14:59 EST Thứ ba, 13/11/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 34


Hôm nayHôm nay : 7217

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 89393

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9183384

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: VỀ MIỄN, GIẢM NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI KHOẢN THU, NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Chủ nhật - 13/12/2015 21:17
CHUYÊN ĐỀ: VỀ MIỄN, GIẢM NGHĨA VỤ  THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI KHOẢN THU, NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

CHUYÊN ĐỀ: VỀ MIỄN, GIẢM NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI KHOẢN THU, NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Chuyên đề này sẽ giới thiệu những kết quả đạt được, những bất cập, hạn chế trong việc thực hiện các quy định của Luật THADS 2008, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 10; những sửa đổi, bổ sung (những điểm mới) của Thông tư liên tịch số 12 nhằm thể chế hóa các quy định của Luật sđbs Luật THADS và khắc phục những tồn tại, hạn chế về pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy định cũ; những vấn đề cần lưu ý trong việc thực hiện miễn, giảm THA theo Thông tư liên tịch số 12.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi tắt là Luật sđbs Luật THADS) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25/11/2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015. Luật sđbs Luật THADS đã sửa đổi, bổ sung Điều 61, trong đó có các quy định mới về điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (sau đây gọi tắt là miễn giảm THA) đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước (NSNN); đồng thời, Khoản 6 giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn Điều này. Quyết định số 55/QĐ-TTg ngày 15/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sđbs Luật THADS giao Bộ Tư pháp thực hiện 02 nhiệm vụ cơ bản về xây dựng thể chế để triển khai thi hành Luật sđbs Luật THADS, trong đó có nhiệm vụ xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN.
Thực hiện Luật sđbs Luật THADS và Quyết định số 55/QĐ-TTg ngày 15/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 15/9/2015, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 12). Thông tư liên tịch này có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2015 và thay thế Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/5/2010 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 10).
Chuyên đề này sẽ giới thiệu những kết quả đạt được, những bất cập, hạn chế trong việc thực hiện các quy định của Luật THADS 2008, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 10; những sửa đổi, bổ sung (những điểm mới) của Thông tư liên tịch số 12 nhằm thể chế hóa các quy định của Luật sđbs Luật THADS và khắc phục những tồn tại, hạn chế về pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy định cũ; những vấn đề cần lưu ý trong việc thực hiện miễn, giảm THA theo Thông tư liên tịch số 12.
Công tác xét miễn, giảm THA là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan THADS, qua đó nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án, đồng thời, góp phần giảm án dân sự tồn đọng. Do đó, những quy định về điều kiện xét miễn, giảm; xác minh điều kiện thi hành án để xét miễn, giảm và thủ tục đề nghị xét miễn, giảm cần được quan tâm, lưu ý, đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đúng pháp luật.
2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MIỄN, GIẢM THI HÀNH ÁN VÀ TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ THỰC HIỆN
2.1. Quy định về miễn, giảm THA theo Luật THADS 2008, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này và tình hình, kết quả thực hiện
2.1.1. Một số quy định của pháp luật về miễn, giảm theo Luật THADS 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Theo Luật THADS 2008, vấn đề miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (THA) đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước (NSNN) được quy định tại các điều 61, 62, 63 và 64. So với Pháp lệnh THADS 2004, Luật THADS 2008 đã mở rộng từ việc chỉ xét miễn, giảm đối với khoản án phí, tiền phạt thành các khoản thu, nộp NSNN (bao gồm cả một số khoản khác, như truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, tịch thu sung quỹ).
Để hướng dẫn các quy định của Luật THADS 2008 về miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS đã sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 58/2009/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung năm 2013) có 01 điều (Điều 26) quy định về miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN. Đồng thời, liên ngành đã có Thông tư liên tịch số 10 ngày 25/5/2010 hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN.
Về cơ bản, các quy định tại Thông tư liên tịch số 10 bảo đảm phù hợp, thống nhất với các văn bản pháp luật có liên quan, trong đó có Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Đặc xá; điều chỉnh tương đối đầy đủ trình tự, thủ tục; quy định tương đối cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong xét miễn, giảm THA. Việc triển khai, tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch số 10 cơ bản đã đáp ứng nhiệm vụ quản lý nhà nước trong THADS. Các cơ quan THADS đã tích cực, chủ động xác minh và lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, tạo cơ sở để Viện kiểm sát, Tòa án các cấp kiểm sát, xét miễn, giảm cho người phải THA đủ điều kiện.
2.1.2. Tình hình, kết quả triển khai, thực hiện miễn, giảm theo Luật THADS 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này
2.1.2.1. Kết quả đạt được
a) Về triển khai tổ chức thi hành Thông tư liên tịch số 10
Sau khi được ban hành, liên ngành đã kịp thời triển khai, quán triệt đến các cơ quan THADS, các Tòa án, các Viện kiểm sát địa phương. Năm 2012, Bộ Tư pháp đã tổ chức 03 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về THADS tại 03 miền cho các đối tượng là Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên, trong đó có nội dung nghiệp vụ THADS liên quan đến công tác xét miễn, giảm THA.
Các Trại giam, trại tạm giam trong quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật về THA hình sự đã phối hợp với cơ quan THADS phổ biến các quy định của pháp luật THADS nhằm động viên, hướng dẫn cho người phải THA đang chấp hành hình phạt tù biết rõ nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong THADS và xét miễn, giảm THA, đặc biệt là trong các đợt đặc xá, xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Viện kiểm sát các cấp đã thực hiện hiệu quả công tác kiểm sát, Tòa án các cấp đã thực hiện việc xét miễn, giảm THA, đảm bảo thực hiện xét miễn, giảm cho các đối tượng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Bộ Tư pháp (Tổng cục THADS) cũng đã phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ Kiểm sát THADS) kịp thời hướng dẫn các cơ quan THADS và VKSND các cấp về các nội dung liên quan đến “thi hành được một phần nghĩa vụ” và căn cứ để tính thời hạn đủ điều kiện xét miễn, giảm. Trên cơ sở hướng dẫn này, các cơ quan THADS và Viện kiểm sát các cấp đã thống nhất thực hiện, khắc phục tình trạng trả lại hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, đảm bảo việc xét miễn, giảm đúng điều kiện, đúng đối tượng.
b) Về kết quả xét miễn, giảm thi hành án
- Đối với các cơ quan THADS:
+ Năm 2011, đã đề nghị xét miễn, giảm đối với 11.954 việc, với số tiền là 36 tỷ 501 triệu 438 nghìn đồng. Đã miễn, giảm được 9.943 việc, với số tiền 27 tỷ 722 triệu 231 nghìn đồng (trong đó, miễn 9.095 việc, với số tiền 21 tỷ 847 triệu 349 nghìn đồng; giảm 848 việc, với số tiền 5 tỷ 874 triệu 882 nghìn đồng).
+ Năm 2012, đã đề nghị xét miễn, giảm đối với 11.131 việc, với số tiền 35 tỷ 874 triệu 334 nghìn đồng. Đã thực hiện miễn, giảm được 9.924 việc, với số tiền 29 tỷ 874 triệu 673 nghìn đồng (miễn 8.818 việc, với số tiền 23 tỷ 62 triệu 525 nghìn đồng; giảm 1.106 việc, với số tiền 6 tỷ 812 triệu 148 nghìn đồng).
+ Năm 2013, đề nghị xét miễn, giảm đối với 8.213 việc, với số tiền là 36 tỷ 942 triệu 25 nghìn đồng (giảm 2.918 việc nhưng tăng 1 tỷ 67 triệu 691 nghìn đồng so với năm 2012). Đã được miễn, giảm là 6.006 việc, với số tiền 32 tỷ 857 triệu 723 nghìn đồng (giảm 3.918 việc nhưng tăng 2 tỷ 983 triệu 50 nghìn đồng so với năm 2012).
+ Năm 2014, đề nghị xét miễn, giảm 8.086 việc, với số tiền 46 tỷ 959 triệu 182 nghìn đồng; đã xét miễn, giảm được 7.470 việc, tương ứng với số tiền 44 tỷ 483 triệu 385 nghìn đồng, tăng 1.464 việc và 11 tỷ 625 triệu 662 nghìn đồng so với năm 2013.
+ Năm 2015, đề nghị xét miễn, giảm 9.099 việc, với số tiền là 42 tỷ 375 triệu 27 nghìn đồng; đã xét miễn, giảm được 8.238 việc, với số tiền 39 tỷ 460 triệu 557 nghìn đồng, tăng 768 việc nhưng giảm 5 tỷ 22 triệu 828 nghìn đồng so với năm 2014.
- Từ năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2015[1], các cơ quan THA trong quân đội đã lập hồ sơ, phối hợp với Viện kiểm sát quân sự, đề nghị Tòa án quân sự xét miễn, giảm THA. Kết quả, Tòa án quân sự đã xét và quyết định miễn, giảm THA khoản thu, nộp NSNN 24 việc với số tiền 125.190.000 đồng, bảo đảm đúng quy trình, không có sai sót, nhầm lẫn.
Từ các số liệu nêu trên cho thấy, kết quả xét miễn, giảm hàng năm đều tăng về số việc và giá trị; điều này khẳng định chính sách nhân đạo của Nhà nước được thực thi trên thực tế, đồng thời góp phần giải quyết án tồn đọng.
2.1.2.2. Khó khăn, vướng mắc, hạn chế, tồn tại
a) Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng Thông tư liên tịch số 10 và các văn bản liên quan
(i) Về đáp ứng các điều kiện để được xét miễn, giảm THA
Theo quy định tại Điều 61 Luật THADS 2008, Điều 26 của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 125/2013/NĐ-CP, ngoài trường hợp xét miễn nghĩa vụ THA đối với các khoản có giá trị nhỏ, các trường hợp xét miễn, giảm THA còn lại phải đáp ứng yêu cầu, người phải THA thi hành được một phần nghĩa vụ (theo Nghị định 58/2009/NĐ-CP là 1/20 và theo Nghị định 125/2013/NĐ-CP là 1/50) nhưng không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch.
Thực tiễn thực hiện cho thấy, việc phải thi hành được 1/20 hay 1/50 nghĩa vụ đối với nhiều trường hợp gặp khó khăn, do người phải THA không có điều kiện thi hành, nhất là các trường hợp phạm tội về ma túy, hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo, không có tiền, tài sản, thu nhập để thi hành; gia đình thuộc hộ nghèo, không có khả năng hỗ trợ thi hành án.
(ii) Về xác minh điều kiện để được xét miễn, giảm THA
Theo quy định tại Điều 61 Luật THADS 2008, việc không xác minh được địa chỉ của người phải THA không phải là điều kiện để được xét miễn, giảm. Trên thực tế, việc xác minh điều kiện THA nói chung và điều kiện THA để xét miễn, giảm THA gặp không ít khó khăn trong việc xác định địa chỉ của người phải THA vì các lý do: sau khi ra tù người phải THA không trở về địa phương, nơi cư trú; người phải THA không có mặt địa phương và cũng không xác định được nơi thường trú cuối cùng của họ; người phải THA lang thang, cơ nhỡ…
Ngoài ra, có trường hợp việc phối hợp, cung cấp, xác minh, xác nhận về điều kiện miễn, giảm THA theo đề nghị của cơ quan THADS còn chậm so với yêu cầu, có trường hợp nơi nhận được đề nghị xác minh không gửi lại kết quả.
(iii) Vướng mắc trong việc áp dụng quy định “mức án phí không có giá ngạch”
Theo Nghị định số 58/2009/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 125/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS, “người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp NSNN đã thi hành được ít nhất bằng 1/50 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch”. Tuy nhiên, quy định về mức án phí không có giá ngạch có thay đổi, cụ thể là mức 50.000 đồng (theo Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án) đã nâng lên mức 200.000 đồng (theo Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án). Do chưa có quy định rõ về việc áp dụng “mức án phí không có giá ngạch” tại thời điểm xét miễn, giảm hay tại thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nên có trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hủy quyết định xét miễn, giảm của Tòa án.
(iv) Quy định về thẩm quyền của Tòa án quân sự và Viện kiểm sát quân sự còn chưa phù hợp với Luật THADS
Quy định tại Điều 63 Luật THADS hoàn toàn phù hợp với pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, theo đó: thẩm quyền xét miễn, giảm THA thuộc Tòa án cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực, nơi cơ quan THADS đang tổ chức việc THA có trụ sở. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-TANDTC-VKSNDTC lại quy định, Tòa án có thẩm quyền xét miễn, giảm THA là “Toà án quân sự khu vực nơi người phải THA cư trú, làm việc”, điều này vừa không phù hợp với Điều 63 Luật THADS, vừa gây khó khăn cho cơ quan THA trong quân đội, vì cơ quan THA cấp quân khu đóng trên địa bàn bao gồm nhiều tỉnh, nếu phải chuyển hồ sơ cho Tòa án quân sự khu vực nơi người phải THA cư trú, làm việc thì có trường hợp chi phí đi lại tốn kém hơn rất nhiều so với khoản tiền được xét miễn, giảm cho đương sự.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-TANDTC-VKSNDTC quy định Viện kiểm sát cấp quân khu ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp khu vực nơi người phải THA cư trú, làm việc đề nghị Tòa án cùng cấp xét miễn, giảm phần tiền phạt còn lại quy định tại khoản 2 Điều 58 và khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự là không phù hợp, bởi lẽ, Viện kiểm sát cấp khu vực chính là cơ quan có thẩm quyền đề nghị xét miễn, giảm.
Các vấn đề bất cập nêu trên của Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-TANDTC-VKSNDTC đang được xem xét sửa đổi, bổ sung, bảo đảm chặt chẽ, phù hợp với pháp luật hiện hành.
b) Một số vấn đề kỹ thuật của Thông tư liên tịch số 10
(i) Quy định về thời hạn chưa cụ thể hoặc chưa phù hợp
- Khoản 1 Điều 4 chưa quy định rõ về thời điểm, thời hạn cơ quan THADS có văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xét miễn, giảm THA. Trong khi đó, có trường hợp người phải THA không biết họ có đủ điều kiện để miễn, giảm THA nên không có đơn đề nghị. Việc không quy định thời hạn cụ thể có thể gây ra tình trạng cơ quan THADS không tiến hành thủ tục xét miễn, giảm để bảo đảm quyền, lợi ích của người phải THA.
- Tại Điều 7, việc quy định thời hạn chuyển hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm THA từ cơ quan THADS sang Viện kiểm sát cùng cấp vào đầu tháng của mỗi quý là khá dài. Điều này có thể dẫn đến việc chưa nâng cao trách nhiệm của Chấp hành viên trong việc giảm án tồn đọng; chưa đảm bảo việc xét miễn, giảm kịp thời cho người phải THA. Bên cạnh đó, chưa quy định rõ thời hạn để Viện kiểm sát thực hiện việc yêu cầu cơ quan THADS giải thích, bổ sung hồ sơ.
(ii) Một số hạn chế về kỹ thuật lập quy
- Bố cục một số điều, khoản của Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-TANDTC-VKSNDTC chưa phù hợp:
+ Khoản 1 Điều 3 quy định về điều kiện xét miễn, giảm trong trường hợp người phải THA phải thi hành nhiều bản án, quyết định của Tòa án; do đó, để nội dung này ở Điều 3 (nguyên tắc xét miễn, giảm THA) là không phù hợp. Các quy định về nguyên tắc phải mang tính chỉ đạo, xuyên suốt quá trình xét miễn, giảm (như khách quan, công khai, minh bạch, kịp thời, đúng đối tượng).
+ Khoản 1 Điều 4: tên điều là thẩm quyền đề nghị xét miễn, giảm, nhưng nội dung lại có các quy định về trình tự, thủ tục thực hiện việc đề nghị. Cần tách các nội dung này thành một điều khác hoặc thiết kế logic hơn.
+ Khoản 2 Điều 6 quy định về nội dung xác minh điều kiện THA để xét miễn, giảm. Việc xác minh được thực hiện trước giai đoạn lập hồ sơ, là căn cứ để lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, do đó, để ở Điều 6 (Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm THA) là không phù hợp.
+ Tại Khoản 2 Điều 7 quy định về việc Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan THADS lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm khi có căn cứ cho rằng người phải THA đủ điều kiện để xét miễn, giảm. Điều này chỉ có thể thực hiện khi Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát THA, không phải khi kiểm sát hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm. Do đó, nội dung này để ở khoản 2 Điều 7 là không phù hợp.
+ Khoản 2 Điều 10 quy định việc Tòa án trả lại hồ sơ do không thực hiện đúng thủ tục. Đây là hoạt động ở giai đoạn thụ lý hồ sơ hoặc tại phiên họp xét miễn, giảm, không phải ở giai đoạn thi hành quyết định của Tòa án về xét miễn, giảm THA, do đó, để ở Điều 10 là không phù hợp.
- Một số quy định chưa cụ thể, thiếu chặt chẽ:
+ Khoản 4, khoản 5 Điều 1 giải thích khái niệm “người phải THA không có tài sản để THA”, “người phải THA lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài”, tuy nhiên, chưa quy định thời hạn để xác định là “kéo dài” khi “lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn”. Khoản 6 giải thích khái niệm “người phải THA lập công lớn”, tuy nhiên, hiện nay, ngoài quy định của Bộ Công an về lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù và một số thành tích (như được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lao động, được tặng thưởng Huân chương...) để xét đặc xá trong một số trường hợp đặc biệt thì chưa có văn bản nào quy định, hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.
+ Pháp luật chưa quy định cụ thể nguyên tắc miễn, giảm đối với trường hợp, cùng lúc, một người phải thi hành nhiều bản án, quyết định. Đồng thời, Điều 51 Bộ luật Hình sự chỉ mới giải quyết vấn đề tổng hợp hình phạt mà chưa quy định tổng hợp phần nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN.
- Thủ tục hành chính chưa hoàn thiện: Khoản 1 Điều 4 có quy định việc người phải THA có đơn đề nghị xét miễn, giảm THA, tuy nhiên, chưa quy định cách thức thực hiện (gửi trực tiếp cho cơ quan THADS, gửi qua bưu điện hay gửi qua internet); việc thông báo về kết quả xác minh chưa đủ điều kiện xét miễn, giảm chưa quy định phải nêu rõ lý do.
- Một số quy định không cần thiết:
+ Điều 1: việc giải thích các khái niệm “khoản thu nộp NSNN”, “miễn THA”, “giảm THA” là không cần thiết vì vấn đề này đã được quy định tại khoản 3 Điều 2, hơn nữa các khái niệm này không được sử dụng trong các quy định còn lại của Thông tư.
+ Quy định về xử lý vi phạm về việc xét miễn, giảm THA tại Điều 11 là không cần thiết vì nội dung này không hướng dẫn cụ thể hay chi tiết hóa quy định nào của Luật THADS, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự.
c) Về một số hạn chế, tồn tại trong thực tiễn xét miễn, giảm THA
Về cơ bản, số việc Tòa án đã xét miễn, giảm so với số việc mà cơ quan THADS đề nghị đạt tỷ lệ tương đối cao, qua đó phản ánh việc đề nghị xét miễn, giảm THA đã bảo đảm chính xác, khách quan và được cơ quan Tòa án quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, số việc được Tòa án xét miễn, giảm luôn thấp hơn số việc cơ quan THADS đề nghị xét miễn, giảm, ví dụ: năm 2013 xét miễn, giảm được 6.006 việc/ 8.213 việc đề nghị (đạt tỉ lệ: 73,13%), năm 2014 xét miễn, giảm được 7.470 việc/8.086 việc đề nghị (đạt tỉ lệ: 92,38%); vẫn còn tình trạng chậm xét miễn, giảm...
Hạn chế, tồn tại nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:
- Về mặt chủ quan: Việc kiểm tra công tác phân loại hồ sơ THA tuy đã được quan tâm nhưng chất lượng còn chưa cao, thiếu chính xác; công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ chưa được quan tâm đúng mức; quan hệ phối hợp có lúc có nơi còn chưa kịp thời; nhận thức về ý nghĩa, vai trò của công tác miễn, giảm, ý thức trách nhiệm của một bộ phận Chấp hành viên, công chức còn chưa cao. Do đó, vẫn còn một số trường hợp chưa đảm bảo quy trình, thời hạn, hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm.
- Về mặt khách quan: Một số quy định của pháp luật còn chưa chặt chẽ, thiếu cụ thể (về xác định người phải THA lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, kéo dài, lập công lớn); một số quy định áp dụng chưa thống nhất (mức án phí có giá ngạch; xét miễn giảm 01 năm 01 lần)...
 Những hạn chế, tồn tại nêu trên cần được khắc phục kịp thời trong quá trình lập hồ sơ và kiểm sát hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, để từ đó nâng cao hơn nữa tỉ lệ được xét trên số việc đề nghị.
2.2. Những quy định mới về miễn, giảm THA của Luật sđbs Luật THADS và Thông tư liên tịch số 12
2.2.1. Quy định mới về miễn, giảm THA của Luật sđbs Luật THADS
a) Về điều kiện để được xét miễn, giảm THA
- Khoản 1 Điều 61 đã mở rộng mức xét miễn nghĩa vụ THA mà không yêu cầu “đã thi hành được một phần” khi hết thời hạn 05 năm: nâng mức nghĩa vụ phải thi hành từ mức “án phí không có giá ngạch” lên thành “khoản thu, nộp NSNN có giá trị dưới 2 triệu đồng”. Quy định này mở rộng khá nhiều diện được xét miễn thi hành mà không cần thi hành được một phần nghĩa vụ.
- Để giải quyết tình trạng người phải THA lâm vào hoàn cảnh khó khăn do thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, Khoản 4 Điều 61 đã bổ sung quy định phù hợp với nguyên tắc xét miễn hình phạt của Bộ luật Hình sự: “Người phải THA đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại”.
b) Về phần nghĩa vụ THA tối thiểu mà người phải THA phải thực hiện
Luật sđbs Luật THADS giữ nguyên tinh thần của Luật THADS 2008, yêu cầu người phải THA phải “thi hành được một phần khoản thu, nộp NSNN” thì mới được xét miễn, giảm THA.
Nghị định số 58/2009/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 125/2013/NĐ-CP quy định cụ thể về “thi hành được một phần” đều quy định giá trị thi hành được một phần “không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch”. Tuy nhiên, qua rà soát cho thấy Luật THADS cũng như Luật sđbs Luật THADS đều không quy định về mức nghĩa vụ tối thiểu. Do đó, quy định “nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch” của các Nghị định nêu trên chưa thực sự phù hợp với Luật THADS, đồng thời gây ra tình trạng áp dụng không thống nhất về “mức án phí không có giá ngạch” trong thực tiễn xét miễn, giảm thời gian qua.
Chính vì vậy, vấn đề này được lưu ý trong quá trình xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn xét miễn, giảm (theo hướng không kế thừa quy định của Nghị định)
c) Về nguyên tắc xét miễn, giảm trong trường hợp cùng một lúc, một người phải thi hành nhiều bản án, quyết định, khoản 5 Điều 61 đã quy định rõ: Người phải THA chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định của tòa án.
Như vậy, Luật sđbs Luật THADS đã giải quyết khá cơ bản một số vướng mắc, khó khăn của thực tiễn xét miễn, giảm THA, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện thể chế về xét miễn, giảm THA.
2.2.2. Quy định mới về miễn, giảm THA của Thông tư liên tịch số 12
2.2.2.1. Về phạm vi điều chỉnh
- Theo Luật THADS, vấn đề miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN được quy định tại các Điều 61 (Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN), Điều 62 (Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN), Điều 63 (Thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN) và Điều 64 (Kháng nghị quyết định của Tòa án về miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN). Để hướng dẫn các điều này, liên ngành đã có Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-VSKNDTC-TANDTC ngày 25/5/2010 hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN. Thông tư liên tịch số 10 dẫn chiếu các quy định về điều kiện miễn, giảm của pháp luật THADS, pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và chủ yếu quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục miễn giảm.
Luật sđbs Luật THADS chỉ sửa đổi Điều 61, còn các điều 62, 63 và 64 được giữ nguyên.
Do đó, Thông tư liên tịch số 12 cơ bản giữ nguyên các quy định còn phù hợp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục miễn giảm của Thông tư liên tịch số 10; quy định về điều kiện miễn, giảm chạt chẽ hơn, đảm bảo phù hợp với Điều 61 Luật sđbs Luật THADS.
- Nghị định 58/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 125/2013/NĐ-CP, trong đó có 01 điều (Điều 26) quy định về miễn giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN. Tuy nhiên, do Khoản 6 Điều 61 Luật THADS giao liên tịch quy định về miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN, nên trong quá trình xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 20/7/2015, thay thế Nghị định 58/2009/NĐ-CP, Nghị định 74/2009/NĐ-CP và Nghị định 125/2013/NĐ-CP), Ban soạn thảo thống nhất phạm vi điều chỉnh của Nghị định này không quy định các vấn đề liên quan đến miễn, giảm nghĩa vụ THA.
Vì vậy, các nội dung còn phù hợp với Luật sđbs Luật THADS tại Điều 26 Nghị định 58/2009/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 125/2013/NĐ-CP cũng được kế thừa để quy định chi tiết và hướng dẫn thống nhất tại Thông tư liên tịch số 12.
- Như phân tích ở phần 1 nêu trên, bên cạnh những mặt tích cực và đạt được những kết quả nhất định, song thực tiễn thực hiện Thông tư liên tịch số 10 đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập; kỹ thuật lập pháp còn một số quy định chưa chặt chẽ, thiếu logic.
Vì vậy, xuất phát từ những lý do nêu trên, thể chế hóa Điều 61 và Điều 183 Luật THADS; đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống các văn bản hướng dẫn; giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN, Chính phủ không quy định chi tiết về miễn, giảm THA trong Nghị định; liên ngành không sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 10 mà xây dựng Thông tư liên tịch mới, thay thế Thông tư liên tịch số 10.
2.2.2.2. Về một số vấn đề liên quan đến hiệu lực của Thông tư liên tịch số 12
Quá trình xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn về miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN, ngay từ khâu đề xuất quan điểm, định hướng, đến quá trình xây dựng Thông tư liên tịch, vấn đề xác định các cơ quan ký ban hành Thông tư liên tịch đã được trao đổi, thảo luận, lấy ý kiến rất kỹ để đi đến thống nhất chung, đó là, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký ban hành Thông tư liên tịch này, bởi các lý do sau:
Thứ nhất, Thông tư liên tịch số 10 được 05 Bộ, ngành ký, gồm Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Việc xây dựng Thông tư này thực hiện theo quy định tại Điều 183 Luật THADS [2] và Điều 36 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP[3]. Trong khi đó, Khoản 6 Điều 61 Luật THADS đã sửa đổi, bổ sung năm 2014, giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng Thông tư liên tịch về miễn, giảm hướng dẫn điều này. Do đó, các cơ quan ban hành Thông tư liên tịch về miễn, giảm phải bảo đảm đúng thẩm quyền quy định tại Luật THADS đã sửa đổi, bổ sung năm 2014 và chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực có liên quan.
Các quy định của Thông tư liên tịch về miễn, giảm chủ yếu thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao - là những cơ quan đã được giao trách nhiệm tại Điều 61 Luật THADS đã được sửa đổi, bổ sung. Thông tư liên tịch về miễn, giảm liên quan đến thu NSNN, là lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính, nên cần thiết có sự tham gia của Bộ Tài chính. Quyết định số 55/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc xây dựng Thông tư liên tịch này.
Thứ hai, việc Bộ Công an tham gia với vai trò là một trong các cơ quan ký ban hành Thông tư liên tịch về miễn, giảm sẽ thuận lợi, dễ dàng trong việc thiết kế nội dung quy định liên quan đến việc thay thế Thông tư liên tịch số 10[4], tuy nhiên, sẽ không bảo đảm thẩm quyền được giao tại Điều 61 của Luật THADS như đã trình bày ở trên, hơn nữa, dự thảo Thông tư liên tịch về miễn, giảm chỉ có duy nhất 01 nội dung liên quan đến trách nhiệm của Trại giam, Trại tạm giam, cơ quan THA hình sự Công an cấp huyện phối hợp với cơ quan THADS trong việc xác nhận điều kiện THA và một số thông tin của phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù. Trách nhiệm này cũng tương tự như các cơ quan khác trong quá trình phối hợp xác minh điều kiện THA như UBND cấp xã, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, cơ sở y tế v.v... bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa cơ quan THADS với trại giam, trại tạm giam đã được quy định cụ thể tại các văn bản QPPL khác (Khoản 4 Điều 169 Luật THADS; Điểm g Khoản 1 Điều 16 Luật THA hình sự; Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BTC-BCA) và mới đây Tổng cục THADS và Tổng cục THAHS&HTTP, Bộ Công an đã ký Quy chế phối hợp liên ngành trong công tác thi hành án dân sự (hiện 02 Tổng cục đang thực hiện thủ tục phát hành và sẽ có văn bản chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, các địa phương triển khai thực hiện).
Ngày 06/7/2015, Bộ Công an có Công văn số 1326/BCA-C81 góp ý dự thảo Thông tư liên tịch, trong đó, nhất trí về việc không tham gia ký Thông tư liên tịch.
Chính vì vậy, mặc dù không phải do 05 cơ quan ký ban hành như Thông tư liên tịch số 10 trước đây, nhưng Thông tư liên tịch số 12 có hiệu lực thay thế Thông tư liên tịch số 10.
2.2.2.3. Những sửa đổi, bổ sung (những điểm mới) của Thông tư liên tịch số 12 so với Thông tư liên tịch số 10
Thông tư liên tịch số 12 kế thừa cơ bản kết cấu và một số điều của Thông tư liên tịch số 10; không kế thừa 02 điều (Điều 1 và Điều 11) của Thông tư liên tịch số 10 vì các nội dung của 02 điều này đã được Luật Thi hành án quy định hoặc được chuyển hóa vào các điều khác của Thông tư liên tịch số 12. Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 12 thiết kế lại tên chương, điều, thứ tự và nội dung một số điều nhằm đảm bảo tính logic, chặt chẽ, phù hợp với các quy định của Luật THADS. Thông tư liên tịch số 12 gồm 03 chương và 12 điều, với các vấn đề mới cơ bản như sau:
a) Phần căn cứ ban hành:
Căn cứ ban hành Thông tư liên tịch số 12 được sửa đổi đảm bảo phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật quy định về nội dung (Luật sđbs Luật THADS) và quy định về thẩm quyền (02 luật tổ chức của TAND, VKSND và 02 Nghị định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính).
So với Thông tư liên tịch số 10 trước đây, Thông tư liên tịch số 12 không có căn cứ ban hành là Bộ luật Hình sự 1999 và Bộ luật Tố tụng hình sự 2003; bởi lẽ: các văn bản này hiện đang được sửa đổi; các quy định của Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật THADS và Luật sđbs Luật THADS, chỉ dẫn chiếu một số quy định của Bộ luật Hình sự nên không cần thiết phải quy định Bộ luật Hình sự là căn cứ ban hành; trình tự, thủ tục xét miễn, giảm tại Tòa án hiện nay đang được xây dựng theo hướng chuyển từ quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự sang Bộ luật Tố tụng dân sự (đang sửa đổi), và nội dung quy định đảm bảo thống nhất với các Điều 62, 63 và 64 Luật THADS.
b) Chương I. Những quy định chung (gồm 04 điều):
- Bổ sung Điều 1 về Phạm vi điều chỉnh để xác định cụ thể các nội dung của Thông tư liên tịch.
- Điều 2. Các khoản thuộc diện được xét miễn, giảm: quy định các khoản thu, nộp cho NSNN phù hợp với các khoản thuộc diện chủ động ra quyết định THA theo Điều 36 Luật THADS, khoản lãi chậm THA trên số tiền được xét miễn, giảm. Điều này không kế thừa các khoản 1, 2 của Điều 2 Thông tư liên tịch số 10 vì các nội dung này đã được quy định tại Khoản 4 Điều 61 Luật THADS.
Đồng thời, bổ sung “lãi chậm thi hành án đối với khoản được miễn, giảm (nếu có)” cũng được xét miễn, giảm, vì khi nghĩa vụ thi hành án được miễn, giảm thì đương nhiên khoản lãi chậm thi hành án đối với phần nghĩa vụ đó cũng được miễn, giảm.
- Điều 3. Nguyên tắc xét miễn, giảm: bổ sung nguyên tắc chung mang tính xuyên suốt trong việc thực hiện miễn, giảm THA là khách quan, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng thời hạn, đúng pháp luật.
Đối với điều kiện xét miễn, giảm khi người phải THA phạm tội mới, đây không phải là nguyên tắc xét miễn giảm để áp dụng chung nên được chuyển xuống Khoản 2 Điều 4 cho bảo đảm thống nhất.
- Điều 4. Điều kiện xét miễn, giảm: hướng dẫn cụ thể các nội dung cần chi tiết, cụ thể hóa Điều 61 Luật THADS, cụ thể:
+ Giữ nguyên điều kiện về thi hành được một phần là 1/50 khoản thu nộp ngân sách nhà nước như quy định tại Điều 26 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung năm 2013. Mặt khác, dự thảo Thông tư bỏ điều kiện “nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch” của Khoản 1 Điều 26 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung năm 2013 để đảm bảo phù hợp với quy định của Luật THADS (không quy định mức tối thiểu).
+ Quy định điều kiện “tích cực thi hành được một phần án phí” tại Khoản 4 Điều 61 Luật THADS là thi hành được 1/50 khoản án phí, tương tự như các khoản thu, nộp ngân sách nhà nước trong trường hợp xét miễn, giảm theo Khoản 2, 3 Điều 61 Luật THADS.
+ Quy định điều kiện “tích cực thi hành được một phần tiền phạt” tại Khoản 4 Điều 61 Luật THADS theo hướng dẫn chiếu quy định của Bộ luật Hình sự về miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.
+ Chuyển nội dung của Khoản 5, 6 Điều 1 Thông tư liên tịch số 10 hướng dẫn nội dung người phải THA lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài hoặc lập công lớn thành các đoạn của Khoản 3 Điều 4 để hướng dẫn cụ thể Khoản 4 Điều 61 Luật THADS.
c) Chương II. Thủ tục đề nghị và xét miễn, giảm THA (gồm 07 điều):
Chương II được xây dựng trên cơ sở gộp Chương II và Chương III Thông tư liên tịch số 10 để quy định thống nhất, liền mạch từ quá trình xác minh, đề nghị xét đến việc thực hiện xét miễn, giảm THA. Chương II gồm 07 điều:
- Điều 5. Xác minh điều kiện để xét miễn, giảm: đây là điều mới, được thiết kế lại trên cơ sở thiết kế lại các nội dung liên quan về xác minh quy định tại các điều 4, 6 và 7 của Thông tư liên tịch số 10. Bên cạnh đó, Điều 5 quy định rõ về các căn cứ để thực hiện xác minh điều kiện xét miễn, giảm THA; thời hạn tiến hành xác minh và thời hạn lập hồ sơ, trả lời đề nghị, yêu cầu của người phải THA, Viện kiểm sát sau khi có kết quả xác minh.
- Điều 6. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm: ngoài việc chuyển nội dung Khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 10 lên quy định tại Điều 5, Điều 6 đã bổ sung quy định về thời hạn lập hồ sơ; hồ sơ chuyển Viện kiểm sát; chỉnh lý tên gọi các tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nhằm đảm bảo thuận lợi cho cơ quan THADS trong quá trình xác minh và hoàn thiện hồ sơ xét miễn giảm; bổ sung quyết định của Thủ trưởng Cơ quan THADS về việc người phải THA chưa có điều kiện THA cho phù hợp với Điểm a Khoản 1 Điều 44a Luật THADS; bổ sung bản sao quyết định giảm nghĩa vụ THA đối với trường hợp đã được giảm một phần nghĩa vụ THA cho phù hợp với thực tiễn thực hiện; chỉnh lý tên phiếu xác nhận của Trại giam, trại tạm giam để thống nhất với Khoản 3 Điều 5.
- Điều 7. Kiểm sát hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm: Quy định thời hạn chuyển hồ sơ để Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát là hàng tháng, thay vì tháng đầu của mỗi quý như Thông tư liên tịch số 10, nhằm nâng cao trách nhiệm của Chấp hành viên trong việc giảm án tồn đọng; đảm bảo quyền và lợi ích của người phải THA trong trường hợp hồ sơ bị trả lại do không đúng thủ tục tại Khoản 1 Điều 9 (phải hoàn thiện để đề nghị trong kỳ xét miễn, giảm gần nhất).
- Điều 8. Thủ tục đề nghị xét miễn, giảm: quy định rõ thủ tục thực hiện việc đề nghị xét miễn, giảm, theo đó, phân tách thành 02 khoản quy định (i) cơ quan THADS đề nghị xét miễn, giảm THA đối với trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 và 3; miễn phần án phí còn lại theo Khoản 4 Điều 61 Luật THADS; (ii) Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét miễn, giảm đề nghị miễn phần tiền phạt còn lại theo Khoản 4 Điều 61 Luật THADS; giảm phần tiền phạt đối với người chưa thành niên theo quy định của Bộ luật Hình sự; đồng thời đảm bảo thực hiện đúng quy định về thẩm quyền của Tòa án quy định tại Điều 63 Luật THADS.
Quy định tại Điều 8 đã khắc phục được những bất cập của Khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch số 10 (không phù hợp với Điều 63 Luật THADS) cũng như các vướng mắc của cơ quan THA trong việc thực hiện quy định này.
- Điều 9. Thủ tục xét miễn, giảm: cơ bản giữ nguyên quy định của Thông tư liên tịch số 10; kế thừa Nghị định 125/2013/NĐ-CP theo hướng bổ sung quyết định của Tòa án về việc xét miễn, giảm ghi rõ nội dung số tiền lãi chậm THA được miễn, giảm; quy định thời hạn có hiệu lực của quyết định xét miễn, giảm đảm bảo thống nhất với Khoản 1 Điều 64 Luật THADS (khắc phục hạn chế của Điểm e Khoản 2 Điều 8 Thông tư liên tịch số 10).
- Điều 10. Kháng nghị quyết định của Tòa án về miễn, giảm: cơ bản giữ nguyên quy định của Thông tư liên tịch số 10; quy định cụ thể trình tự, thủ tục tổ chức phiên họp xét kháng nghị.
- Điều 11 quy định về thi hành quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm đảm bảo thống nhất với quy định của Điều 50 Luật THADS (chỉ đình chỉ khi miễn THA).
d) Chương III. Điều khoản thi hành
Chương III gồm 01 điều: Điều 12. Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp, theo đó, Tòa án áp dụng quy định của Thông tư liên tịch này để xét miễn, giảm đối với hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm đã được Tòa án thụ lý trước khi Thông tư liên tịch về miễn, giảm có hiệu lực mà chưa tổ chức họp xét miễn, giảm trong trường hợp việc áp dụng có lợi cho người được xét miễn, giảm THA.
2.2.3. Một số vấn đề cần lưu ý trong việc thực hiện miễn, giảm thi hành án theo Thông tư liên tịch số 12
2.2.3.1. Về điều kiện xét miễn, giảm
a) Đối với các trường hợp chung
Khoản 1 Điều 4 Thông tư hướng dẫn cụ thể các khoản 2, 3 Điều 61 Luật THADS đã sđbs, cụ thể:
1. Điều kiện xét miễn, giảm thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 61 Luật Thi hành án dân sự.
Thi hành được một phần khoản thu, nộp ngân sách nhà nước quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 hoặc một phần án phí quy định tại Khoản 4 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự là đã thi hành được ít nhất bằng một phần năm mươi khoản thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc khoản án phí phải thi hành theo bản án, quyết định của Tòa án”.
Theo đó, nội dung của khoản này được hiểu như sau:
- Khoản 2, khoản 3 Điều 61 Luật THADS đã sđbs đều quy định: “Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây…”. Khái niệm “đã thi hành được một phần” được hướng dẫn cụ thể là “ít nhất bằng một phần năm mươi khoản thu, nộp ngân sách nhà nước... theo bản án, quyết định của Tòa án”. Như vậy, quy định này cơ bản thống nhất với Nghị định 58/2009/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ sung năm 2013, nhưng không còn quy định về mức tối thiểu “không thấp hơn mức án phí không có giá ngạch”. Ví dụ, nếu A có nghĩa vụ thi hành khoản án phí, lệ phí Tòa án, tịch thu sung quỹ nhà nước là 7 triệu đồng, A đã thi hành được 1/50 của 7 triệu (=140 nghìn đồng), A đủ điều kiện về mức tiền đã thi hành để được xét miễn, giảm (không cần phải thi hành ít nhất 200 nghìn đồng là mức án phí không có giá ngạch như quy định trước đây).
- Ngoài ra, Khoản 1 Điều 4 Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể một phần nội dung của Khoản 4 Điều 61 Luật THADS đã sđbs, vì khoản này cũng có quy định liên quan đến án phí: “Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí…”. Để đảm bảo thống nhất với việc xét miễn, giảm án phí như ở khoản 2, khoản 3 Điều 61 Luật THADS đã sđbs, việc “thi hành được một phần án phí” cũng được hướng dẫn là “ít nhất bằng một phần năm mươi ... khoản án phí phải thi hành theo bản án, quyết định của Tòa án”.
Có một vấn đề đặt ra là, đối với những khoản án phí không có giá ngạch (chỉ 200 nghìn đồng) thì việc quy định 1/50 khoản này là quá nhỏ (= 4 nghìn đồng), chưa thực sự hợp lý. Tuy nhiên, đối với các trường hợp được xét miễn theo khoản 4 Điều 61, người phải thi hành án đã “tích cực thi hành một phần án phí, tiền phạt”. Do đó, dù ít dù nhiều, người phải thi hành án đều phải tích cực thi hành được một phần nghĩa vụ (nhấn mạnh ý thức tích cực) mới đủ điều kiện để xét miễn. Bên cạnh đó, không ít trường hợp khoản án phí có giá trị rất lớn, việc quy định nghĩa vụ “thi hành được một phần” đối với án phí là phù hợp, đảm bảo tương ứng với nghĩa vụ thi hành tiền phạt (sẽ phân tích ở phần sau).
b) Trường hợp đã được xét giảm nhưng lại phạm tội mới
Để đảm bảo thống nhất với quy định của Bộ luật Hình sự, Khoản 1 Điều 4 Thông tư hướng dẫn cụ thể: “Trường hợp người đã được giảm một phần hình phạt tiền mà lại phạm tội mới thì chỉ xét giảm tiếp khi đã thi hành được một phần hình phạt tiền chung theo quy định của Bộ luật Hình sự về giảm mức hình phạt tiền đã tuyên.
Theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999 đang được áp dụng, người phải thi hành án phải thi hành được 2/3 mức hình phạt chung thì mới được xét giảm tiếp[5].  Ví dụ: A có nghĩa vụ thi hành khoản thu, nộp ngân sách nhà nước là 50 triệu, đã được giảm 01 lần với giá trị 05 triệu, còn phải thi hành 45 triệu. Tuy nhiên, A phạm tội mới, phải thi hành khoản thu, nộp ngân sách nhà nước là 15 triệu. Như vậy, tổng hợp hình phạt đối với 02 tội này là 60 triệu. A phải thi hành được 2/3 của 60 triệu (= 40 triệu) mới được xét giảm tiếp.
Tại thời điểm xây dựng TTLT số 12, do dự thảo Bộ luật Hình sự đang ở gia đoạn sủa đổi bổ sung, trong đó có sửa đổi, bổ sung nội dung này, nên để đảm bảo tính dự báo và không bị lạc hậu khi Bộ luật này được thông qua, Thông tư chỉ hướng dẫn trên tinh thần dẫn chiếu chung sang BLHS. Cụ thể, Bộ luật Hình sự (sửa đổi) bổ sung quy định về điều kiện xét giảm khi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý (phải thi hành được ½ mức hình phạt chung); còn đối với tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thì vẫn giữ nguyên tắc như Bộ luật Hình sự 1999 (thi hành được 2/3 mức hình phạt chung)[6].
c) Về miễn, giảm theo quy định tại khoản 4 Điều 61 của Luật
Khoản 2 Điều 4 Thông tư hướng dẫn cụ thể khoản 4 Điều 61 Luật THADS đã sđbs, là trường hợp xét miễn nghĩa vụ thi hành án trong điều kiện đặc biệt. Cụ thể:
“2. Việc miễn phần án phí, tiền phạt còn lại quy định tại Khoản 4 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự được thực hiện khi người phải thi hành án có đủ các điều kiện sau:
a) Đã tích cực thi hành được một phần án phí quy định tại Khoản 1 Điều này; thi hành được một phần tiền phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự về miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại;
b) Lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài hoặc lập công lớn ...”
Cũng vì lý do Bộ luật Hình sự đang sửa đổi, quy định này cũng được thiết kế theo hướng dẫn chiếu Bộ luật Hình sự. Theo Bộ luật Hình sự 1999 thì việc miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại được quy định tại Khoản 2 Điều 58 và Khoản 3 Điều 76;[7] theo dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) thì được quy định tại Khoản 5 Điều 62 và Khoản 3 Điều 105.[8]
Ngoài ra, điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể về “Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài”  và “Người phải thi hành án lập công lớn”:
- Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài là người bị giảm sút hoặc mất thu nhập, mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản do tai nạn, ốm đau, thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác dẫn đến không đảm bảo hoặc chỉ đảm bảo được cuộc sống tối thiểu cho bản thân người đó và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng từ mười hai tháng trở lên, kể từ thời điểm xảy ra sự kiện đó đến thời điểm xét miễn, giảm thi hành án.”
- “Người phải thi hành án lập công lớn là người đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác; có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.”
2.2.3.2. Về xác minh điều kiện để xét miễn, giảm
a) Trong các trường hợp thông thường
Công tác xét miễn, giảm THA là nhiệm vụ của cơ quan THADS nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án, đồng thời thực hiện nhiệm vụ giảm án tồn đọng. Do đó, việc xác minh điều kiện thi hành án nói chung và điều kiện để xét miễn, giảm THA nói riêng là trách nhiệm, nhiệm vụ của cơ quan THADS, cụ thể là Chấp hành viên. Điều 5 Thông tư quy định:
1. Việc xác minh điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Thủ trưởng cơ quan thi hành án đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với người phải thi hành án quy định tại Điều 44a Luật Thi hành án dân sự; đủ điều kiện về thời hạn, mức tiền quy định tại Điều 61 Luật Thi hành án dân sự và điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch này hoặc đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch này;
Đây là trường hợp xác minh thông thường. Chấp hành viên xác minh điều kiện để xét miễn, giảm khi có đủ các căn cứ như sau:
- Đã có quyết định chưa có điều kiện thi hành án (theo quy định tại Điều 44a Luật THADS đã sđbs, Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP);
- Thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Hết thời hạn và nghĩa vụ thi hành còn lại theo quy định tại Điều 61 Luật THADS đã sđbs (Ví dụ:  05 năm, với số tiền dưới 05 triệu; 10 năm, với số tiền từ 5 đến dưới 10 triệu); đã thi hành được một phần nghĩa vụ thi hành án (theo Khoản 1 Điều 4 Thông tư).
+ Đã thi hành được một phần hình phạt tiền chung theo quy định của Bộ luật Hình sự về giảm mức hình phạt tiền đã tuyên.
+ Lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài hoặc lập công lớn; đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt.
Ngoài ra, bên cạnh việc Chấp hành viên chủ động thực hiện xác minh điều kiện thi hành án để xét miễn, giảm, còn có 02 trường hợp có thể làm phát sinh căn cứ để Chấp hành viên xác minh, cụ thể:
(i) Cơ quan THADS nhận được đơn đề nghị xét miễn, giảm THA của người phải thi hành án: Mặc dù không nhiều, nhưng cũng có trường hợp người phải thi hành án xét thấy họ có đủ điều kiện để đề nghị xét miễn, giảm (VD: lập công lớn khi Chấp hành viên chưa hết kỳ xác minh[9]). Họ có thể chủ động có đơn đề nghị xét miễn, giảm. Chấp hành viên khi nhận được đơn phải tiến hành xem xét hồ sơ thi hành án để thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 5 Thông tư.
(ii) Cơ quan THADS nhận được yêu cầu lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm THA của Viện kiểm sát: Để đảm bảo tính chính xác, minh bạch của việc xét miễn, giảm; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, kiểm sát việc xét miễn, giảm là cần thiết. Quá trình kiểm sát, nếu phát hiện có căn cứ xác định rõ người phải thi hành án có đủ điều kiện để được xét miễn, giảm THA, nhưng cơ quan THADS không lập hồ sơ thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan THADS lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm. Chấp hành viên phải tiến hành xác minh để thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát, hoặc để thông báo về việc không đủ điều kiện xét miễn, giảm (theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Thông tư).
b) Đối với người đang chấp hành hình phạt tù
Việc xác minh thực hiện theo Điều 44 Luật THADS đã sđbs và theo phân tích như mục a vừa nêu.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 5 Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể việc xác minh tại nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù.
2.2.3.3. Về đề nghị xét miễn, giảm
Việc đề nghị xét miễn, giảm được thực hiện khi kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án đủ điều kiện để xét miễn, giảm. Chấp hành viên có trách nhiệm lập hồ sơ để đề nghị xét miễn, giảm theo quy định tại Điều 6 Thông tư, gửi Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát theo quy định tại Điều 7 Thông tư.
Về thẩm quyền đề nghị xét miễn, giảm, cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Đối với các trường hợp phân tích tại mục 2.2.3.1.a (miễn, giảm trong trường hợp chung) và 2.2.3.1.b (miễn, giảm trong trường hợp đã được xét giảm nhưng lại phạm tội mới) nêu trên: việc đề nghị Tòa án xét miễn, giảm thuộc thẩm quyền của cơ quan THADS. Do đó, Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan THADS đã lập hồ sơ chỉ kiểm sát và có ý kiến nhận xét (bằng văn bản) để chuyển cơ quan THADS đề nghị Tòa xét miễn, giảm.
- Đối với trường hợp phân tích tại mục 2.2.3.1.c (miễn giảm tiền phạt trong trường hợp lâm vào hoàn cảnh khó khăn kéo dài hoặc lập công lớn - khoản 4 Điều 61 Luật THADS đã sđbs) nêu trên: việc đề nghị Tòa án xét miễn, giảm thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét miễn, giảm (là Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi cơ quan THADS đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở). Do đó, có 02 trường hợp cụ thể như sau:
(i) Trường hợp việc thi hành án đang do cơ quan THADS cấp huyện tổ chức thi hành: căn cứ hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm của cơ quan THADS, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền đề nghị Tòa án xét miễn, giảm THA;
(ii) Trường hợp việc thi hành án đang do cơ quan THADS cấp tỉnh, cơ quan Thi hành án cấp quân khu tổ chức thi hành: căn cứ ý kiến nhất trí bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan THADS cấp tỉnh, cơ quan Thi hành án cấp quân khu chuyển hồ sơ để Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền đề nghị Tòa án xét miễn, giảm THA.
2.2.3.4. Về thẩm quyền xét miễn, giảm
Quy định của Thông tư đảm bảo thống nhất với quy định của Luật THADS (Điều 63). Đồng thời, dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) cũng bổ sung 01 điều mới (Điều 484) quy định về thẩm quyền của Tòa án như sau:
“Điều 484. Thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án (mới)
1. Thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án được xác định như sau:
a) Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở, có thẩm quyền xét đề nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;
b) Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền xem xét theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án bị Viện kiểm sát kháng nghị;
c) Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
2. Trình tự, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự”
2.2.3.5. Về thi hành quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm
Điều 11 Thông tư hướng dẫn việc thi hành quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm cụ thể như sau:
- Trường hợp miễn toàn bộ nghĩa vụ: cơ quan THADS ra quyết định đình chỉ thi hành án.
- Trường hợp cho giảm một phần nghĩa vụ: cơ quan THADS tiếp tục thi hành đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước còn lại.
- Trường hợp Tòa án quyết định không miễn, giảm khoản thu, nộp ngân sách nhà nước thì cơ quan THADS có trách nhiệm tiếp tục tổ chức thi hành theo quy định.
Như vậy, quy định về xét miễn, giảm THA tại Luật sđbs Luật THADS và Thông tư liên tịch số 12 đã có những thay đổi so với trước đây; những nội dung đã được sửa đổi, bổ sung suy cho cùng cũng nhằm tiếp tục phát huy những điểm phù hợp, tích cực và loại bỏ những hạn chế, tồn tại trong các quy định của Luật THADS 2008, Nghị định số 58, Nghị định số 125 và Thông tư liên tịch số 10; khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực thi pháp luật về miễn, giảm THADS.
Nội dung sửa đổi đã mở rộng phạm vi xét miễn, giảm đối với những đối tượng phải thi hành giá trị thấp (dưới 5 triệu); bổ sung các trường hợp xét miễn, giảm khi người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn kéo dài hoặc lập công lớn; đảm bảo việc miễn, giảm THA thực sự trở thành cơ chế thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với những người thực sự không có điều kiện thi hành án.

Các quy định mới, nhất là những nội dung về điều kiện xét miễn, giảm; xác minh điều kiện để xét miễn, giảm; lập hồ sơ xét miễn, giảm giúp cho việc xét miễn, giảm THA được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo tính nghiêm minh trong thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; hạn chế tối đa tình trạng lợi dụng chính sách, pháp luật để trốn tránh nghĩa vụ THA. Việc quy định cụ thể, chặt chẽ những vấn đề này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn cho cơ quan THADS, các CHV trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xét miễn, giảm, từ đó giảm tỉ lệ hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm không được Viện kiểm sát nhất trí đề nghị Tòa án xét hoặc không được Tòa án ra quyết định xét miễn, giảm.
Thực hiện tốt nhiệm vụ xét miễn, giảm THA trước tiên nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người phải thi hành án, thực hiện tốt chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, tiếp đó là góp phần giải quyết án tồn đọng, góp phần nâng cao kết quả THADS.
Thông tư liên tịch số 12 ban hành bị chậm so với thời điểm có hiệu lực của Luật sđbs Luật THADS (01/7/2015), dẫn đến việc, một số địa phương triển khai thi hành Luật sđbs Luật THADS gặp những vướng mắc, khó khăn nhất định. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 12 có hiệu lực từ 01/11/2015, do đó, đến nay những vướng mắc trong giai đoạn chuyển tiếp, về cơ bản đã không còn. Cơ quan THADS cũng như Viện kiểm sát và Tòa án các cấp cần tích cực triển khai thi hành Thông tư liên tịch số 12 để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác xét miễn, giảm THA. Quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các đơn vị, cá nhân phản ánh, kiến nghị, trao đổi, xin ý kiến hướng dẫn nghiệp vụ để Tổng cục THADS và các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu, đưa ra các giải pháp tháo gỡ, khắc phục kịp thời./.
 
 
 
 
 
 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1.      Luật Thi hành án dân sự 2008
2.      Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014
3.      Bộ luật Hình sự 1999
4.      Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
5.      Luật Thi hành án hình sự 2010
6.      Nghị định 58/2013/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự
7.      Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự
8.      Thông tư liên tịch số 10 ngày 25/5/2010 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
9.      Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước.
10. Báo cáo số 193/BC-BTP ngày 14/7/2015 tổng kết thi hành Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/10/2010 hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
11. Tờ trình số 2555/TTr-TST ngày 30/7/2015 của Tổ soạn thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước
12. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), nguồn:
http://moj.gov.vn/dtvbpl/Lists/Danh%20sch%20d%20tho/View_Detail.aspx?ItemID=268
13. Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), nguồn:
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=561&LanID=1168&TabIndex=1
14. Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), nguồn:
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=365&LanID=1161&TabIndex=1
 

[1] Trong cả năm 2015: đã đề nghị xét miễn, giảm thi hành án đối với 02 việc, tương ứng với số tiền trên 6 triệu đồng.
[2] Luật THADS - Điều 183. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành: “Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.”
[3] Nghị định số 58/2009/NĐ-CP: Điều 36. Trách nhiệm thi hành và hướng dẫn thi hành
“Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Nghị định, hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Nghị định để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về công tác THADS.”
[4] Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” (Điều 9), trong khi đó, dự thảo TTLT không còn bên liên tịch là Bộ Công an, nên chưa thực sự đảm bảo về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế Thông tư liên tịch số 10.
[5] Điều 58. Giảm mức hình phạt đã tuyên: “4. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Toà án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc hai mươi năm nếu là tù chung thân.”
[6] Dự thảo BLHS (sửa đổi) - Bản trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII (tháng 10/2015), nguồn:
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=526&LanID=1167&TabIndex=1
Điều 63: Giảm mức hình phạt đã tuyên (sửa đổi)
“4. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Toà án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được 1/2 mức hình phạt chung.
5. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Toà án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được 2/3 mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.”
[7] BLHS 1999 - Điều 58. Giảm mức hình phạt đã tuyên
“2. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.”
Điều 76. Giảm mức hình phạt đã tuyên
“3. Người chưa thành niên bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.”
[8] Dự thảo BLHS (sửa đổi) - Bản trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII (tháng 10/2015) – Nguồn: đã dẫn.
Điều 62. Miễn chấp hành hình phạt (sửa đổi)
“5. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết đinh miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.”
Điều 105. Giảm mức hình phạt đã tuyên (sửa đổi)
“3. Người chưa thành niên bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.”
[9] Điều 44 Luật THADS đã sđbs: “Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần.”

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Chức năng, nhiệm vụ

Theo quy định tại Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP