST ngày 23/10/2012); nhiều Chấp hành viên đã không kiên quyết trong việc cưỡng chế giao nhà cho người mua trúng đấu giá với lý do chính quyền địa phương không ủng hộ việc cưỡng chế vì cho rằng nếu cưỡng chế thì người phải thi hành án không còn nơi ở sẽ gây ra mất trật tự ở địa phương.
Một số bản án, quyết định đã được Tòa án tuyên rõ ràng, đúng pháp luật nhưng Chấp hành viên không nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật có liên quan nên đưa vào dạng án tuyên không rõ, có sai sót khó thi hành, không tiến hành xác minh, xử lý tài sản của người phải thi hành án hoặc tài sản do bên thứ ba bảo lãnh để thi hành dứt điểm vụ việc (Việc thi hành bản án, quyết định số 01/KDTM ngày 21/9/2012); không thực hiện đúng hợp đồng bán đấu giá tài sản, đã để người mua nộp tiền vào tài khoản của tổ chức bán đấu giá dẫn đến thất thoát; không thực đúng quy định tại Khoản 5 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự, không thực hiện việc thanh lý hợp đồng bán đấu giá mà để cho tổ chức bán đấu giá tiếp tục giữ 30% số tiền trong thời gian hơn 06 tháng kể từ ngày giao tài sản cho người mua đấu giá thành gây thiệt hại cho người được thi hành án là ngân hàng (như việc thi hành Quyết định số 233/QĐST-KDTM ngày 01/3/2011.
Bốn là, về phía tổ chức tín dụng, ngân hàng có hiện tượng đề nghị định giá tài sản lại nhiều lần, không tích cực tham gia xử lý dứt điểm tài sản vì không muốn bán tài sản với giá quá thấp sẽ ảnh hưởng đến giá trị khoản tiền bảo đảm của Ngân hàng.
Ngoài ra, trong quá trình tiến hành thủ tục thế chấp, cho vay, nhiều trường hợp tổ chức tín dụng, ngân hàng không xác định kỹ hiện trạng, nguồn gốc, giá trị tài sản; một tài sản được thế chấp cho nhiều nơi; nhận thế chấp là quyền sử dụng đất mà không nhận thế chấp tài sản trên đất, nhận thế chấp cả tài sản nằm trong quy hoạch; không làm tốt khâu thẩm định giá để cho vay nên cho vay cao hơn (có trường hợp cao gấp 3 lần) giá trị thực của tài sản... Hơn nữa, trong giai đoạn tố tụng tại Tòa án, đặc biệt với loại việc công nhận hòa giải thành, tình trạng ranh giới, mốc giới bất động sản không chính xác, các công trình trên đất không phù hợp như lúc ký kết hợp đồng, dẫn đến giai đoạn thi hành án, việc xử lý tài sản thế chấp gặp rất nhiều khó khăn làm ảnh hưởng đến kết quả của công tác thi hành án dân sự nhưng chưa chú trọng khâu phối hợp tích cực, chủ động với cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, đơn vị hữu quan để tháo gỡ vướng mắc. Có trường hợp Ngân hàng chỉ nhận thế chấp là quyền sử dụng đất mà không nhận thế chấp tài sản trên đất, có trường hợp nhận thế chấp cả tài sản xây dựng trên đất lưu không hoặc nằm trong quy hoạch, hợp đồng thế chấp tài sản không chặt chẽ; giá trị tài sản thế chấp cao hơn giá trị thực tế của tài sản; tài sản thế chấp là động sản nhưng khi xác minh thì tài sản không còn hoặc còn nhưng không đúng thực trạng ban đầu theo hồ sơ thế chấp nên rất khó xác định chủ sở hữu; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nhưng không có bản vẽ hiện trạng, không xác định mốc giới nên khi cơ quan thi hành án dân sự tiến hành xác minh đo vẽ thì có sự chồng lấn quyền sử dụng đất của người phải thi hành án với người khác. Do đó, đến giai đoạn thi hành án, khi cơ quan thi hành án tổ chức thi hành án thì rất nhiều tài sản đã bị tẩu tán, nhiều tài sản bị rơi vào diện tích đất giải toả đền bù; việc xử lý tài sản thế chấp gặp rất nhiều khó khăn làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác thi hành án dân sự. (Ví dụ trường hợp công ty TNHH Trường Ngân, Dĩ An, Bình Dương đã dùng một tài sản là kho cà - phê thế chấp cho 7 ngân hàng, khi cơ quan thi hành án kê biên tài sản để đảm bảo việc thi hành án thì gặp sự phản đối quyết liệt của các Ngân hàng khác).
2.2.2 Nguyên nhân khách quan
Đây có thể nói là nguyên nhân lớn gây ra tình trạng tồn đọng án, bởi vì:
Thứ nhất, tình hình kinh tế, sản xuất kinh doanh chuyển biến chậm, thị trường bất động sản trầm lắng nên nhiều tài sản đã kê biên đưa ra bán đấu giá nhiều lần, thậm chí có việc đến 23 lần nhưng chưa bán được. Theo thống kê của Tổng cục, toàn quốc hiện có tới 4.674 việc thuộc diện này, tương ứng với số tiền là 25.095 tỷ 145 triệu 699 nghìn đồng (chiếm 33,65% về việc; 47% về tiền trên tổng số việc, tiền phải thi hành cho các tổ chức tín dụng ngân hàng). Đây là nguyên nhân chính gây khó khăn cho cơ quan thi hành án, dẫn đến nhiều tài sản kê biên để thi hành án “đã giảm giá nhiều lần” nhưng không bán được, nhất là các tài sản có giá trị lớn, tài sản là bất động sản;
Thứ hai, ý thức tuân thủ pháp luật của một số tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành án, nhất là của người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn chưa cao; mặc dù việc thi hành án cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng đều có tài sản đảm bảo (tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh), nhưng do đương sự cố tình chây ỳ, tẩu tán tài sản, chống đối quyết liệt, nhất là trường hợp xử lý tài sản bảo lãnh phải tổ chức cưỡng chế nên kéo dài thời gian. Tình trạng khiếu nại, tố cáo phức tạp kéo dài, khiếu nại vượt cấp nhằm mục đích kéo dài việc thi hành án khá phổ biến, đòi hỏi cơ quan thi hành án dân sự mất nhiều thời gian nghiên cứu hồ sơ, xác minh, giải quyết. Trong các vụ việc liên quan đến tín dụng ngân hàng thông thường người phải thi hành án đã mất khả năng thanh toán và có nguy cơ bị xử lý tài sản nên họ cố tình chống đối việc thi hành án bằng nhiều cách (như không nhận quyết định thi hành án, thay đổi hiện trạng tài sản, cản trở việc xác minh, kê biên, định giá, bán đấu giá tài sản để thi hành án...). Ngay cả khi cơ quan thi hành án đã bán đấu giá thành tài sản, người phải thi hành án còn lợi dụng Điều 102 Luật Thi hành án dân sự để thực hiện quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá (ví dụ như: Bản án số 18/2010/KDTM-ST ngày 29/12/2010 buộc bà Phạm Thị Đông và người có quyền và nghĩa vụ liên quan là ông Trần Đình Thảo phải trả cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam số tiền 13,9 tỷ đồng và khoản lãi phát sinh, nếu bà Đông không trả được khoản tiền cho Ngân hàng thì kê biên, bán tài sản thế chấp để thi hành án bao gồm giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Cơ quan thi hành án đã kê biên và bán đấu giá thành tài sản ngày 27/9/2013 và người mua được tài sản trên đã nộp đủ số tiền. Tuy nhiên, người phải thi hành án liên tục nại ra các lý do để khiếu nại đến các cơ quan, mặc dù đã được giải quyết nhưng người phải thi hành án không chấp nhận, tiếp tục khởi kiện ra Tòa án để hủy kết quả bán đấu giá mục đích để trì hoãn việc giao tài sản.  Cũng tương tự, trong quá trình tổ chức thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 69/2011/QĐST.KDTM ngày 22/6/2011, khi kê biên tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, người phải thi hành án đã thỏa thuận đồng ý di chuyển cây cảnh nếu có người mua trúng đấu giá nhưng khi cơ quan thi hành án chuẩn bị giao tài sản cho người mua trúng đấu giá thì người phải thi hành án không chịu di dời tài sản mà yêu cầu phải trả thêm tiền là giá trị của các loại cây cảnh...  
Thứ ba, tình trạng quá tải công việc của cơ quan thi hành án ngày càng nhiều, quá tải về số lượng vụ việc phải thi hành án nhưng biên chế không tăng. Điều này được thấy rõ qua số liệu thống kê án tín dụng, ngân hàng từ năm 2014 đến năm 2015 mặc dù năm 2015, thi hành xong được 3.043 việc nhưng số việc phải thi hành lại tăng lên so với năm 2014 là 3.436 việc và trên 28.114 tỷ đồng.
Thứ tư, khó khăn do thể chế:
Trước đây, việc Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định yêu cầu người được thi hành án phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nhất là cá nhân, tổ chức (là người phải thi hành án) đã không có mặt tại nơi cư trú, bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh…đã gây không ít khó khăn cho các tổ chức tín dụng ngân hàng. Mặc dù Luật thi hành án dân sự năm 2008 có quy định tổ chức tín dụng có quyền làm đơn đề nghị Cơ quan thi hành án thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nhưng trên thực tế, việc xác minh theo đơn yêu cầu của các tổ chức tín dụng ngân hàng không phải lúc nào cũng được Chấp hành viên đáp ứng. Với nhiều lý do khác nhau, việc xác minh thường kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ thi hành án.
Về quy định xử lý tài sản thế chấp là hàng hoá luân chuyển, mặc dù đã được đăng ký thế chấp và các bên thoả thuận chỉ được bán khi có sự đồng ý của bên nhận thế chấp, nhưng bên thế chấp trong quá trình sản xuất, kinh doanh có thể bán hàng hoá luân chuyển bất kỳ lúc nào mà không cần có sự đồng ý của bên nhận thế chấp, vì theo Khoản 3, Điều 349 Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định về quyền của bên thế chấp tài sản thì: bên thế chấp tài sản có quyền “được bán, thay thế tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh”. Quy định trên đã đương nhiên cho phép bên thế chấp được bán tài sản thế chấp và loại trừ hoàn toàn quyền của bên nhận thế chấp đối với việc thu hồi tài sản thế chấp đã được đăng ký thế chấp hợp pháp bị bán trái với thoả thuận. Với những quy định như vậy, pháp luật ở mức độ nào đó đã mặc nhiên phủ nhận ý chí thoả thuận của các bên và đã gần như vô hiệu hoá ý nghĩa, tác dụng của cơ chế đăng ký thế chấp tài sản là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Do đó, rất nhiều trường hợp khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án tiến hành xác minh để xử lý thì tài sản này đã không còn trên thực tế.
Về việc xử lý tài sản thế chấp là phương tiện giao thông: Pháp luật hiện hành không quy định việc xử lý tài sản thế chấp là phương tiện giao thông có đăng ký quyền sở hữu mà trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản, bên thế chấp đã thay đổi hiện trạng phương tiện (VD: Thay máy của phương tiện tàu, thuyền nên số máy hiện tại không khớp với số máy trong Giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu…) dẫn đến việc xử lý tài sản không thực hiện được.
Về việc xử lý tài sản thế chấp là bất động sản: Theo quy định tại khoản 2, Điều 716 Bộ luật Dân sự năm 2005 về phạm vi thế chấp quyền sử dụng đất thì “Trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất thì nhà, công trình xây dựng khác, rừng trồng, vườn cây và các tài sản khác của người thế chấp gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp, nếu có thoả thuận.” Trên cơ sở đó, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã quy định rõ việc người thế chấp có quyền chỉ thế chấp quyền sử dụng đất hoặc chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất. Vì vậy, việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp người phải thi hành án chỉ thế chấp quyền sử dụng đất hoặc ngược lại chỉ thế chấp tài sản trên đất gặp rất nhiều khó khăn do. Nếu bản án, quyết định không tuyên rõ, cơ quan Thi hành án dân sự khó có thể tháo dỡ nhà để giao đất cho người trúng đấu giá hoặc ngược lại,  không thể giao nhà mà không có đất được.
Về việc xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của người khác (thế chấp tài sản của người thứ ba) gặp rất nhiều khó khăn vì theo quy định tại Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Do đó, nếu muốn xử lý được tài sản của người thứ ba, cơ quan Thi hành án dân sự thường phải tiến hành xác minh và chứng minh người vay (người phải thi hành án) không có tài sản mới tiến hành xử lý tài sản thế chấp dẫn đến việc thi hành án kéo dài, rủi ro cao cho Chấp hành viên nếu người vay có tài sản nhưng cố tình giấu diếm mà khi xác minh Chấp hành viên không thể biết được nhưng khi xử lý tài sản bảo đảm mới phát sinh tranh chấp… Do đó, tâm lý chung của Chấp hành viên là rất ngại phải xử lý tài sản bảo lãnh.
Mặt khác, sau khi bán tài sản bảo đảm của người thứ ba để trả nợ, nếu vẫn không đủ để trả nợ, thì bên được bảo đảm (người phải thi hành án) hay bên bảo đảm nghĩa vụ (người thứ ba) hay cả hai bên đều có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ là điều không rõ ràng, dẫn đến việc tranh cãi phức tạp về nghĩa vụ trả nợ vì theo quy định tại Điều 338, Điều 355 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì nếu tiền bán tài sản bảo đảm trả nợ thiếu, thì bên bảo đảm “phải trả tiếp phần còn thiếu”. Điều này sẽ dễ dàng áp dụng trong trường hợp bên bảo đảm đồng thời cũng chính là bên vay vốn, còn nếu bên bảo đảm là bên thứ ba, thì rất khó khăn trong việc ấn định họ phải trả tiếp phần còn thiếu cho người được thi hành án.
Tương tự, đối với tài sản thế chấp là quyền khai thác khoáng sản hoặc tài sản hình thành trong tương lai thì việc định giá tài sản đó rất khó, nên cũng là nguyên nhân tạo ra sự chậm trễ trong thi hành án dân sự.
3. Một số giải pháp
Để đẩy nhanh tiến độ thi hành án, nâng cao tỷ lệ kết quả thi hành án cho tổ chức tín dụng, ngân hàng là rất cần thiết và đòi hỏi phải có giải pháp.
3.1. Đối với Tổng cục Thi hành án dân sự:
 - Tiếp tục chỉ đạo các địa phương nơi có nhiều án tín dụng, ngân hàng, nhất là những nơi có bản án, quyết định đang trong quá trình tổ chức thi hành có vướng mắc cần tích cực phối hợp triển khai Quy chế phối hợp nhằm nâng cao hơn nữa kết quả thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng.về phía các cơ quan thi hành án dân sự địa phương, để giải quyết các khó khăn vướng mắc trong việc thi hành án liên quan đến tín dụng, cần:
- Tiếp tục xác định xử lý nợ xấu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống các cơ quan Thi hành án dân sự để tập trung chỉ đạo thực hiện, nhất là những địa bàn trọng điểm; phối hợp tổ chức thi hành trên tất cả các tỉnh, thành phố và các tổ chức tín dụng có nợ xấu nhằm tạo chuyển biến căn bản trong năm 2016 và những năm tiếp theo.
- Tăng cường công tác phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, các đơn vị liên quan thuộc hai Bộ, nhất là các cơ quan thi hành án dân sự và các tổ chức tín dụng. Phối hợp tìm giải pháp về thể chế, cơ chế để xử lý tài sản trong thi hành án dân sự liên quan đến tổ chức tín dụng.
- Tiếp tục quán triệt, phổ biến Nghị quyết của Chính phủ, Chương trình hành động của Bộ Tư pháp, Quy chế phối hợp giữa Ngân hàng nhà nước và Bộ Tư pháp trong xử lý nợ xấu và Kế hoạch triển khai của Tổng cục đến tất cả các cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan thi hành án dân sự để nâng cao nhận thức, trách nhiệm từ Tổng cục đến cơ quan thi hành án dân sự địa phương đối với việc xử lý nợ xấu trong thi hành án dân sự. Nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của Tổng cục, phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hành động của các Tổ công tác xử lý nợ xấu, trách nhiệm của các Chấp hành viên trực tiếp tổ chức thi hành các vụ việc thi hành án cho các tổ chức tín dụng;
- Thực hiện tốt công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ, gửi các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ cho các đơn vị trực thuộc để áp dụng thống nhất, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án nói chung và thi hành cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng nói riêng.
3.2. Đối với các Cục Thi hành án dân sự
- Quán triệt đến toàn thể công chức làm công tác thi hành án dân sự trên địa bàn về Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015, trong đó, việc thực hiện tốt Quy chế phối hợp là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Nghị quyết của Chính phủ.
- Tại những địa phương đã ký Quy chế phối hợp trong công tác thi hành án dân sự thì chủ động phối hợp với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để thực hiện Quy chế, tại những địa phương chưa ký Quy chế thì xúc tiến việc ký quy chế nếu thấy cần thiết.
- Tăng cường công tác rà soát, phân loại các việc thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng. Đối với các vụ việc có điều kiện thi hành án phải chỉ đạo Chấp hành viên và Chi cục thi hành án tổ chức thi hành án dứt điểm.
- Tăng cường chỉ đạo Chấp hành viên tập trung rà soát các vụ việc thi hành án, xây dựng kế hoạch chi tiết, đề ra các giải pháp cụ thể để giải quyết có hiệu quả đối với từng vấn đề còn vướng mắc liên quan đến giải quyết nợ xấu của các tổ chức tín dụng, ngân hàng; chấn chỉnh công tác báo cáo thống kê liên quan đến việc thi hành án cho tổ chức tín dụng, ngân hàng, đảm bảo nắm bắt kịp thời, đúng lúc tình hình để tập trung chỉ đạo, thực hiện hiệu quả.
- Tổ chức tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, quán triệt đầy đủ các quy định của pháp luật về thi hành án và pháp luật có liên quan (Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Dân sự, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ  về giao dịch bảo đảm...) cho cán bộ, Chấp hành viên để nâng cao năng lực tổ chức thi hành án, đặc biệt là án tín dụng, ngân hàng cho Chấp hành viên.
+ Xử lý nghiêm những cán bộ, Chấp hành viên có hành vi nhũng nhiễu, cố tình kéo dài thời gian thi hành án, không xử lý tài sản theo đúng quy định của pháp luật.
3.3. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng
- Đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hạn chế những rủi ro do việc kinh doanh từ khi ký kết hợp đồng tín dụng mà Bộ Tư pháp đã đề nghị tại Công văn số 498/BTP-PLDSKT ngày 12/02/2015, trong đó có nội dung Bộ Tư pháp đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có chỉ đạo đối với các tổ chức tín dụng trong việc nhận thế chấp cần cân nhắc nhận thế chấp cả tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, tổ chức thẩm định hồ sơ chặt chẽ về tình trạng tài sản thế chấp, bảo lãnh, thẩm định giá theo đúng giá trị thực tế và đánh giá tác động về biến động giá trị của tài sản trong tương lai gần.
- Quá trình thi hành án cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thi hành án dân sự. Đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở địa phương phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc tiến hành rà soát các vụ việc thi hành án, lập kế hoạch để tổ chức thực hiện; xử lý các vướng mắc về chuyên môn nghiệp vụ, kiểm tra việc triển khai và thực hiện Quy chế phối hợp từ đó rút kinh nghiệm chỉ đạo chung, chuẩn bị cho việc sơ kết, tổng kết hàng năm theo Quy chế.
- Đề nghị các tổ chức tín dụng, ngân hàng và VAMC cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án dân sự trong việc rà soát và tổ chức thi hành án, cung cấp đầy đủ các thông tin và các tài liệu liên quan đến tài sản thế chấp để việc xử lý tài sản được nhanh chóng, đảm bảo đúng quy định pháp luật; kịp thời phản ánh các khó khăn vướng mắc để được hướng dẫn giải quyết.
- Đề nghị VAMC khi mua lại các khoản nợ xấu của của các tổ chức tín dụng, ngân hàng có liên quan đến việc thi hành án cần phải thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành vụ việc biết và thực hiện đầy đủ các quy định về trình tự thủ tục thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
- Trong quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng, tổ chức tín dụng, ngân hàng cần có biện pháp theo dõi, kiểm tra tài sản đảm bảo, kịp thời có biện pháp xử lý khi có vấn đề vướng mắc xảy ra. Đồng thời, nếu vụ việc đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thì tổ chức tín dụng, ngân hàng cần phối hợp chặt chẽ với Tòa án và cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tố tụng để đảm bảo bản án, quyết định có tính khả thi (nhất là đối với các loại việc công nhận hòa giải thành).
- Trong quá trình tổ chức thi hành án, tổ chức tín dụng, ngân hàng cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với cơ quan thi hành án dân sự trong việc giải quyết thi hành án; đẩy mạnh phối hợp trong công tác xác minh, thông báo thi hành án, kê biên và thẩm định giá, bán đấu giá tài sản. Trường hợp tài sản không bán được, đề nghị ngân hàng và tổ chức tín dụng xem xét có hướng nhận tài sản để đảm bảo thi hành án, vì hầu hết các vụ việc tồn đọng hiện nay đã kê biên, giảm giá nhiều lần không bán được.
            Như vậy, từ tình hình thực trạng công tác thi hành án dân sự liên quan đến tín dụng, ngân hàng, những khó khăn vướng mắc và một số giải pháp đặt ra như trên cho thấy kết quả thi hành án tín dụng, ngân hàng kể từ sau khi ký kết Quy chế phối hợp đã có sự khởi sắc, kết quả thi hành án xong về án tín dụng, ngân hàng năm 2015 đã tăng gần gấp 04 lần số việc và gấp 03 lần số tiền so với cùng kỳ năm 2014 (năm 2014 thi hành xong 812 việc (đạt 6% trên tổng số việc) tương ứng với số tiền trên 5.328 tỷ đồng (đạt 13% trên tổng số tiền) là một con số đáng mừng. Nhìn ra bức tranh toàn cảnh cho thấy, theo báo cáo thẩm tra việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn từ đầu nhiệm kỳ khóa 13 đến năm 2015, ở lĩnh vực ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu tính đến cuối tháng 8/2015 đã giảm xuống còn 3,2%. Tuy nhiên, số việc thi hành án còn tồn đọng khá nhiều ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ và kết quả thi hành án chung của toàn ngành. Do đó, công tác xử lý nợ xấu trong thi hành án dân sự đòi hỏi sự nỗ lực của toàn ngành, đề nghị các đồng chí nghiên cứu, thảo luận nhằm tìm ra giải pháp khả quan nhất trong việc nâng cao kết quả thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng trong giai đoạn hiện nay./.
 
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
  1. Bộ luật dân sự năm 2005;
  2. Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
  3. Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự 2008;
  4. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự;
  5. Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để thi hành án dân sự
  6. Quy chế phối hợp số 01/QCLN/NHNNVN-BTP ngày 18/3/2015 phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp trong công tác thi hành án dân sự;
  7. Công văn 2423/BTP-THADS ngày 07/7/2015 hướng dẫn thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự trong giai đoạn chuyển tiếp;
  8. Công văn 3823/BTP-TCTHADS ngày 19/10/2015 hướng dẫn thực hiện Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự;
  9. Chuyên đề “Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng" -ThS. Văn Thị Tâm Hồng
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu chung về Bắc Ninh

1. Vị trí địa lý Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP