15:42 EST Thứ ba, 13/11/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 42

Máy chủ tìm kiếm : 5

Khách viếng thăm : 37


Hôm nayHôm nay : 7217

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 89679

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9183670

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Chủ nhật - 13/12/2015 20:18
CHUYÊN ĐỀ: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN  CỦA  LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

CHUYÊN ĐỀ: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Ngày 14/11/2008, Quốc hội thông qua Luật thi hành án dân sự (THADS) và Nghị quyết thi hành Luật này, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009. Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân thực hiện và chỉ đạo các cơ quan Tư pháp, Thi hành án dân sự địa phương triển khai nhiều biện pháp thực hiện Luật thi hành án dân sự.

I. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
1. Quá trình xây dựng
1.1. Sự cần thiết ban hành Luật
Ngày 14/11/2008, Quốc hội thông qua Luật thi hành án dân sự (THADS) và Nghị quyết thi hành Luật này, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009. Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân thực hiện và chỉ đạo các cơ quan Tư pháp, Thi hành án dân sự địa phương triển khai nhiều biện pháp thực hiện Luật thi hành án dân sự.
Trên cơ sở các quy định của Luật, việc tổ chức thi hành Luật đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, cụ thể là: nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân về ý nghĩa, vai trò của công tác THADS được nâng lên rõ rệt; hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật cơ bản đã đầy đủ (06 Nghị định của CP, 06 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 20 Thông tư, 15 thông tư liên tịch...); việc kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác THADS theo quy định của Luật đã cơ bản được hoàn thành; vị thế cơ quan thi hành án dân sự được nâng lên và nhận được sự quan tâm hơn của cấp ủy, chính quyền địa phương thông qua việc các cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm trực tiếp báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân cùng cấp; cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các cơ quan THADS đã được cải thiện một bước, việc xây dựng trụ sở, kho vật chứng các cơ quan THADS cũng đã được quan tâm thực hiện, cơ bản hoàn thành ở cấp tỉnh; công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp ngày càng được tăng cường và triển khai ngày càng bài bản, nhờ đó kết quả công tác thi hành án dân sự đã có những chuyển biến tích cực và đạt kết quả khả quan: việc phân loại án ngày càng chính xác, tỷ lệ số việc và tiền có điều kiện thi hành trên tổng số việc và tiền phải thi hành của các năm tăng đáng kể (năm 2010, đạt tỷ lệ 65,7% về việc và 36,46% về tiền; năm 2011, đạt tỷ lệ 68,15% về việc và 37,7% về tiền; năm 2012, đạt tỷ lệ 69,32% về việc và 30,66% về tiền; năm 2013, đạt tỷ lệ 77,81% về việc và 56,1% về tiền); tỷ lệ việc thi hành xong trong số việc có điều kiện thi hành của các năm tăng dần ( Năm 2010, đạt tỷ lệ 86,35% về việc và 80,1% về tiền; năm 2011, đạt tỷ lệ 88% về việc và 76,1% về tiền; năm 2012, đạt tỷ lệ 88,58% về việc và 76,98% về tiền; năm 2013, đạt tỷ lệ 86,53% về việc và 73,17% về tiền); trình tự, thủ tục giải quyết các việc THADS được đơn giản hóa một bước quan trọng, cơ bản bảo đảm tuân thủ chặt chẽ; các mặt công tác khác như thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đã dần đi vào nề nếp, góp phần hỗ trợ tích cực để hoàn thành các chỉ tiêu thi hành án được giao. Triển khai Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội về thi hành Luật THADS, việc thực hiện thí điểm Thừa phát lại tại một số địa phương đã đạt kết quả tích cực, được xã hội đón nhận.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thi hành Luật THADS bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, thậm chí yếu kém, trong đó nổi lên là: kết quả THADS có tăng lên so với trước khi có Luật nhưng chưa thật bền vững (năm 2013 đạt thấp hơn so với năm 2012 và chưa hoàn thành chỉ tiêu theo Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc hội); lượng án tồn đọng tuy có giảm nhưng số việc và tiền chuyển kỳ sau vẫn còn rất lớn và có xu hướng tăng lên (năm 2013 còn tồn 239.144 việc và trên 41.597 đồng, tăng so với năm 2012[1]); việc phân loại án ở một số cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa thật chính xác, vẫn còn tình trạng chuyển từ án có điều kiện sang án không có điều kiện, trong khi Tòa án không nắm được bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên có được chấp hành đầy đủ hay không; việc tổ chức thi hành án trong nhiều vụ việc còn chưa kịp thời, gặp khó khăn, vướng mắc, trong đó có những trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ ràng, thiếu khả thi nhưng việc trả lời của Tòa án đối với yêu cầu của cơ quan thi hành án về giải thích bản án còn chậm, nhiều trường hợp dẫn đến khiếu nại, tố cáo gay gắt, kéo dài; công tác phối hợp trong THADS tuy đã có chuyển biến nhưng vẫn còn bất cập, một số cấp uỷ, chính quyền địa phương có lúc, có nơi chưa thực sự quan tâm, chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện cho công tác THADS...
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là những nguyên nhân xuất phát từ quy định của Luật THADS, cụ thể là:
 Thứ nhất, Luật THADS xác định vai trò, trách nhiệm của Tòa án đối với việc thi hành các bản án, quyết định của mình còn hạn chế, nhất là việc giải quyết những hệ quả, vướng mắc trong trường hợp kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án hay Viện kiểm sát dẫn đến thay đổi nội dung các bản án đã có hiệu lực đang được thi hành hoặc đã thi hành xong; trách nhiệm theo dõi, thống kê việc thi hành các bản án, quyết định cũng chưa được Tòa án quan tâm thực hiện; thẩm quyền kiểm sát, thanh tra đối với công tác thi hành án dân sự chưa rõ ràng. 
Thứ hai, một số quy định về quyền, trách nhiệm của các bên trong thi hành án còn bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là việc Luật quy định người được thi hành án có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án, gây khó khăn cho người được thi hành án, nhất là việc xác minh tại các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó việc quy định trong trường hợp người được thi hành án yêu cầu chấp hành viên tiến hành xác minh thì phải chịu chi phí, gây tốn kém cho người dân.
Thứ ba, một số quy định của Luật THADS về trình tự, thủ tục thi hành án còn bất cập, thiếu thống nhất, chưa đồng bộ với pháp luật có liên quan trong các lĩnh vực đất đai, nhà ở, tài chính, ngân hàng, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính..., nhất là các quy định về kê biên, phong tỏa tài sản thi hành án, đấu giá tài sản thi hành án, xử lý tài sản thi hành án trong trường hợp là tài sản cầm cố, thế chấp; chưa có biện pháp, chế tài cần thiết, đủ sức mạnh để răn đe đối với người phải thi hành án, dẫn tới việc chấp hành pháp luật của người phải thi hành án chưa nghiêm, cố tình chây ỳ, không tự nguyện thi hành án nhằm kéo dài việc thi hành án.
Thứ tư, Luật Thi hành án dân sự đã có quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, tuy nhiên, quy định này còn chưa sát với thực tiễn, nhất là đối với số án tồn trước 1/7/2009, trong đó có những việc mà các cơ quan thi hành án dân sự đã thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục và áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để tổ chức thi hành trong nhiều năm nhưng không có kết quả dẫn đến tốn kém công sức, kinh phí từ ngân sách nhà nước và những khoản thu đối với người đã bị kết án về hành vi phạm tội trước đây, nhưng nay hành vi phạm tội này đã được miễn chấp hành hình phạt theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự. Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ đã xây dựng Đề án về việc miễn thi hành án đối với một số khoản thu cho ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội. Tuy nhiên, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã có ý kiến cần đưa vấn đề này vào nội dung sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự để tạo điều kiện cho việc xét miễn, giảm thi hành án có căn cứ luật định.
Thứ năm, việc xác định trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc phối hợp thực hiện một số nhiệm vụ công tác THADS trên địa bàn trong các quy định của Luật còn chưa cụ thể.
Thứ sáu, một số quy định của Luật THADS nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xã hội hóa công tác thi hành án dân sự theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp chưa cụ thể, rõ ràng. Trong quá trình xây dựng Luật thi hành án dân sự năm 2008, Chính phủ đã trình Quốc hội cho ý kiến về vấn đề này nhưng chưa được đưa vào Luật mà mới chỉ ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 cho thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương. Do đó, việc thực hiện thí điểm thừa phát lại mới chỉ được điều chỉnh bằng Nghị định của Chính phủ và các Thông tư liên tịch giữa các bộ với TANDTC, Viện KSNDTC, thiếu các nguyên tắc ở tầm luật định bảo đảm hiệu lực của việc xã hội hóa hoạt động thi hành án.
Để khắc phục nguyên nhân gây ra những bất cập, hạn chế trên, bảo đảm thực hiện nghiêm quy định của Hiến pháp năm 2013, theo đó, bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành, đồng thời, thực hiện Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW  của Bộ Chính trị liên quan đến quản lý công tác thi hành án theo hướng tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân địa phương trong công tác thi hành án, việc sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự là rất cần thiết.
Thực hiện Nghị quyết số 45/2013/QH13 ngày 18/6/2013 của Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 5 về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, năm 2013 và Chương trình xây dựng luật, pháp luật năm 2014, Nghị quyết số 616/NQ-UBTVQH13 ngày 09/7/2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, năm 2013 và Chương trình xây dựng luật, pháp luật năm 2014, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự được đưa vào chương trình chính thức năm 2014 với tiến độ trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2014) và thông qua tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2014). Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.
1.2. Quá trình xây dựng
Để xây dựng dự án Luật, Bộ Tư pháp đã thành lập Ban soạn thảo với sự tham gia của đại diện Lãnh đạo các Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Tòa  án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, Văn phòng Chính phủ, Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam. Ban soạn thảo đã tiến hành nhiều hoạt động phục vụ việc xây dựng dự án Luật, như:
- Chỉ đạo UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương tiến hành tổng kết thi hành Luật. Trên cơ sở đó, ngày 27/12/2013, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết thi hành Luật thi hành án dân sự với sự tham gia của đại diện các Bộ, ngành, địa phương.
- Tiến hành khảo sát, đánh giá thực tiễn công tác thi hành dân sự tại một số địa phương đại diện cho các vùng miền trên cả nước; .
- Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm với sự tham gia đông đảo của các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà quản lý trong nhiều lĩnh vực và cán bộ trực tiếp làm công tác dân sự ở địa phương để cho ý kiến về dự thảo Luật;
- Rà soát, đánh giá các quy định của Luật THADS với các luật có liên quan và xây dựng Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật (RIA).
Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã tổ chức lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành ở Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan Thi hành án dân sự; đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân; thành lập Hội đồng thẩm định dự án Luật và ngày 17/02/2014, Hội đồng thẩm định tiến hành thẩm định dự án Luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; chỉnh lý dự án Luật trên cơ sở tiếp thu ý kiến Hội đồng thẩm định, ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, hoàn thiện trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến. Ngày 20/3/2014, Chính phủ đã họp cho ý kiến, nhất trí trình Ủy ban thường vụ Quốc hội dự án Luật.
Sau khi Quốc hội cho ý kiến, ngày 25/11/2014, tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2015.
2. Quan điểm chỉ đạo
2.1. Mục đích
Việc sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự nhằm hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, tiếp tục tạo chuyển biến cơ bản, bền vững, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, góp phần bảo đảm thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013, theo đó bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
2.2. Quan điểm
- Tiếp tục thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có nội dung liên quan đến quản lý công tác thi hành án theo hướng tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân địa phương trong công tác thi hành án.
- Bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013 về việc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong đó Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, thi hành án là cơ quan thuộc hệ thống hành pháp tham gia thực hiện quyền tư pháp; có tính đến những nội dung sửa đổi, bổ sung lớn trong luật, bộ luật khác đang được sửa đổi, bổ sung như Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
- Chỉ sửa đổi, bổ sung những vấn đề đã được Bộ Chính trị kết luận, những vấn đề thực sự cần thiết, cấp bách, đã được nghiên cứu rõ về lý luận, được thực tiễn kiểm nghiệm phù hợp và luật hóa một số quy định đã được quy định trong các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật thi hành án dân sự.
II. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự ra đời, tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, tạo cơ sở pháp lý cho sự chuyển biến cơ bản, bền vững, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án dân sự, góp phần bảo đảm thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013, theo đó bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Do đó, việc nghiên cứu kỹ nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự để triển khai thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tiễn có ý nghĩa quan trọng trong công tác thi hành án dân sự.
 1. Những điều khoản được sửa đổi, bổ sung
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi 55/183 điều so với Luật thi hành án dân sự hiện hành, trong đó sửa đổi 47điều (cácĐiều1,2,3,7,12,14,15,16,18,28,29,31,35,36,38,44,45,47,48,50,52,54,61,63, 67, 68, 69, 72, 73, 74, 75, 99, 102, 103, 104, 106, 114, 116, 137, 146, 161, 63,167, 168, 170,173 và Điều 174); bãi bỏ 06 điều (Điều 32, 33, 34, 51, 138 và 139) và bãi bỏ một phần của 02 điều (điểm b khoản 1 Điều 163, các khoản 3 và 4 Điều 179) của Luật thi hành án dân sự hiện hành, không kể một số từ ngữ được sửa đổi chung.
Luật cũng đã bổ sung 03 điều (Điều 7a, 7b và Điều 44a).
2. Những nội dung được sửa đổi, bổ sung
2.1 Về cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên (Điều 14,15,16, 18)
- Về cơ quan Thi hành án dân sự: ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn quy định trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân tại Điều 14, 15 và 16 của Luật. Tuy nhiên, việc báo cáo đối với Tòa án chỉ được thực hiện khi có yêu cầu. Quy định này nhằm đề cao trách nhiệm của Tòa án xuyên suốt trước, trong và sau khi xét xử, tạo điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc giải thích, đính chính, trả lời kiến nghị đối với bản án của mình trong quá trình tổ chức thi hành án; theo dõi kết quả thi hành án; từ đó, tăng thêm niềm tin của xã hội vào hoạt động thi hành án dân sự; góp phần làm giảm thiểu khiếu nại đối với việc thi hành án dân sự liên quan đến bản án.
- Về Chấp hành viên: Điều 18 Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định về điều kiện bổ nhiệm Chấp hành viên, chức danh được bổ nhiệm thông qua cơ chế thi tuyển. Luật đã làm rõ tại khoản 5 Điều 18 về việc bổ nhiệm Chấp hành viên trong quân đội cũng phải thông qua việc thi tuyển theo quy trình chung.
Mặt khác, để tạo được sự an tâm công tác, tạo động lực phấn đấu, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ thi hành án, đồng thời tiếp tục sử dụng những người đã có thực tiễn làm Chấp hành viên nhiều năm nhưng do yêu cầu công tác đang làm nhiệm vụ khác; cũng như thu hút những người có kinh nghiệm làm công tác pháp luật ở ngoài đơn vị, ngoài ngành, từ đó, nâng cao chất lượng cán bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ, hoàn thành nhiệm vụ, chỉ tiêu thi hành án được Quốc hội giao, tại khoản 6 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định những người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên được điều động đến công tác tại cơ quan thi hành án dân sự thì có thể được bổ nhiệm làm Chấp hành viên ở ngạch tương đương không qua thi tuyển, nay Luật đã bổ sung người đã từng là Chấp hành viên nhưng được bố trí làm nhiệm vụ khác nay được điều động trở lại và có đủ điều kiện quy định chung cũng được thực hiện theo quy định này.
Nhằm đáp ứng yêu cầu về công tác cán bộ, trong trường hợp đặc biệt, cấp bách phải bổ nhiệm ngay Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, kế thừa và cụ thể hóa quy định hiện hành, Luật đã làm rõ trường hợp đặc biệt do nhu cầu bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự,theo đó, ngoài những người có 10 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp; có 15 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên cao cấp thì người có đủ tiêu chuẩn chung đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên thì có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp. Luật cũng khẳng định rõ những người trên được bổ nhiệm không qua thi tuyển.
Bên cạnh đó, tính đến đặc thù miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Luật cũng quy định người có đủ điều kiện chung quy định tại khoản 1 và (đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 3 năm trở lên) điểm a khoản 2 hoặc (có thời gian làm Chấp hành viên sơ cấp từ 5 năm trở lên) điểm a khoản 3 Điều 18  của Luật thi hành án dân sự 2008, có cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp hoặc Chấp hành viên trung cấp không qua thi tuyển. Thời hạn thực hiện việc bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển theo quy định tại khoản này là 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Luật cũng giao Chính phủ quy định danh sách các cơ quan thi hành án dân sự thuộc địa bàn được tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển.
2.2 Về quyền, nghĩa vụ của đương sự trong thi hành án dân sự (Điều 7, 7a, 7b, 36, 45)
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không có điều luật nào quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, mà quyền và nghĩa vụ của họ được quy định rải rác ở các điều luật. Để tạo cơ sở pháp lý tốt hơn bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013, Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự. Theo đó, từ quy định về quyền yêu cầu thi hành án tại Điều 7 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung đã có quy định tương đối cụ thể tại các Điều 7, 7a và 7b về quyền và nghĩa vụ của đương sự (người được thi hành án và người phải thi hành án), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hoạt động thi hành án dân sự. Cụ thể như sau:
  2.2.1. Về quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án
 Điều 7 của Luật thi hành án dân sự 2008 quy định về quyền yêu cầu thi hành án, đã được sửa đổi thành điều luật quy định về quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, với những quyền, nghĩa vụ cơ bản nhất, được thiết kế với sự phân định rõ ràng giữa quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, bên cạnh những quyền, nghĩa vụ cụ thể khác được quy định tại các điều luật liên quan xuyên suốt quá trình tổ chức thi hành án dân sự nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự thực hiện.
Luật đã mở rộng, tạo điều kiện cho người được thi hành án không chỉ có quyền yêu cầu thi hành án, đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà còn có quyền được thông báo về thi hành án; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của mình. Quy định này, cùng với quy định về quyền được ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; quyền chuyển giao quyền được thi hành án cho người khác và các quyền khác đã tạo điều kiện thiết thực cho đương sự có thêm cơ hội lựa chọn phương thức phù hợp để thi hành án, phù hợp với chủ trương xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự.
Một quyền rất mới mà Luật bổ sung cho đương sự, đó là quyền được yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ. Quy định này phù hợp với quy định hiện hành về thay đổi người tiến hành tố tụng trong các thủ tục tố tụng, đảm bảo sự khách quan trong tổ chức thi hành án dân sự.
Đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi một cách căn bản quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án liên quan đến việc xác minh điều kiện thi hành án. Theo Điều 44 Luật thi hành án dân sự 2008 thì người được thi hành án có nghĩa vụ tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; nếu muốn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiến hành xác minh thì phải chứng minh là đã tiến hành xác minh không có kết quả và phải chịu chi phí xác minh. Quy định trên trong thực tiễn thực hiện cho thấy chưa phù hợp ở giai đoạn hiện tại của điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước. Như vậy, để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người được thi hành án trong việc thực hiện quyền yêu cầu thi hành án đã được pháp luật công nhận, trên cơ sở khôi phục quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 và Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004, Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định chuyển hóa thành quyền của người được thi hành án trong việc cho phép họ được tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp cho cơ quan thi hành án thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; họ không phải chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án do Chấp hành viên thực hiện.
Để khuyến khích người được thi hành án thi hành án tích cực, chủ động trong việc cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án nhà nước sẽ miễn, giảm phí thi hành án. Khi người được thi hành án cung cấp thông tin điều kiện về tài sản của người phải thi hành án mà cơ quan thi hành án có thể thể tiến hành xử lý tài sản đó để đảm bảo việc thi hành án cho người được thi hành án thì họ sẽ được miễn, giảm phí thi hành án tương ứng với số tiền hoặc tài sản thu được từ thông tin mà họ cung cấp cho cơ quan thi hành án.
Mặt khác, tình trạng người phải thi hành án luôn tìm mọi cách để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án, như: không nhận tài sản là của mình, đồng ý tài sản là của người khác, không khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung. Do đó, Luật đã quy định bổ sung quyền của người được thi hành án trong việc yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp của đương sự về tài sản liên quan đến thi hành án cũng như quyền yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót. Đây là quyền quan trọng để tạo cơ hội cho người được thi hành án bảo vệ kịp thời và đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp mà bản án, quyết định đã ghi nhận.
Người được thi hành án có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định; thực hiện các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú; chịu phí, chi phí thi hành án theo quy định.
2.2.2. Về quyền và nghĩa vụ của người phải thi hành án
Tương tự như nội hàm của Điều 7, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung mới Điều 7a về quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành án. Bên cạnh các quyền của người phải thi hành án (cũng là các quyền chung với người được thi hành án), về quyền tự nguyện thi hành án, Luật đã sửa đổi theo hướng rút ngắn thời hạn tự nguyện thi hành án từ 15 ngày theo quy định tại Điều 45 Luật thi hành án dân sự năm 2008 xuống còn 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Quy định này nhằm hạn chế việc kéo dài thời hạn thi hành án, đồng thời phù hợp với thời hạn Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án quy định tại Điều 44 Luật thi hành án dân sự; đã bổ sung điểm quan trọng là quy định người phải thi hành án có nghĩa vụ kê khai trung thực tài sản, điều kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai đó. Đây là quy định mới, vừa khuyến khích sự tự nguyện thi hành án, nâng cao ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, ràng buộc trách nhiệm của người phải thi hành án đối với nghĩa vụ thi hành án, vừa giảm tải trách nhiệm của Chấp hành viên, chi phí của nhà nước, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người được thi hành án.
Mặt khác, đã bổ sung quy định rõ hơn về việc người phải thi hành án có nghĩa vụ thực hiện các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú.
2.2.3. Về quyền và nghĩa vụ của người có quyền, nghĩa vụ liên quan
Với việc bổ sung Điều 7b mới, Luật đã làm rõ các quyền của người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án giữa các bên đương sự, giúp cho họ kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự.
Luật sửa đổi, bổ sung cũng khẳng định người có quyền, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thi hành án dân sự.
2.3 Về việc chủ động ra quyết định thi hành án hoặc theo yêu cầu (Điều 28, 31, 32, 33, 34,35, 36)
Về thẩm quyền ra quyết định thi hành án, cùng với các điều khoản khác trong Luật thi hành án dân sự năm 2008, để phù hợp với hệ thống tổ chức cơ quan Tòa án trong giai đoạn mới, cụm từ “Tòa án cấp huyện” được thay bằng cụm từ “Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương”; Luật đã bổ sung thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao; thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh thi hành các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; thẩm quyền của cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành quyết định dân sự của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu. Luật cũng bổ sung  “phán quyết của Trọng tài thương mại” bên cạnh các quyết định của Tọng tài thương mại cũng được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự.
Về việc thi hành án theo yêu cầu của đương sự, Luật đã gộp các nội dung của 03 điều (Điều 32,33,34) của Luật thi hành án dân sự năm 2008 thành 01 điều (Điều 31), đồng thời bãi bỏ 03 điều trên, để thiết kết điều luật một cách khoa học, chặt chẽ, đỡ dàn trải.
Luật đã thay đổi quy định “đơn yêu cầu thi hành án” bằng thuật ngữ có nghĩa chung hơn là “yêu cầu thi hành án” để thể hiện việc yêu cầu thi hành án không chỉ bằng đơn mà còn bằng hình thức khác và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế không bắt buộc chỉ bằng hình thức đơn yêu cầu thi hành án. Đặc biệt, điểm mới là không bắt buộc yêu cầu thi hành án phải có thông tin về điều kiện thi hành án; khi người yêu cầu trực tiếp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản các nội dung cụ thể; biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu; khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu thay cho việc cấp giấy xác nhận đã nhận đơn như trước đây.
Luật cũng đã đưa các quy định tại điều này về ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu chuyển lên trước quy định về chủ động ra quyết định thi hành án nhằm đáp ứng hơn yêu cầu và thể hiện rõ sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013.
Về chủ động ra quyết định thi hành án, Luật cũng đã bổ sung một số loại việc vào diện chủ động thi hành án để bảo đảm lợi ích Nhà nước, gồm khoản thu lệ phí Tòa án; các khoản thu khác cho Nhà nước (ngoài khoản tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản như Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định); quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Quy định này nhằm hạn chế việc một số vụ án mà bị cáo phải nộp trả nhà nước tiền thuế hoặc trong một số vụ án kinh tế, tham nhũng tài sản của nhà nước mà các cơ quan hoặc tổ chức quản lý tài sản của nhà nước không làm đơn yêu cầu thi hành án dẫn đến mặc dù bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng tài sản nhà nước không được thu hồi . Việc chậm hoặc không làm đơn yêu cầu thi hành án nên cơ quan THADS không có căn cứ ra quyết định thi hành án dẫn đến việc người phải thi hành án tẩu tán tài sản. Do đó, để tránh việc thất thoát tài sản nhà nước đối với các khoản tiền của nhà nước đã giao cho các cơ quan, tổ chức quản lý hoặc làm đại diện thì khi có bản án, quyết định của Tòa án thì Luật đã quy định cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án mà không phụ thuộc vào đơn yêu cầu thi hành án.
Luật cũng quy định rõ hơn thời hạn ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành đối với một số trường hợp cụ thể (khoản 15 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung), trong đó, các khoản chủ động thi hành án (lệ phí Tòa án, các tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước) vẫn chung thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định nhưng đối với quyết định của Tòa án giải quyết phá sản thì phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Về việc gửi quyết định về thi hành án, khắc phục việc trước đây tại Điều 38 Luật không quy định thời hạn, nay Luật sửa đổi, bổ sung quy định rõ trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.
Luật cũng quy định rõ “mỗi quyết định thi hành án là một việc thi hành án.”
2.4 Về xác minh điều kiện thi hành án và xác định việc chưa có điều kiện thi hành (Điều 44, 44a)
2.4.1.Về xác minh điều kiện thi hành án
Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi, bổ sung Điều 44 quy định về xác minh điều kiện thi hành án, theo đó: đã bỏ nghĩa vụ của người được thi hành án trong việc phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, chuyển hóa thành quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án; bỏ nghĩa vụ phải nộp chi phí xác minh. Như vậy, việc xác minh điều kiện thi hành án theo Luật sửa đổi, bổ sung là thuộc về trách nhiệm của Chấp hành viên, chi phí xác minh do Ngân sách Nhà nước chịu.
 Luật sửa đổi, bổ sung đã xác định rất rõ thời hạn Chấp hành viên phải tiến hành xác minh: cụ thể là trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.
Để hỗ trợ cho Chấp hành viên trong việc xác định điều kiện thi hành án, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định mới, yêu cầu “Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình”. Đây là quy định mới nhằm ràng buộc trách nhiệm của người phải thi hành án đối với hoạt động thi hành án và có khả năng giảm bớt việc tẩu tán tài sản trong thi hành án.
 Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự bỏ cơ chế trả đơn yêu cầu thi hành án thay vào đó, trong trường hợp khi kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án không có tài sản điều kiện để đảm bảo việc thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án. Để đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án theo quyết định của Tòa án và tránh tình trạng Chấp hành viên chưa làm hết trách nhiệm của mình khi tiến hành xác minh thì trong trường hợp cơ quan thi hành án đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án nhưng người được thi hành án cung cấp thông tin điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh lại nội dung mà đương sự đã cung cấp để có căn cứ tổ chức thi hành án.
Nhằm kiểm nghiệm chất lượng xác minh, giải quyết xung đột giữa các kết quả xác minh, Luật cũng đưa ra cơ chế trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát.
Để khắc phục tình trạng lỏng lẻo của công tác xác minh hiện nay, đảm bảo hiệu quả công tác phối hợp trong thi hành án dân sự, Luật đã bổ sung quy định yêu cầu Chấp hành viên khi trực tiếp xác minh điều kiện thi hành án thì phải xuất trình thẻ Chấp hành viên hoặc giấy tờ chứng minh là người có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án; lập biên bản thể hiện đầy đủ kết quả xác minh có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh thay cho phải có đủ cả 03 chữ ký như trước đây.v.v.
Luật cũng khẳng định rõ vai trò của các công chức Tư pháp - Hộ tịch, địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường, cán bộ,cán bộ công chức cấp xã khác nói riêng và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác nói chung trong việc thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin cho Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp; quy định rõ thời hạn phải thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên, cụ thể: Bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; ký vào biên bản trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên, đối với thông tin về tài khoản thì phải cung cấp ngay; Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. Trường hợp người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.
Luật sửa đổi, bổ sung cũng duy trì quyền của người được thi hành án tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự. Cùng với đó là quyền rất mới của người được thi hành án trong việc được miễn, giảm phí thi hành án.
Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định cách thức xác minh sau khi đã xác định người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án. Theo đó, ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần. Sau 02 lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
2.4.2. Về việc xác định việc chưa có điều kiện thi hành án
Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung Điều 44a quy định về việc xác định việc chưa có điều kiện thi hành án: đây là quy định hoàn toàn mới so với pháp luật hiện hành. Luật quy định trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự căn cứ vào kết quả xác minh điều kiện thi hành án phải ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi thuộc một trong 03 trường hợp:
 (1) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
(2) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;

Điều 1.      (3) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.

Từ việc xác định việc chưa có điều kiện thi hành như trên, Luật sửa đổi, bổ sung quy định thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành. Quy định mới này nhằm nhắc nhở người phải thi hành án cân nhắc, lựa chọn biện pháp tự nguyện thi hành án, hạn chế các trường hợp không chấp hành án, góp phần giảm tải chi phí, thời gian, trách nhiệm của Chấp hành viên và người được thi hành án trong tiến trình tổ chức thi hành án; nâng cao ý thức, trách nhiệm của người phải thi hành án đối với việc chấp hành pháp luật để tiếp tục giữ uy tín; từ đó, đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự, phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc công khai thông tin về tình hình hoạt động, về khả năng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án sẽ giúp cho các giao dịch mới thận trọng hơn, đảm bảo hơn, tránh lặp lại quy trình tranh chấp, khiếu kiện, thi hành án.
2.5 Về hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, kết thúc thi hành án và chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án  (Điều 48,50,51,52 và Điều 54) 
Về hoãn thi hành án, Luật đã sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 48, theo đó: đã giảm bớt 01 trường hợp hoãn thi hành án, đó là trường hợp người phải thi hành các khoản nộp ngân sách không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản đó không đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loại không được kê biên, do đã đưa vào trường hợp xác định việc chưa có điều kiện thi hành án. Luật cũng đã bổ sung 05 trường hợp hoãn thi hành án. Cụ thể là bổ sung trường hợp:
 (1) Người phải thi hành án bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;
(2) Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật thi hành án dân sự hoặc khi tài sản được kê biên theo Điều 90 của Luật thi hành án dân sự nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm;
(3) Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận;
(4) Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật thi hành án dân sự chưa thực hiện được vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng;
(5) Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 104 của Luật thi hành án dân sự.
Đồng thời, nhằm tránh sự lợi dụng hoãn thi hành án do “hoàn thành” chỉ tiêu thi hành án trong thực tiễn, Luật sửa đổi, bổ sung làm rõ hơn trường hợp hoãn theo thỏa thuận của các bên. Theo đó, việc thi hành án dân sự sẽ hoãn khi đương sự đồng ý hoãn thi hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác.
Về đình chỉ thi hành án, Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi một số căn cứ đình chỉ thi hành án tại khoản 1 Điều 50: trước hết là làm rõ quy định về đình chỉ thi hành án theo ý chí của đương sự, bằng quy định mới “đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Việc sửa đổi này nhắm khắc phục tình trạng người phải thi hành án lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người được thi hành án đã đạt được thỏa thuận không tiếp tục việc thi hành án, dẫn đến việc cơ quan thi hành án dân sự phải đình chỉ thi hành án theo quy định, nhưng sau đó, người phải thi hành án đã không giữ đúng cam kết khi thỏa thuận với người được thi hành án, người được thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục thi hành án nhưng việc thi hành án đã bị đình chỉ. Do đó, nhằm giúp người được thi hành án cân nhắc kỹ lưỡng hơn, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã được bản án, quyết định ghi nhận. Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi căn cứ đình chỉ thi hành án khi bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 50 của Luật thi hành án dân sự 2008. Theo đó, bổ sung quy định không đình chỉ thi hành án trong trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận . Quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung là căn cứ vào Bộ luật Dân sự về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình mua được tài sản bán đấu giá, Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26 tháng 07 năm 2010 của  Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự; sau đó, đã được quy định tại Nghị định số 125/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định trường hợp bản án, quyết định bị kháng nghị đã được tổ chức thi hành một phần thông qua bán đấu giá nay bị huỷ, sửa thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm hoàn tất thủ tục và tiến hành giao tài sản cho người trúng đấu giá, trừ trường hợp thủ tục bán đấu giá vi phạm quy định của pháp luật. Quy định trên là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình, phù hợp với thực tiễn, tránh việc khiếu nại, tố cáo và bảo vệ Chấp hành viên.
Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi điểm e khoản 1 Điều 50 theo hướng bỏ quy định đình chỉ thi hành án trong trường hợp có quyết định của Tòa án “giảm một phần nghĩa vụ thi hành án”. Vì vậy, theo khoản này thì chỉ đình chỉ thi hành án khi “có quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án”.
Luật đồng thời bổ sung căn cứ đình chỉ thi hành án trong trường hợp “người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã chết hoặc đã thành niên”. Đây là vấn đề phát sinh trong thực tiễn, nhưng do Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định nên cơ quan thi hành án dân sự không có căn cứ pháp lý để giải quyết. Quy định này là phù hợp vì đối tượng thi hành án không còn tồn tại và nghĩa vụ này không thay thế được nên cần đình chỉ thi hành án.
Về kết thúc thi hành án, xác định khi cơ quan thi hành án đã tiếp nhận yêu cầu thi hành án của đương sự thì phải có trách nhiệm đến cùng với quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, do đó Luật đã bỏ cơ chế trả đơn yêu cầu thi hành án quy định tại Điều 51 Luật thi hành án dân sự 2008. Những nội dung liên quan của điều luật đã được đưa vào các điều luật phù hợp hơn như Điều 44ª về ra quyết định việc chưa có điều kiện thi hành án hoặc Điều 48 về hoãn thi hành án. Do đã trả đơn yêu cầu thi hành án theo Luật thi hành án dân sự 2008, Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại, thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Do Luật sửa đổi, bổ sung đã bỏ cơ chế trả đơn yêu cầu thi hành án quy định tại Điều 51 (bỏ Điều 51), vì vậy cũng bỏ trường hợp đương nhiên kết thúc thi hành án khi đã có quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án.
Do đó, việc thi hành án đương nhiên kết thúc chỉ còn trong 02 trường hợp, gồm:
(1) Đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình và
(2) Đã có quyết định đình chỉ thi hành án.
Riêng đối với việc tạm đình chỉ, đình chỉ và khôi phục thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản, Luật đã sửa đổi khoản 2 Điều 137, đồng thời bỏ Điều 138, 139 cho phù hợp với Luật phá sản năm 2014. Theo quy định tại khoản 2 Điều 137, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành án về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án lâm vào tình trạng phá sản ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án về việc mở thủ tục phá sản. Việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ về tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án trong trường hợp này thực hiện theo quy định của Luật phá sản. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chỉ đạo Chấp hành viên bàn giao cho Tòa án các tài liệu thi hành án có liên quan đến việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản.
Về chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án, Luật đã sửa đổi, bổ sung điểm d và điểm e khoản 1 Điều 54, theo đó: Luật đã sửa đổi theo hướng rõ hơn việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của Luật doanh nghiệp đối với trường hợp cổ phần hóa, giải thế, giải thể do bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Theo đó, “ Trường hợp giải thể thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết trước khi ra quyết định. Trường hợp quyền, nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị giải thể được chuyển giao cho tổ chức khác thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án. Trường hợp doanh nghiệp giải thể do bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp thì nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao theo quy định của Luật doanh nghiệp. Cơ quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải thể theo quy định của pháp luật. Trường hợp tài sản để thi hành án không còn do thực hiện quyết định giải thể trái pháp luật thì cơ quan ra quyết định giải thể phải chịu trách nhiệm thi hành phần nghĩa vụ của tổ chức bị giải thể tương ứng với tài sản đó” và “Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, công ty cổ phần tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án”.
2.6  Về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 61)
Theo quy định tại Điều 61 Luật Thi hành án dân sự thì để được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án điều kiện đầu tiên là người phải thi hành án không có tài sản để thi hành. Tuy nhiên Luật Thi hành án dân sự năm 2008 chưa có hướng dẫn cụ thể về những trường hợp được coi là không có tài sản để thi hành án.
Để khắc phục các bất cập trên, Luật sửa đổi, bổ sung đã làm rõ hơn thế nào là không có điều kiện thi hành án; quy định rõ hơn về căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Đồng thời, bổ sung vào khoản 4 điều kiện xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại mà Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã bỏ sót. Cụ thể:
Trước hết, Luật đã sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định điều kiện chung mà người phải thi hành án có thể được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:  (1) điều kiện về tài sản, phải là “Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình họ; (2) Điều kiện về thời gian: phải là “Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng.
Tiếp theo, quy định cụ thể về việc miễn thi hành án, Luật quy định người phải thi hành án có thể được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây:
(i) Đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước;
(ii) Điều kiện về tài sản, như đã nêu ở điểm (1) trên đây, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
(iii) Điều kiện về thời gian, đó làHết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng”.
Để phù hợp với chính sách hình sự, đối với những người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì Luật quy định họ có thể được miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại.
Đối với người phải thi hành án là người bị kết án thuộc trường hợp quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 của Quốc hội (Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự trước đây quy định là tội phạm nhưng Bộ luật hình sự này không quy định là tội phạm; nếu vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trong trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt) và điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/QH12 của Quốc hội (Đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000 và đã có bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật hình sự này có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2000, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c Mục này) thì được miễn nghĩa vụ thi hành án phí trong bản án hình sự mà người đó phải chấp hành.
Về giảm thi hành án, Luật sửa đổi, bổ sung quy định người phải thi hành án có thể được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện, cụ thể là:
(i) Đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước;
(ii) Điều kiện về tài sản được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này như đã nêu ở điểm (1) trên đây.
(iii) Điều kiện về thời gian, đó là “ Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án” hoặc đã “Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng/lần”.
Việc xét miễn, giảm nói trên phải tránh việc lợi dụng, chính vì thế Luật quy định người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định. Quyết định thi hành án lần đầu là căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
2.7 Về biện pháp bảo đảm thi hành án (Điều 67,68,69)
Theo quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên có thể áp dụng linh hoạt các biện pháp bảo đảm thi hành án nếu xét thấy cần thiết để ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại, trốn tránh việc thi hành án. Trên thực tế, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn, khả năng đánh giá, nhận định tình huống của Chấp hành viên. Chấp hành viên cần cân nhắc kỹ càng trước khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án để vừa đảm bảo mục đích ngăn chặn, phòng ngừa đồng thời vừa không gây thiệt hại không đáng có cho người bị áp dụng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thấy các quy định tại Luật Thi hành án dân sự còn quy định chưa đầy đủ về các quyền, nghĩa vụ của đương sự, thủ tục áp dụng biện pháp bảo đảm đã gây khó khăn cho cơ quan Thi hành án trong quá trình thực hiện nhất là việc quy định về thời hạn xử lý sau khi áp dụng biện pháp bảo đảm.
Khắc phục tình trạng trên, Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi, bổ sung 06 điều liên quan đến biện pháp bảo đảm thi hành án, cụ thể là các điều liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự  trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án (điểm a khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 7b, khoản 3 Điều 31) và các điều về thủ tục áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án (Điều 67, Điều 68, Điều 69).
Thứ nhất, về biện pháp phong tỏa tài khoản
Luật Thi hành án dân sự quy định phong toả tài khoản là một biện pháp bảo đảm thi hành án. Chấp hành viên áp dụng phong tỏa tài khoản đối với người phải thi hành án có tiền, tài sản gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phát sinh có nhiều trường hợp người phải thi hành án có tài sản không phải là tiền (như: kim khí quý, đá quý v.v...) đang gửi tại ngân hàng, các tổ chức tín dụng, người thứ ba khác… nhưng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không quy định Chấp hành viên được áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏa đối với tài sản này. Mặt khác, đây cũng là biện pháp cần thiết mà Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định bên cạnh quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời “phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước”. Do đó, Luật đã bổ sung biện pháp bảo đảm thi hành án“phong toả tài sản ở nơi gửi giữ” vào Điều 67, cách thức thực hiện tương tự biện pháp phong tỏa tài khoản, nhằm tạo điều kiện tốt hơn để bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án.
Từ đó, tại khoản 2 Điều 67 có 03 nội dung sửa đổi, bổ sung, bao gồm:

Điều 2.     (1) Bổ sung quy định “Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa”. Quy định này có mục đích giới hạn số tiền, tài sản bị phong tỏa nhằm tránh tình trạng tùy tiện phong toả toàn bộ tài khoản, tài sản làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, giao dịch bình thường của chủ tài khoản, tài sản. Quy định này luật hóa khoản 1 Điều 11 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ.

Điều 3.     (2) Bổ sung đối tượng “cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án” được nhận và phải thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án của Chấp hành viên. Theo đó, Chấp hành viên phải giao quyết định phong toả cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án.

Điều 4.     (3) Bổ sung quy định về thủ tục phải lập biên bản và thực hiện lập biên bản trước khi ra quyết định áp dụng phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ:  “Trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản của người phải thi hành án ở nơi gửi giữ mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện ngay yêu cầu của Chấp hành viên về phong toả tài khoản, tài sản. Biên bản, quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản trong trường hợp này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.”

Tại Khoản 3 Điều 67 đã sửa đổi theo hướng nâng thời hạn Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định của Luật thi hành án dân sự 2008 từ 05 ngày làm việc lên thành 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ. Việc nâng thời hạn này cũng phù hợp với thời hạn tự nguyện thi hành án được sửa đổi từ 15 ngày xuống còn 10 ngày, kể từ ngày đương sự nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, đồng thời phù hợp với thực tiễn, tránh tình trạng phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án khi chưa hết thời gian 10 ngày tự nguyện thi hành án.
Thứ hai, về biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng. Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự không chỉ là người phải thi hành án mà cả người được thi hành án nếu họ đang quản lý, sử dụng những tài sản, giấy tờ phục vụ cho quá trình thi hành án. Các tài sản, giấy tờ bị tạm giữ là các tài sản, giấy tờ có liên quan đến việc thi hành án như: giấy đăng ký xe mô tô, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… hoặc các tài sản có thể xử lý được để thi hành án.
Đến nay, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 gồm 03 khoản thành 05 khoản. Về nội dung, có 06 vấn đề được sửa đổi, bổ sung như sau:
(1) Sửa đổi, bổ sung làm rõ hơn thẩm quyền của Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng. Như vậy, không chỉ giới hạn ở đương sự mà còn mở rộng đến tổ chức, cá nhân khác. Đồng thời, đã quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và bổ sung trách nhiệm của cá nhân trong việc thực hiện quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ; theo đó cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên  trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ.
 (2) Bổ sung rõ hơn việc áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ phải bằng hình thức quyết định, mặt khác bổ sung quy định quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng không rõ ràng của Luật Thi hành án dân sự 2008 vì không quy định Chấp hành viên phải ban hành quyết định mà chỉ yêu cầu lập biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ. Việc khẳng định hình thức áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án bằng quyết định tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ này.
(3) Bổ sung cách thức thực hiện tạm giữ tài sản, giấy tờ trong trường hợp chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ. Theo đó, Trường hợp cần tạm giữ ngay tài sản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Chấp hành viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
(4) Sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định rõ hơn cách thức thực hiện việc lập biên bản tạm giữ, tài sản, giấy tờ; thay từ “đương sự” bằng từ “người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ” nhằm mở rộng đối tượng áp dụng phù hợp với thực tiễn thi hành án. Theo đó, khi tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ; trường hợp người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ không ký thì phải có chữ ký của người làm chứng. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được giao cho người quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ.
(5) Bổ sung quy định: Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng và thông báo cho đương sự, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định người có quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ”. Quy định này nhằm hỗ trợ, ràng buộc Chấp hành viên quyết định đúng đắn hơn, tránh xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và người thứ ba.
(6) Thay đổi quy định về xử lý quyết định tạm giữ theo hướng thay đổi thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc chấm dứt việc tạm giữ, xuống thành 10 ngày, nhưng tính kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án”.  Việc sửa đổi này nhằm khắc phục tồn tại của Điều 68 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, quy định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tạm giữ tài sản, giấy tờ, Chấp hành viên phải ra một trong hai quyết định (quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nếu xác định được tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc sở hữu của người phải thi hành án hoặc ra quyết định trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ trong trường hợp đương sự chứng minh tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án). Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp cơ quan thi hành án dân sự không đáp ứng được thời hạn trên do khi tạm giữ tài sản thì chỉ mới có một số căn cứ nhất định để xác định tài sản là của người phải thi hành án, nhưng chưa đầy đủ căn cứ để xác định tài sản đúng là của người phải thi hành án nên Chấp hành viên, người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cần có thời gian để làm rõ quyền sở hữu, sử dụng tài sản, tránh tình trạng thi hành án sai đối tượng, khiếu kiện kéo dài.
Thứ ba, về biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản là một trong ba biện pháp bảo đảm thi hành án. Chấp hành viên khi tổ chức thi hành án xét thấy cần ngăn chặn hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, huỷ hoại, thay đổi hiện trạng tài sản có thể ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án thì có quyền ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án.
Đến nay, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án dân sự với 03 vấn đề sau đây:
(1) Bổ sung căn cứ để áp dụng biện pháp bảo đảm này, đó là khi “phát hiện đương sự có hành vi trốn tránh việc thi hành án” và bổ sung nội dung ngăn chặn mà Chấp hành viên có thể ra quyết định theo hướng không chỉ đối với tài sản riêng của người phải thi hành án mà cả tài sản chung của người phải thi hành án với người khác.
(2) Sửa đổi, bổ sung rõ hơn thời hạn cơ quan thi hành án phải gửi quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, theo đó, phải gửi ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.
(3) Bổ sung quy định Chấp hành viên có trách nhiệm yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản. Mặt khác, để hạn chế sai phạm đáng tiếc xảy ra, xử lý những trường hợp Chấp hành viên không xác định được quyền sở hữu, sử dụng tài sản trên cơ sở các tài liệu có được, Luật sửa đổi, bổ sung quy định “trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản theo quy định của pháp luật”. Khi có căn cứ xác định tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Chương IV của Luật này; trường hợp có căn cứ xác định tài sản không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải ra quyết định chấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.
 Việc sửa đổi, bổ sung này nhằm khắc phục tồn tại của Điều 69 Luật Thi hành án dân sự 2008 (quy định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, Chấp hành viên phải thực hiện việc kê biên tài sản hoặc chấm dứt việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản). Tuy nhiên, phần lớn trường hợp đây là tài sản có giá trị lớn, được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc mua bán, chuyển nhượng và hoàn tất thủ tục phải trải qua rất nhiều công đoạn, liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau nên cần khá nhiều thời gian để xác minh, thậm chí phải thống nhất giữa các ngành để đánh giá về tính pháp lý của việc chuyển nhượng. Do đó, quy định thời hạn 15 ngày như Luật Thi hành án dân sự năm 2008, kể từ ngày Chấp hành viên ra quyết định là quá ngắn, không khả thi, không đủ thời gian để Chấp hành viên phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan xác minh, thống nhất xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, dẫn đến tình trạng thường xuyên vi phạm thời hạn. Mặt khác, với thời gian đó, nếu không đủ để xác định rõ ràng quyền sở hữu, sử dụng tài sản là thuộc về người phải thi hành án thì không thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án; nếu coi tài sản đã thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người thứ ba phải trả lại tài sản cho họ, thì có thể dẫn đến khiếu nại, tố cáo của người được thi hành án. Trong khi đó, Điều 69 Luật THADS năm 2008 lại không quy định Chấp hành viên, các đương sự hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm gì, bằng cách thức nào, trong thời hạn bao lâu… làm rõ quyền sở hữu, sử dụng tài sản, làm căn cứ cho việc xử lý tài sản. Chính vì áp lực phải lựa chọn giữa việc phải tuân thủ thời hạn ban hành quyết định mà Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định, với việc phải xác định đúng tài sản của người phải thi hành án để tổ chức thi hành án buộc Chấp hành viên phải lựa chọn việc vi phạm thời hạn.
2.8 Về cưỡng chế thi hành án (Điểm a khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 7b, khoản 1 Điều 45, Điều 72)
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp bắt buộc theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản.
Với các quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về cưỡng chế, trong quá trình thực hiện đã bộc lộ những vấn đề pháp luật chưa điều chỉnh, những bất cập cần sửa đổi. Chính vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung 16 điều liên quan đến cưỡng chế thi hành án dân sự (Điểm a khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 7b, khoản Điều 45, khoản 2 Điều 47, Điều 72, Điều 74, Điều 75, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 99, Điều 102, Điều 103, Điều 104, các khoản 3, 4, 5 và 6 Điều 106, điểm c khoản 1 Điều 114, Điều 116, khoản 2 Điều 173, khoản 2 Điều 174), cụ thể là:
 (1) Bổ sung quy định quyền của người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự. Theo đó, điểm a khoản 1 Điều 7 bổ sung quy định người được thi hành án có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án; điểm a khoản 1 Điều 7b bổ sung quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền được thông báo, tham gia vào việc thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành án mà mình có liên quan.
(2) Sửa đổi cho phép áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án sớm hơn và nâng cao hơn trách nhiệm của Chấp hành viên trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Với việc sửa đổi khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự theo hướng giảm thời hạn tự nguyện thi hành án từ 15 ngày xuống còn là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, thời hạn để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án do đó cũng được tính sớm hơn 05 ngày so với Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Mặt khác, với việc sửa đổi khoản 2 Điều 45 theo hướng “trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này” thay cho quy định “trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này” nhằm rõ hơn điều kiện và trách nhiệm của Chấp hành viên trong việc kịp thời áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
(3) Sửa đổi, bổ sung về kế hoạch cưỡng chế thi hành án theo hướng Chấp hành viên chỉ phải lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án trong trường hợp cần huy động lực lượng chứ không phải trong bất kỳ mọi trường hợp như trước đây; đồng thời, để rõ ràng hơn, Luật bổ sung kế hoạch cưỡng chế thi hành án phải ghi rõ tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế. Bên cạnh đó, bổ sung quy định rõ thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, thì cơ quan Công an phải có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế. Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng thiếu sự phối hợp, phối hợp không hiệu quả trong cưỡng chế thi hành án thời gian qua, nhiều trường hợp việc thi hành án bị chậm trễ, đương sự bức xúc, khiếu nại tố cáo kéo dài.
(4) Sửa đổi bổ sung về chi phí cưỡng chế thi hành án (điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 73), để phù hợp với việc chuyển đổi trách nhiệm xác minh từ người được thi hành án sang cho Chấp hành viên, Luật đã sửa đổi, bổ sung theo hướng người được thi hành án không phải chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án như trước đây, mà sẽ do ngân sách nhà nước chi trả.
2.9 Về việc xử lý tài sản chung và tài sản có tranh chấp (Điều 74, 75)
Về việc xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác để thi hành án, Luật sửa đổi, bổ sung đã đổi tên điều luật từ “Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung” thành “Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án” và đưa ra hướng xử lý và trách nhiệm rõ ràng, theo đó:
Luật sửa đổi, bổ sung quy định rõ hơn trách nhiệm của Chấp hành viên trong trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì trước hết phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản đó biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận, thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật thi hành án dân sự hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người được thi hành án về quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì tiếp đến là trách nhiệm của Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Toà án. Quy định này nhằm hạn chế phần nào vai trò quá lớn của chấp hành viên trong việc xử lý tài sản của công dân, đề cao hơn nữa vai trò tự quyết của các bên đương sự và vai trò của Tòa án nhân dân.
Luật sửa đổi, bổ sung cũng bổ sung và quy định rõ hơn về quyền của chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung. Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn ba tháng đối với bất động sản, một tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật thi hành án dân sự. Quy định này là bổ sung mới so với Luật thi hành án dân sự 2008 và là quy định luật hóa các quy định hiện hành tại Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự (nhưng khác với Nghị định 125/NĐ-CP của Chính phủ vì Nghị định 125/NĐ-CP chỉ ưu tiên một lần và lần đầu) nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người thứ ba, phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, thúc đẩy tiến trình tổ chức thi hành án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.
 Về giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản thi hành án,  Điều 75 Luật sửa đổi, bổ sung hiện hành đã được sửa đổi, trước hết là tên của điều luật, từ “Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp” thành “Giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án” nhằm tuyên bố rõ ràng hơn phương thức cần thiết để làm rõ việc tranh chấp đối với tài sản thi hành án.
Liên quan đến tranh chấp, Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định rõ về quyền khởi kiện và trách nhiệm của Chấp hành viên phải thông báo về quyền này của người tranh chấp: “Trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án” theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
Để hạn chế đương sự tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, thực tế, Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quy định cơ chế cho cơ quan thi hành án xử lý tài sản đã bị người phải thi hành án cố tình tẩu tán trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy định trên cũng bộc lộ một số mâu thuẫn về thời điểm công nhận quyền sở hữu, sử dụng, đó là: theo quy định tại Điều 692 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai”. Luật Đất đai năm 2013, Điều 95 quy định: “Việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”; khoản 3 Điều 188 Luật này quy định: “ Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính” đã gây khó khăn rất lớn khi cơ quan thi hành án xử lý tài sản liên quan đến người mua thứ ba ngay tình.  Khi thực hiện quy định này trong thực tế, cơ quan thi hành án đều hướng dẫn người thứ ba khởi kiện nhưng đa số họ đều không thực hiện việc khởi kiện với lý do giữa người mua tài sản và người bán không có tranh chấp; trường hợp người được thi hành án khởi kiện thì Tòa án không thụ lý vì đương sự không cung cấp được các tài liệu chứng minh để có căn cứ cho Tòa thụ lý như mục đích chuyển nhượng là nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung đã xác định và giao trách nhiệm trước hết cho người được thi hành án để tích cực, sát sao hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình, sau đó mới đến trách nhiệm của Chấp hành viên bằng quy định “trong  trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó”.
 Ngoài ra, để thuận lợi cho việc thi hành án, Luật cũng bổ sung quy định Chấp hành viên không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án khi yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung, tuyên bố giao dịch vô hiệu hủy các giấy tờ liên quan đến giao dịch liên quan đến tài sản để thi hành án.
2.10 Về định giá lại, giảm giá, bán đấu giá tài sản và xử lý các vấn đề liên quan (điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 99, Điều 102, Điều 103, Điều 104, các khoản 3, 4, 5 và 6 Điều 106, điểm c khoản 1 Điều 114, Điều 116, khoản 2 Điều 173, khoản 2 Điều 174)
Về định giá lại tài sản kê biên, Luật đã sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 và bổ sung khoản 3 vào Điều 99 theo hướng việc định giá lại chỉ được thực hiện như sau: về số lần, đương sự chỉ được quyền yêu cầu định giá lại một lần; về thời điểm, đương sự chỉ có quyền yêu cầu định giá lại nếu đương sự có đơn yêu cầu định giá lại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Quy định này là biện pháp nhằm hạn chế tình trạng cố tình lợi dụng quyền yêu cầu định giá lại tràn lan, cơ quan thi hành án phải tổ chức định giá lại tài sản nhiều lần làm kéo dài thời gian thi hành án, tốn kém chi phí của nhà nước và của các đương sự; góp phần hạn chế tình trạng bức xúc khiếu nại tố cáo của người được thi hành án trong thời gian qua; đồng thời đảm bảo tốt hơn quyền lợi của các bên và hoạt động thi hành án dân sự. Luật cũng xác định rõ giá thẩm định lại là giá khởi điểm để bán đấu giá tài sản để thi hành án theo quy định.
Về xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành (Điều 104), Luật đã sửa lại tên điều, từ “Xử lý tài sản bán đấu giá không thành”, thành “Xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành”, nhằm xác định đúng những tình huống không có người tham gia đấu giá, trả giá có trong thực tiễn của việc tổ chức bán đấu giá.
Luật quy định rõ hơn về hướng xử lý trong trường hợp này, như quy định thời hạn và cách thức thực hiện quyền khi không có người tham gia đấu giá, trả giá, bán đấu giá tài sản thi hành án không thành, nhằm tránh tình trạng khiếu nại tố cáo của đương sự do không được thực hiện đầy đủ quyền của mình. Theo đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản.Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thoả thuận hoặc thoả thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án. Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án. Trong trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Khi được giao lại tài sản, người phải thi hành án không được đưa tài sản này tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi  thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án. Riêng đối với tài sản bán đấu giá để thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước thì được xử lý theo cơ chế nhanh chóng hơn, đó là trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đưa ra bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên quyết định giảm giá để tiếp tục bán đấu giá tài sản, mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó.
Như vậy, quy định này đã luật hóa quy định hiện hành tại Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự, hạn chế được tình trạng yêu cầu định giá lại tràn lan, giảm giá tùy tiện, tổ chức bán tài sản nhiều lần làm kéo dài thời gian thi hành án, tốn kém chi phí của nhà nước và của các đương sự; tôn trọng sự tự định đoạt, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của các bên đương sự nói chung và của người được thi hành án nói riêng; góp phần hạn chế tình trạng bức xúc khiếu nại, tố cáo của các bên liên quan.
Về hủy kết quả bán đấu giá tài sản (Điều 102), để phù hợp với việc hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản, Luật đã bổ sung vào khoản 1 và xác định việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định chung của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này. Mặt khác, bên cạnh việc giữ nguyên quyền của Chấp hành viên, Luật đã thay đổi quyền của đương sự trong việc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, hạn chế tình trạng lợi dụng để kéo dài việc thi hành án bằng quy định mới chỉ dành quyền này cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản.
Về bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án, Luật đã thay đổi tên Điều 103 từ “Giao tài sản bán đấu giá” thành “Bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án” để khẳng định rõ ràng hơn nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản của người trúng đấu giá tài sản, người nhận tài sản để thi hành án. Theo đó, Luật quy định trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá nếu đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá thì mặc dù bản án, quyết định đã thi hành bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự vẫn tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác. Luật cũng quy định rõ nếu người phải thi hành án không tự nguyện giao tài sản thì sẽ bị cưỡng chế và việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án thực hiện theo quy định chung (được quy định tại các điều 114, 115,  116 và 117 của Luật thi hành án dân sự).
Quy định này là việc luật hóa quy định tại Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự, phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình, khuyến khích việc mua tài sản bán đấu giá để thi hành án, thúc đẩy tiến trình tổ chức thi hành án, tạo cơ sở pháp lý và hành lang an toàn cho hoạt động của Chấp hành viên. 
Về đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản thông qua mua trúng đấu giá hoặc nhận tài sản để thi hành án, để phù hợp với căn cứ cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự, Luật đã quy định rõ hơn hồ sơ đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có quyết định kê biên tài sản, nếu có; văn bản bán đấu giá thành hoặc quyết định giao tài sản, biên bản giao nhận tài sản để thi hành án. Nhằm tránh xung đột với pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan, Luật đã bổ sung quy định về trường hợp tài sản là quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có hoặc không thu hồi được giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Chính phủ. Luật cũng quy định cụ thể hơn đối với trường hợp giấy tờ liên quan không thu hồi được thì được cấp mới để thay thế cho giấy tờ cũ và xác định giấy tờ không thu hồi sẽ không còn giá trị.
2.11 Về thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án cho người được thi hành án (Điều 47) 
Về vấn đề này đã có 03 nội dung được sửa đổi, bổ sung, cụ thể là:
(1) Bổ sung khoản lệ phí Tòa án là một khoản được thanh toán và được thanh toán cùng hàng với án phí Tòa án (điểm b khoản 1 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự);
(2) Sửa đổi làm rõ hơn quy định về thứ tự thanh toán tiền thi hành án trong trường hợp bán tài sản cầm cố, thế chấp (khoản 3 Điều 47). Theo đó, khi bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp; trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được cũng áp dụng nguyên tắc tương tự như trên: ưu tiên thanh toán cho bên có nghĩa vụ được bảo đảm.
Tuy nhiên, trước khi ưu tiên thanh toán theo nguyên tắc trên, Luật bổ sung khoản án phí của bản án, quyết định đã tuyên về việc xử lý tài sản đó, chi phí cưỡng chế và khoản tiền tạo lập nơi ở mới cho người phải thi hành án quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật Thi hành án dân sự được thanh toán trước.  Mặt khác, Luật cũng bổ sung quy định về xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án (do Chấp hành viên áp dụng quyền kê biên tài sản đang cầm cố thế chấp quy định tại Điều 90 của Luật thi hành án dân sự 2008) thì người nhận cầm cố, thế chấp lại được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản án phí, chi phí cưỡng chế và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này.
(3) Luật bổ sung hướng xử lý trong trường hợp đương sự không đến nhận thì tiền, tài sản đó được xử lý theo quy định chung về trả lại tiền, tài sản quy định tại Điều 126 của Luật thi hành án dân sự 2008
2.12 Về thi hành nghĩa vụ trả vật, trả giấy tờ (Điều 114,116)
Để phù hợp với việc Luật bỏ cơ chế trả đơn yêu cầu thi hành án, tại điểm c khoản 1 Điều 114 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng bỏ quy định trả đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp cưỡng chế đối với vật đặc định. Theo đó, nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thoả thuận khác về việc thi hành án thì Chấp hành viên thi hành theo thoả thuận. Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì có thể khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.
Để đảm bảo thi hành nghĩa vụ giao giấy tờ, Luật đã bổ sung quy định về cưỡng chế giao giấy tờ tương tự với cơ chế cưỡng chế trả giấy tờ mà Điều 116 Luật thi hành án dân sự 2008 đã quy định. Theo đó, trường hợp người phải thi hành án không giao, trả giấy tờ cho người được thi hành án theo nội dung bản án, quyết định thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người phải thi hành án giao, trả giấy tờ đó. Đồng thời, để thuận lợi cho việc bổ sung quy định về trường hợp giấy tờ không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho chủ sở hữu, sử dụng bao gồm cả người được thi hành án nhận tài sản để thi hành án và người mua trúng đấu giá tài sản. Theo đó, trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có hoặc không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Chính phủ. Đối với tài sản không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này mà không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản.
Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được thì Luật cho phép Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định xác định việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành theo quy định tại Điều 44a của Luật thi hành án dân sự.
2.13 Về thời hạn giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự (Điều 146)
Trên thực tế, với thời hạn giải quyết khiếu nại như quy định như Luật Thi hành án dân sự năm 2008 là quá ngắn không đủ để người có thẩm quyền giải quyết và để phù hợp với quy định của Luật khiếu nại năm 2011 về vấn đề này. Do vậy, Luật đã bổ sung khoản 5 vào Điều 146 về kéo dài thời hạn giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự, trong 02 trường hợp, theo đó:
 Thứ nhất, tính đến yếu tố địa lý khi trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn.; thứ hai, tính đến nội dung khiếu nại khi vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
2.14. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng trong thi hành án dân sự (Điều 167,168)
Nhằm tách bạch rõ ràng tính chất của hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp, chịu sự kiểm sát hoạt động tư pháp của hệ thống cơ quan kiểm sát, tại điểm e khoản 1 Điều 167 quy định về nhiệm vụ của Bộ Tư pháp trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự đã không quy định việc thanh tra về công tác thi hành án dân sự nói chung như Luật thi hành án dân sự 2008 quy định. Luật đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng Bộ Tư pháp thực hiện thanh tra việc sử dụng ngân sách, việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống tổ chức thi hành án dân sự. Do vậy, Bộ Tư pháp không thực hiện nhiệm vụ thanh tra nghiệp vụ thi hành án dân sự như trước đây vì thuộc nhiệm vụ kiểm sát thi hành án dân sự do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện.
Tương tự như vậy, tại điểm c khoản 2 Điều 168 được sửa đổi, bổ sung theo hướng Bộ Quốc phòng chỉ tiến hành thanh tra việc sử dụng ngân sách, việc thực hiện chế độ chính sách và bố trí, sử dụng cán bộ thi hành án trong quân đội.
Trên đây là những điểm mới cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự. Để cụ thể hóa một số nội dung mới được sửa đổi, bổ sung, Luật giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều, khoản được giao trong Luật này.
2.15. Về vai trò của UBND trong hoạt động THADS (06 điều khoản)
Công tác thi hành án dân sự, có thể nói không thể thiếu vai trò của Ủy ban nhân dân các cấp. Công tác thi hành án dân sự gắn liền với người dân, gắn với địa bàn cụ thể nơi đóng trụ sở của cơ quan thi hành án, nơi diễn ra hoạt động thi hành án, từ việc thông báo thi hành án, tống đạt trực tiếp hay niêm yết công khai, việc xác minh điều kiện thi hành án đến việc tổ chức cưỡng chế thi hành án, giải quyết khiếu nại tố cáo về thi hành án…
Nhận thức rõ điều đó, tại Luật thi hành án dân sự, ngoài các điều cụ thể quy định về sự tham gia của Ủy ban nhân dân các cấp vào các công đoạn của quy trình trình tự thủ tục thi hành án dân sự trên địa bàn, thì Luật cũng đã dành hẳn 03 điều (Điều 173,174 và 175) để quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân trong thi hành án dân sự.
a) Vai trò của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong thi hành án dân sự.
Là cơ quan trung ương đóng tại địa phương, cơ quan thi hành án dân sự chịu sự quản lý song trùng trực thuộc, theo nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp quản lý theo lãnh thổ.  Mặt khác, cơ quan thi hành án dân sự, với nhiệm vụ được giao có vai trò góp phần vào việc thực thi pháp luật, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.Với vai trò là cơ quan hành chính cao nhất ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý toàn diện, mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương trên phạm vi toàn tỉnh và cấp huyện trên phạm vi địa bàn. Giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có các cơ quan chuyên môn trực thuộc. Mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng, theo pháp luật, quy định của nhà nước và quy định của ngành để giải quyết công việc, trong đó có nhiều công việc liên quan, phục vụ cho việc thực hiện các hoạt động cụ thể trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Vì vậy, kết quả hoạt động, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan cũng góp phần giúp cho cơ quan thi hành án hoàn thành nhiệm vụ, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện vai trò chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174.  Trong thực tiễn công tác thi hành án dân sự, có thể nói rằng hầu hết các cơ quan, đơn vị đều phối hợp tốt, giúp cho cơ quan thi hành án dân sự hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng cũng vẫn còn những trường hợp chậm trễ trong phối hợp, phối hợp thực hiện không đúng, dẫn đến việc thi hành các vụ việc cụ thể bị kéo dài. Đơn cử như việc xây dựng kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, việc cử công chức tham gia việc thi hành án, việc tổ chức họp bàn thống nhất quan điểm, việc cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án, việc hoàn tất các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng và các vấn đề liên quan khác…
Khi cần có sự phối hợp của các cơ quan hữu quan cũng như khi cần có sự chỉ đạo để phân công, phân nhiệm, để phối hợp hiệu quả hơn trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự, thì cơ quan thi hành án dân sự cần chủ động, kịp thời đề xuất, báo cáo Ủy ban để kịp thời chỉ đạo các cơ quan hữu quan trên địa bàn.
Điểm mới của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự đã bổ sung bên cạnh trách nhiệm chỉ đạo sự phối hợp của các cơ quan hữu quan trên địa bàn mà còn là trách nhiệm giải quyết những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong công tác THADS. Có thể nói đây là một điểm mới vô cùng quan trọng đối với cơ quan thi hành án dân sự trong công tác thi hành án nói chung và việc cưỡng chế thi hành án nói riêng.
Việc chỉ đạo của Ủy ban rất đa dạng, có thể là việc tổ chức các cuộc họp với các ban ngành, thông báo kết luận cuộc họp, thông báo ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo liên quan đến việc thi hành án...Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân, các cơ quan hữu quan và cơ quan thi hành án thực hiện việc phối hợp chặt chẽ trong công tác THADS.
Thứ hai là việc chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện..
Cưỡng chế thi hành án là hoạt động phức tạp, khó khăn nhất của cơ quan thi hành án dân sự và cũng là hoạt động cần huy động nhiều lực lượng tham gia nhất như cơ quan công an, chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn khác… Nếu hoạt động thi hành án, đặc biệt là cưỡng chế thi hành án không được sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ của cơ quan hữu quan, chính quyền địa phương thì cơ quan thi hành án dân sự gặp khó khăn trong việc tổ chức cưỡng chế hoặc tổ chức cưỡng chế khó thành công, hiệu quả, an toàn.
Thực tiễn thi hành Luật thi hành án dân sự cho thấy, hầu hết các cơ quan thi hành án dân sự địa phương đều kịp thời báo cáo để xin ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự đối với loại việc có giá trị lớn, phức tạp, có đơn thư khiếu nại tố cáo... Trên cơ sở báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự, Ủy ban có trách nhiệm chỉ đạo việc thực hiện để đảm bảo việc thi hành án được đúng pháp luật, không làm ảnh hưởng đến an ninh trên địa bàn.
Thứ ba, có ý kiến bằng văn bản về việc đồng ý, không đồng ý bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp.
Đây là sự phối hợp giữa trung ương và địa phương trong công tác tổ chức cán bộ để đảm bảo lựa chọn lãnh đạo cơ quan thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Thứ tư, yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tự kiểm tra và đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp trên kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
Kiểm tra luôn là công cụ hữu hiệu để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, kịp thời phát hiện những ưu điểm, kết quả đạt được để nhân rộng cũng như những tồn tại, khuyết điểm để kịp thời sửa chữa. Kết quả kiểm tra cũng giúp cho việc đánh giá, sử dụng cán bộ được chính xác. Với việc cơ quan thi hành án dân sự được tổ chức theo hệ thống dọc, nên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bên cạnh việc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh tự kiểm tra công tác thi hành án ở địa phương, tiến hành kiểm tra đối với các cơ quan thi hành án dân sự trực thuộc, còn thực hiện quyền và trách nhiệm đề nghị cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương. Tương tự, Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện tự kiểm tra và có thể đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
Thứ năm, yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
Định kỳ hoặc đột xuất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện việc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp báo cáo về công tác thi hành án, đồng thời thực hiện việc cho ý kiến đối với báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp trước khi trình Hội đồng nhân dân theo quy định.
Thứ sáu, quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự.
Là cơ quan trung ương, cơ quan thi hành án dân sự được xét thi đua, khen thường theo hệ thống dọc. Bên cạnh đó, với sự đóng góp của các công chức làm công tác thi hành án vào thành quả kinh tế, chính trị trên địa bàn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện xem xét quyết định việc khen thưởng hoặc đề xuất cấp trên khen thưởng cho các tập thể và cá nhân làm công tác thi hành án. Thực tế công tác này đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện quan tâm đầy đủ, góp phần động viên, khích lệ đội ngũ công chức làm công tác thi hành án.
Thứ bảy, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự đã bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong việc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật. Việc bổ sung này cũng phù hợp với vai trò của Ủy ban tại địa phương, không chỉ khen thưởng mà còn phải có thái độ nghiêm khắc, xử lý kiên quyết những trường hợp vi phạm.
b) Vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã
Khác với quy định về vai trò của Ủy ban nhân cấp huyện và cấp tỉnh là vai trò chỉ đạo thì, Luật thi hành án dân sự quy định vai trò của Ủy ban cấp xã là vai trò phối hợp.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự trong các hoạt động sau:
 (1) thông báo thi hành án,
(2) xác minh điều kiện thi hành án,
(3) áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án
(4) áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
(5) các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn.
Như vậy, các nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thi hành án xuyên suốt cả quá trình thi hành án. Có thể nói, Ủy ban nhân dân cấp xã xuất hiện từ đầu hoạt động thi hành án cho đến khi kết thúc. Vì vậy, việc hỗ trợ của Ủy ban nhân dân cấp xã trong hoạt động thi hành án dân sự là thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thi hành án. Ủy ban tham gia phối hợp bằng nhiều cách, như cử công chức tham gia cùng với Chấp hành việc trong hoạt động thông báo, xác minh, cưỡng chế; cung cấp thông tin; xác nhận vào các biên bản làm việc; giáo dục công dân trên địa bàn nhận thức và chấp hành các yêu cầu hợp pháp của cơ quan thi hành án dân sự...
2.16. Về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thi hành án được quy định tại khoản 5 Điều 3, các Điều 23,24,25 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và hiện nay quy định tại điểm c khoản 2 Điều 4, Điều 28 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Luật Thi hành án dân sự cũng thể hiện nội dung này tại khoản 2 Điều 12 Luật thi hành án dân sự năm 2008. Kế thừa các quy định này, Luật sửa đổi, bổ sung đã giữ nguyên khoản 1 và sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 12 theo hướng mở rộng các đối tượng kiểm sát, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của Viện kiểm sát nhân dân  khi kiểm sát thi hành án, cụ thể:
- Mở rộng đối tượng kiểm sát: nếu như trước đây, Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, thì nay Viện kiểm sát nhân dân còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong một số hoạt động như việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định, việc sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định (Điều 12 Luật sửa đổi, bổ sung).
Lý do của việc bổ sung các nội dung trên là do trong thời gian qua việc chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án cho cơ quan thi hành án dân sự còn chậm, chưa đúng với thời gian quy định tại Điều 28 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, có những thời điểm Tòa án chuyển giao quá nhiều bản án, quyết định dẫn đến tình trạng cùng một lúc cơ quan thi hành án dân sự phải thi hành nhiều vụ việc. Vì vậy, không tránh khỏi tình trạng cơ quan thi hành án vi phạm một số thời hạn nhất định như thời hạn thông báo, thời hạn xác minh điều kiện thi hành án … Với điểm mới, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kiểm sát hoạt động chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án sẽ hạn chế được tình trạng “dồn án” hoặc “quên” chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành và sẽ khắc phục được phần nào tình trạng quá tải và một số vi phạm của cơ quan thi hành án dân sự.
- Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện hoạt động kiểm sát như: quyền yêu cầu Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự cung cấp, cấp dưới ra quyết định về thi hành án, gửi các quyết định về thi hành án; thi hành đúng bản án, quyết định; yêu cầu cơ quan thi hành án, Chấp hành viên tự kiểm tra việc thi hành án và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân; trực tiếp kiểm sát và ban hành kết luận kiểm sát khi kết thúc việc kiểm sát; tham gia các phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án và phát biểu quan điểm tại các phiên họp đó…
Việc bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân  khi kiểm sát thi hành án nhằm kịp thời ngăn chặn, hạn chế những sai sót của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, đồng thời cũng tăng trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân với hoạt động thi hành án dân sự. Thực tế thời gian qua một số cơ quan thi hành án địa phương đã để xảy ra nhiều vi phạm; đồng thời, một số Chấp hành viên, công chức đã bị xem xét trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, với quy định của pháp luật hiện hành thì Viện kiểm sát nhân dân chưa phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm mặc dù vụ việc có liên quan đã được Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoặc thông qua các cuộc kiểm sát trực tiếp, kiểm sát theo định kỳ (tháng, quý, năm), kiểm sát theo chuyên đề theo quy định. Từ đó cho thấy đối với một số nơi, một số vụ việc cụ thể, Viện kiểm sát nhân dân đã làm chưa hết trách nhiệm của mình trong việc kiểm sát thi hành án. Chính vì vậy, với quy định mới bổ sung trong Luật sửa đổi, bổ sung quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, tăng thêm trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những việc làm chưa đúng của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, hạn chế được những sai sót không đáng có trong hoạt động thi hành án dân sự.
Những sửa đổi, bổ sung trên góp phần làm rõ phạm vi của hoạt động kiểm sát, tránh sự chồng lấn về nhiệm vụ giữa cơ quan thanh tra và cơ quan kiểm sát, tăng cường trách nhiệm của cơ quan kiểm sát trong hoạt động thi hành án dân sự, đảm bảo cho hoạt động này hoạt động hiệu quả và minh bạch.
2.17. Về vai trò của Tòa án nhân dân
Tòa án là cơ quan tư pháp, thực hiện chức năng xét xử, ban hành các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước. Cơ quan Thi hành án dân sự là cơ quan chấp hành, thực hiện và tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Công tác thi hành án dân sự có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào phán quyết của Tòa án có tính khả thi hay không. Do đó cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong việc tuyên án; chuyển giao kịp thời, đầy đủ các bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự; giải thích, đính chính những nội dung trong bản án, quyết định mà cơ quan thi hành án dân sự, đương sự có kiến nghị, đề nghị; nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc xác định quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án để thi hành án…
Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định bổ sung cụ thể như sau:
(1) Quy định cụ thể trách nhiệm của Tòa án trong việc xác định quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án
Xuất phát từ một số vướng mắc trong thực tế, chẳng hạn, khi người phải thi hành án không có tài sản riêng mà chỉ có khối tài sản chung với một hoặc nhiều người (quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2008) mà chưa xác định được phần quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, nếu như Tòa án không ra phán quyết về việc xác định phần quyền sử dụng, sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung thì cơ quan thi hành án cũng không thể tổ chức thi hành được. Điều này dẫn đến việc quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án mặc dù đã được Tòa án công nhận nhưng cũng không được thi hành trên thực tế.
Chính vì vậy, một trong những điểm mới về nhiệm vụ quyền hạn của Tòa án được bổ sung trong Luật sửa đổi, bổ sung mang tính đột phá, đó là nhiệm vụ Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Toà án” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 170.
(2) Tăng cường trách nhiệm của Tòa án khi xem xét bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Trên thực tế, hoạt động thi hành án còn vướng mắc liên quan trong trường hợp cơ quan thi hành án đã thi hành xong bản án, quyết định nhưng bản án, quyết định đó lại bị Tòa án có thẩm quyền tuyên hủy theo thủ tục giám đốc thẩm để xem xét lại. Theo quy định tại Điều 136 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì trường hợp giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại thì việc thi hành án được thực hiện theo bản án, quyết định sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm mới. Tuy nhiên, khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án thì nguyên đơn lại rút yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; theo quy định, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án. Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án không có căn cứ để giải quyết đối với các vấn đề phát sinh tiếp theo từ kết quả THADS trước đó, dẫn đến phát sinh nhiều đơn khiếu nại gay gắt, phức tạp gây khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự.
Để khắc phục những vướng mắc trên, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung khoản 4 Điều 170 đó là “Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy.”.
Việc bổ sung điểm c khoản 3 và khoản 4 Điều 170 mang tính đột phá, giúp các cơ quan thi hành án dân sự tháo gỡ được nhiều vướng mắc phát sinh và giải quyết triệt để về vấn đề tài sản khi cơ quan thi hành án dân sự đã thi hành xong nhưng Tòa án cấp có thẩm quyền lại tuyên hủy bản án, quyết định đã được thi hành xong và Tòa án có thẩm quyền lại ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Mặt khác, những điểm mới trên sẽ giúp các cơ quan thi hành án dân sự có cơ sở vững chắc để tổ chức thi hành án khi người phải thi hành án chỉ có tài sản trong khối tài sản chung, hạn chế được tình trạng khiếu kiện của đương sự và người có quyền lợi liên quan trong thi hành án. Đây là điểm mới rất quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc hiện tại và góp phần không nhỏ vào việc giảm án tồn của cơ quan thi hành án dân sự.
(3) Các nội dung khác
Ngoài ra, để phù hợp với Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi năm 2014, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự còn bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương. Và để từng bước hoàn thiện pháp luật, Điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung còn bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn như yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần thiết; xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước; nâng thời hạn trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm từ 45 ngày lên 90 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị…
Cách đổi tên, kết cấu và bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án tại Điều 170 là phù hợp, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án, các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan và Nhà nước được bảo vệ triệt để hơn. Đặc biệt với các nội dung mới sửa đổi, bổ sung về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, trước hết sẽ giúp các cơ quan thi hành án dân sự tháo gỡ được nhiều vướng mắc mà từ trước đến nay không giải quyết được, góp phần không nhỏ vào giảm án tồn của các cơ quan thi hành án dân sự. Trên đây là quá trình xây dựng, quan điểm chỉ đạo và những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Nguyễn Thị Nam - 28/03/2016 06:33
tại sao tôi mua đấu giá từ ngày 23 tháng 6 năm 2014 đến nay vẫn chưa được chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu vẫn chưa sang tên giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho gia đình tôi?
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu chung về Bắc Ninh

1. Vị trí địa lý Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP