14:58 EST Thứ ba, 13/11/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 27


Hôm nayHôm nay : 7217

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 89384

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9183375

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC THANH TOÁN TIỀN THI HÀNH ÁN VÀ THU, NỘP PHÍ THI HÀNH ÁN

Chủ nhật - 13/12/2015 21:05
CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC THANH TOÁN TIỀN THI HÀNH ÁN  VÀ THU, NỘP PHÍ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC THANH TOÁN TIỀN THI HÀNH ÁN VÀ THU, NỘP PHÍ THI HÀNH ÁN

Chuyên đề “Những quy định của pháp luật và những vấn đề cần lưu ý trong việc thanh toán tiền thi hành án và phí thi hành án” là một chuyên đề có mục đích giới thiệu những nội dung mới của pháp luật về thi hành án dân sự nhằm thống nhất quan điểm trong việc áp dụng quy định của pháp luật trong việc thanh toán tiền thi hành án và phí thi hành án để cơ quan thi hành án thực hiện được thống nhất, có hiệu quả.
Hệ thống các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự hiện nay đang ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Theo pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự, mà trực tiếp Chấp hành viên có trách nhiệm đảm bảo hiệu lực trên thực tế của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tính hiệu quả trong hoạt động này phụ thuộc trước hết vào sự khách quan, công bằng trong phán quyết của bản án, quyết định đó. Ngoài ra, tính minh bạch, rõ ràng trong các quy định của pháp luật cũng là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
 Trong các bản án, quyết định của Tòa án phần nghĩa vụ về dân sự thì nghĩa vụ trả tiền chiếm phần lớn. Ngoài ra, có một số rất ít là nghĩa vụ thi hành án bằng hiện vật như giao trả vật, giao trả tài sản (quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất), giao nuôi dưỡng con, thực hiện hoặc cấm thực hiện một công việc nhất định … Với sự phát triển của xã hội thì các quan hệ dân sự ngày càng phát triển cùng với đó các tranh chấp về dân sự ngày càng tăng nhanh đặc biệt là các tranh chấp về kinh tế liên quan đến tiền và tài sản. Do đó, về cơ bản nhiệm vụ của cơ quan thi hành án là thu tiền của người phải thi hành án và trả tiền cho người được thi hành án; ngoài ra, cơ quan thi hành án còn phải tiến hành thu các khoản tiền để sung công quỹ nhà nước như án phí, tiền phạt, tiền sung công...Tuy nhiên, trên thực tế trong thời gian qua đã xảy ra nhiều trường hợp một người phải thi hành án phải thi hành nhiều bản án, quyết định của Tòa án, cá biệt có trường hợp một người phải thi hành đến gần 70 bản án quyết định của Tòa án. Vì vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện thì không phải lúc nào cơ quan thi hành án cũng thu đủ số tiền để thanh toán cho tất cả các nghĩa vụ của người phải thi hành án theo quyết định, bản án của Tòa án, cho nên khi Chấp hành viên thực hiện việc phân phối tiền có thể gây bức xúc cho người được thi hành án thậm chí gây khiếu nại kéo dài. Vì thế, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành án, các nhà lập pháp đều chú trọng đến việc hoàn thiện các quy định về thanh toán tiền thi hành án, trong đó quy định về việc phân chia tiền thu được trong trường hợp người phải thi hành án phải thực hiện nhiều nghĩa vụ thi hành án khác nhau.
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2008 đã được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 8 thông qua, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015 và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật THADS và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Thi hành án dân sự, có hiệu lực ngày 01/9/2015 đã bổ sung quy định mới về việc thanh toán tiền thi hành án; mức phí, cách tính phí thi hành án, miễn, giảm phí thi hành án cho người yêu cầu thi hành án đã cung cấp chính xác điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
Hơn nữa, trong thực tế Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự còn gặp phải một số khó khăn vướng mắc về thứ tự thanh toán tiền thi hành án như thanh toán tiền gốc trước hay lãi chậm thi hành án trước; thanh toán cho người không có đơn yêu cầu thì phải làm thế nào để xác định; trường hợp xử lý tài sản của người thứ ba bảo lãnh thì thứ tự ra sao; đối với các biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được ưu tiên thanh toán như thế nào...; cách tính phí, thu, quản lý sử dụng phí như thế nào cho phù hợp, đối với trường hợp lãi chậm thi hành án, tiền lãi gửi tiết kiệm thì thu phí hay không? Trường hợp đương sự đã yêu cầu thi hành án nhưng sau đó có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án thì việc thu phí như thế nào... cũng là khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự.
Chính vì vậy, chuyên đề “Những quy định của pháp luật và những vấn đề cần lưu ý trong việc thanh toán tiền thi hành án và phí thi hành án” là một chuyên đề có mục đích giới thiệu những nội dung mới của pháp luật về thi hành án dân sự nhằm thống nhất quan điểm trong việc áp dụng quy định của pháp luật trong việc thanh toán tiền thi hành án và phí thi hành án để cơ quan thi hành án thực hiện được thống nhất, có hiệu quả.
I. THANH TOÁN TIỀN THI HÀNH ÁN 
1. Việc thanh toán tiền thi hành án theo quy định Luật Thi hành án dân sự năm 2008
1.1 Cơ sở pháp lý của việc thanh toán tiền thi hành án
- Tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có quy định về thứ tự thanh toán tiền thi hành án như sau:
      “1. Số tiền thi hành án, sau khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này, được thanh toán theo thứ tự sau đây:
      a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần;
b) Án phí;
c) Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định.
 2. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:
 a) Việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;
b) Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó. Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán. Số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án.
      3. Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về thi hành án.
 4. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án về phá sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thu được tiền, Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này ”.
Theo quy định trên thì có hai cách xác định về việc ưu tiên thanh toán, cụ thể:
Thứ nhất: Xác định ưu tiên cho những khoản tiền liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe; những khoản thu nhập từ lao động, gắn với công sức lao động như tiền công, tiền lương và những khoản liên quan trực tiếp đến người lao động. Đồng thời, cũng xác định trong trường hợp phải cưỡng chế để thu tiền thì thời điểm xác định việc ưu tiên là thời điểm ra quyết định cưỡng chế và thời điểm làm đơn yêu cầu của người được thi hành án. Theo nguyên tắc này thì số tiền thu được của người phải thi hành án được trừ các chi phí thi hành án mà người phải thi hành án phải chịu được quy định tại khoản 1 Điều 73 và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự (nếu có)[1]:
Như vậy, sau khi trừ chi phí thi hành án như trên và tiền thuê nhà cho người phải thi hành án (nếu có), số tiền còn lại sẽ được ưu tiên thanh toán đầu tiên cho các khoản  nghĩa vu thanh toán “Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần”. Sau khi thanh toán hết cho các nghĩa vụ trên, số tiền còn lại được thanh toán cho các nghĩa vụ án phí của người phải thi hành án. Sau khi thanh toán hết nghĩa vụ án phí mà còn tiền thì tiếp tục thanh toán cho các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định. Số tiền còn thừa sau khi thanh toán hết các nghĩa vụ mà người phải thi hành án phải chịu theo bản án, quyết định của Tòa án thì phải được trả lại người phải thi hành án.
 Trong trường hợp cùng một hàng ưu tiên thanh toán nhưng số tiền không để thanh toán cho tất cả những người trong cùng một hàng thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án. Trường hợp cơ quan thi hành án phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thì số tiền thu được theo quyết định cưỡng chế sẽ ưu tiên thanh toán cho người có đơn yêu cầu thi hành án đến thời điểm có quyết định cưỡng chế, tức là chỉ cần người được thi hành án nộp đơn yêu cầu cho cơ quan thi hành án trước khi cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế là được ưu tiên thanh toán.
Thứ hai:  Nguyên tắc thứ hai được áp dụng đối với trường hợp số tiền thi hành án thu từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể. Theo đó, số tiền thi hành án thu được từ việc xử lý tài sản trên sẽ được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về thi hành án.
Ngoài ra, khoản 5, Điều 47 Luật Thi hành án dân sự cũng quy định cụ thể thời hạn thanh toán tiền thi hành án. Theo đó, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền, Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Về việc chi trả và cách thức chi trả tiền cho đương sự và việc nộp tiền vào Ngân sách nhà nước đối với khoản án phí, phạt, sung công được quy định tại Thông tư số 22/2011/TT-BTP ngày 02/12/2011[2].
1.2. Một số bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện
Qua hơn 04 năm thực hiện Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong thực tế đã bộc lộ những vấn đề mà Luật chưa điều chỉnh cụ thể, trong đó có vấn đề liên quan đến việc thanh toán tiền thi hành án, thể hiện qua các vấn đề sau:
(i) Số tiền thu được thì thanh toán tiền gốc trước hay tiền lãi chậm thi hành án trước trong trường hợp số tiền thu được không đủ để thanh toán cho người được thi hành án.
Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định cụ thể số tiền thu được thì thanh toán tiền gốc trước (số tiền được tuyên cụ thể trong bản án, quyết định của Tòa án) hay thanh toán số tiền lãi phát sinh do chậm thi hành án trước, nhưng tại Điểm 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định “khi tính lãi suất chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án (Thông tư này hiện nay vẫn còn hiệu lực). Do chưa có hướng dẫn cụ thể nên dẫn đến các cơ quan thi hành án (Chấp hành viên) lúng túng trong việc thực hiện chi trả. Trên thực tế thì khi chi trả một phần số tiền cho người được thi hành án thì đa số các Chấp hành viên đều thực hiện trừ số tiền đã chi trả vào số tiền gốc trước, sau khi chi trả hết số tiền gốc thì các Chấp hành viên tính toán số tiền lãi phát sinh do chậm thi hành án để yêu cầu người phải thi hành án nộp. Tuy nhiên, có trường hợp không thống nhất được cách thức chi trả dẫn đến việc thi hành án bị kéo dài và gây bức xúc cho cả người phải thi hành án và người được thi hành án (như trường hợp sau: Theo nội dung quyết định tại Bản án số 109/DS-PT ngày 09/3/2005 của Tòa án nhân dân xét xử giữa người được thi hành án là ông Lê Phú  và đơn vị phải thi hành án là Công ty H với số tiền phải thi hành án là 9.794.765.000đ (Chín tỷ bảy trăm chín mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng); kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu chưa thi hành xong các khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi của số tiền chưa trả theo mức lãi nợ quá hạn Ngân hàng quy định. Căn cứ đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cơ quan thi hành án đã  ra Quyết định thi hành án số 189/QĐTHA-TĐYC. Ngày 23/8/2006, người phải thi hành án nộp số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) để thi hành án. Ngày 27/8/2007, người phải thi hành án nộp tiếp số tiền 7.641.791.365 đồng (gồm số tiền gốc còn lại là 4.794.765.000 đồng và phần lãi chậm thi hành án là 2.847.026.365 đồng). Tổng cộng số tiền người phải thi hành án đã thi hành là 12.641.791.365 đồng. Trong trường hợp này, nếu khi thực hiện việc thanh toán tiền cho người được thi hành án mà cơ quan thi hành án trừ vào số tiền gốc trước thì tính đến ngày 27/8/2007, người phải thi hành án đã nộp đủ số tiền theo bản án của Tòa án và việc thi hành án được kết thúc. Còn nếu thực hiện việc thanh toán khoản lãi phát sinh do chậm thi hành án trước rồi mới thực hiện việc thanh toán tiền gốc sau thì việc thi hành án được xác định chưa xong và từ ngày 27/8/2007 người phải thi hành án còn phải tiếp tục thi hành số tiền 2.154.667.902 đồng (tiền gốc) và theo tính toán thì đến ngày 26/3/2013 người phải thi hành án còn phải thi hành số tiền 5.201.961.202 đồng. Việc không thống nhất trong việc chi trả tiền gốc trước hay tiền lãi trước dẫn đến người phải thi hành án cho rằng cơ quan thi hành án tính lãi chồng lãi, còn người được thi hành án cho rằng cơ quan thi hành án thi hành không đúng nội dung bản án tuyên nên cả hai bên đều khiếu nại.
Để giải quyết vướng mắc trên, sau khi thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tài chính, ngày 03/3/2015 Bộ Tư pháp đã có Công văn số 614/BTP - TCTHADS hướng dẫn các cơ quan thi hành án dân sự địa phương như sau: Khoản 4 Điều 295 Bộ luật dân sự 1995 và khoản 2 Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 đều quy định: “Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”; Điểm 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án quy định : “Khi tính lãi suất chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án”. Thông tư liên tịch này chưa bị văn bản quy phạm pháp luật nào hủy bỏ nên vẫn được áp dụng, trừ những nội dung không còn phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó. Như vậy, về nguyên tắc chỉ được tính lãi trên số tiền nợ gốc (số tiền phải thi hành án theo quyết định của Bản án, Quyết định của Tòa án) mà không được tính lãi trên số tiền lãi.
Điều 47 Luật Thi hành án dân sự về thứ tự thanh toán tiền thi hành án không quy định ưu tiên thanh toán khoản tiền gốc hay lãi trước. Tuy nhiên, liên quan đến thứ tự thanh toán các khoản tiền trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự là trả tiền, khi xem xét các quy định khác của pháp luật thấy rằng: Điều 338 Bộ luật dân sự 2005 có quy định: “Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố ; trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại nếu có;; khoản 11 Mục II Thông tư liên tịch số 02/2002/TTLT-NHNN-BT ngày 05/02/2002  của  Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg ngày 05/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về thủ tục bán tài sản bảo đảm, công chứng, chứng thực văn bản bán tài sản và giao tài sản cho các ngân hàng thương mại theo bản án, quyết định của tòa án quy định: “Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nợ gốc, lãi, lãi quá hạn cho ngân hàng thương mại, công ty quản lý nợ sau khi trừ đi các chi phí thực tế, hợp lý liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm”. Như vậy, theo các quy định trên, trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự là trả tiền thì tiền gốc được ưu tiên thanh toán trước tiền lãi. Căn cứ Điều 3 Bộ luật Dân sự 2005 về áp dụng quy định tương tự của pháp luật thì cơ quan thi hành án dân sự có thể vận dụng để thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án. 
Mặt khác, thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy, khi thanh toán tiền thi hành án, việc thanh toán tiền lãi trước sau đó mới đến thanh toán tiền gốc dễ dẫn tới việc cơ quan thi hành án dân sự tính “lãi chồng lãi”, khoản tiền gốc không được thanh toán kịp thời lại phát sinh khoản tiền lãi mới, không đảm bảo quyền lợi của người phải thi hành án (quyền lợi của người được thi hành án đã được bảo đảm bằng việc hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án). Do đó, khi thu được tiền thi hành án cần thanh toán tiền nợ gốc rồi mới đến tiền lãi chậm thi hành án.
Vì vậy, trong trường hợp Bản án, Quyết định của Tòa án tuyên tính lãi suất chậm thi hành án đối với số tiền thi hành án (trừ trường hợp đương sự thỏa thuận cách thức tính, thanh toán tiền lãi chậm thi hành án và được quyết định trong Bản án, Quyết định của Tòa án) thì khi thu được tiền thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự tiến hành thanh toán tiền nợ gốc (số tiền phải thi hành án được tuyên rõ trong Bản án, Quyết định của Tòa án) trước, sau đó mới thanh toán tiền lãi suất chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Ví dụ : Theo Bản án, ông Nguyễn Văn A có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 10 tỷ đồng (số tiền 10 tỷ đồng này bao gồm cả 02 trường hợp : 10 tỷ đồng là tiền gốc hoặc 10 tỷ đồng gồm cả tiền gốc và lãi được tuyên rõ trong Bản án, Quyết định của Tòa án), trường hợp ông A chưa thi hành án thì hàng tháng phải trả lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố đối với số tiền còn phải thi hành án (ví dụ là 9%).
- Ngày 5/4/2013, bà B làm đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 5/4/2014, ông A nộp tại cơ quan thi hành án 5 tỷ đồng để thi hành án.
Trong trường hợp này, số tiền gốc còn lại sau khi ông A nộp 5 tỷ đồng :
10. 000.000.000đ  5.000.000.000đ =  5.000.000.000đ ;
Số tiền lãi chậm thi hành án từ 5/4/2013 đến 5/4/2014 (lãi lần 1) :
10.000.000.000đ  × 9%/năm  × 12 tháng = 900.000.000đ;
 Như vậy, số tiền còn phải thi hành án từ ngày 6/4/2014 là 5 tỷ 900 triệu đồng. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 thì không được tính lãi chậm trả đối với số tiền lãi. Do đó, lãi chậm thi hành án chỉ được tính đối với khoản tiền 5 tỷ đồng còn lại (không tính lãi đối với số tiền 900 triệu đồng – lãi lần 1).
Ngày 5/7/2014, ông A nộp tiếp 3 tỷ đồng để thi hành án.
Số tiền gốc còn lại sau khi ông A nộp 3 tỷ đồng là: 5.000.000.000đ (nợ gốc sau khi thanh toán lần 1) – 3.000.000.000đ = 2.000.000.000đ;
            Số tiền lãi chậm thi hành án từ 5/4/2014 đến 5/7/2014 (lãi lần 2): 5.000.000.000đ (nợ gốc sau khi thanh toán lần 1) × 9%/năm × 3 tháng = 112.500.000đ;
Như vậy, số tiền còn phải thi hành án từ ngày 5/7/2014 là: 2 tỷ đồng + 900 triệu đồng (lãi lần 1) + 112,5 triệu đồng (lãi lần 2);
Trong đó, lãi chậm thi hành án tiếp theo chỉ được tính đối với khoản tiền 2 tỷ đồng còn lại (không tính lãi đối với số tiền lãi lần 1, lãi lần 2).
Những lần thanh toán tiền thi hành án tiếp theo được tính tương tự, theo nguyên tắc thanh toán hết tiền nợ gốc rồi mới thanh toán khoản lãi chậm thi hành án.
Như vậy, khi thu được tiền thi hành án, cơ quan thi hành án thực hiện việc thanh toán các khoản tiền gốc (được tuyên trong các bản án, quyết định của Tòa án) trước sau đó mới thực hiện việc thanh toán tiền lãi.
(ii) Việc ưu tiên thanh toán theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự
Theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì thời điểm để xác định việc có được ưu tiên thanh toán hay không là thời điểm cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án. Nếu người thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án trước thời điểm Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế (trong khi có thể 05 ngày sau, cơ quan thi hành án mới ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu và đơn đó có thể không phải là căn cứ để ra quyết định cưỡng chế thi hành án). Trên thực tế, cũng chưa có quy định cụ thể buộc cơ quan thi hành án khi nhận đơn phải ghi cụ thể giờ, phút nhận đơn và thông thường, việc nhận đơn yêu cầu thi hành án được phân công cho bộ phận tiếp dân (hoặc bộ phận thụ lý) mà không phải nhiệm vụ của Chấp hành viên. Việc ra quyết định cưỡng chế thi hành án là do Chấp hành viên thực hiện. Do đó, cũng khó xác định chính xác thời điểm Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế thi hành án và thời điểm đương sự có đơn yêu cầu thi hành án.
Trong thời gian qua, một số địa phương cá biệt đã xảy ra tình trạng vỡ hụi họ nên số người bị chủ hụi chiếm đoạt tiền, tài sản khá lớn. Khi xảy ra sự việc thì số người khởi kiện ra Tòa án rất nhiều và Tòa án cũng cần thời gian mới xem xét, xét xử hết các yêu cầu của người bị hại; số tài sản của người phải thi hành án là rất nhỏ không đủ để thực hiện các nghĩa vụ cho tất cả những người được thi hành án. Trong trường hợp áp dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự thì tại thời điểm ra quyết định cưỡng chế thi hành án, không phải tất cả những người được thi hành án đều kịp thời làm đơn yêu cầu thi hành án, dẫn đến khả năng họ không được thanh toán một khoản tiền nào.
Ví dụ: ông Phạm Tấn Tài, bà Nguyễn Thị Bạch Yến là người phải thi hành án theo 67bản án, quyết định của tòa án. Tổng cộng những nghĩa vụ theo đơn yêu cầu thi hành án của 67 người được thi hành án thì xác định tổng số tiền thi hành án là 41.408.674.500 đồng.
Trên cơ sở đơn yêu cầu thi hành án của 16 người được thi hành án (tính đến ngày 20/5/2014 với tổng số tiền là 13.973.450.000 đồng), cơ quan thi hành án dân sự đã ra các quyết định thi hành án. Để đảm bảo các nghĩa vụ thi hành án của ông Phạm Tấn Tài, bà Nguyễn Thị Bạch Yến, cơ quan thi hành án đã ban hành Quyết định cưỡng chế số 25/QĐ-THA ngày 20/5/2014 và thực hiện việc kê biên tài sản trong các ngày 10, 11 và 12/6/2014 đối với các tài sản sau của ông Phạm Tấn Tài, bà Nguyễn Thị Bạch Yến gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 1.512,7 m2 tờ bản đồ số 09, thửa 490 (đã thể chấp tại Ngân hàng Ngoại thương với số tiền 1.660.000.000 đồng); quyền sử dụng đất diện tích 163,6 m2 tờ bản đồ số 26, thửa 17 (đã thế chấp tại Ngân hàng Nhà nước phát triển nông thôn Chi nhánh N với số tiền 1.200.000.000 đồng); quyền sử dụng đất diện tích 77,9 m2, tờ bản đồ số 31, thửa 132; quyền sử dụng đất diện tích 136,8 m2 tờ bản đồ số 31, thửa 133 và 01 xe ôtô Toyota Camry GLI xanh 5 chỗ ngồi.
      Sau khi ra quyết định kê biên, cơ quan thi hành án dân sự nhận tiếp 51/67 đơn yêu cầu thi hành án với số tiền 27.435.224.5000 đồng. Đến hết ngày 15/5/2015, cơ quan thi hành án đã bán đấu giá thành các tài sản trên và tổ chức giao xong các tài sản trên cho người mua trúng đấu giá. Tổng số tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản là 12.848.715.000 đồng (Mười hai tỷ tám trăm bốn mươi tám triệu bảy trăm mười lăm ngàn đồng), sau khi trừ các khoản được ưu tiên thanh toán trước theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự với tổng số tiền 4.034.780.740 đồng (cụ thể: Án phí 67 việc: 867.812.000 đồng, thuế thu nhập cá nhân 04 tài sản là nhà đất: 249.761.040 đồng, chi trả 03 Ngân hàng do vay thế chấp: 2.765.925.770 đồng, phí bán đấu giá 05 tài sản: 91.136.030 đồng, chi phí cưỡng chế: 48.145.900 đồng, chi hỗ trợ thuê nơi ở: 12.000.000 đồng). Số tiền còn lại là 8.813.934.260 đồng, cơ quan thi hành án gửi Ngân hàng chưa chi trả cho đương sự vì gặp khó khăn vướng mắc trong việc thanh toán tiền thi hành án. Do có nhiều người được thi hành án (67 người) nhưng số tiền thu được không đủ thanh toán cho tất cả mọi người, cơ quan thi hành án đã báo cáo Ban chỉ đạo thi hành án dân sự địa phương. Về phía địa phương đã tổ chức nhiều cuộc họp do Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ trì và đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức 02 cuộc đối thoại với những người được thi hành, nhưng có nhiều ý kiến khác nhau: thanh toán đều cho tất cả 67 người được thi hành án, hay chỉ thanh toán tiền cho 16 người đã có đơn yêu cầu thi hành án đến thời điểm ra quyết định cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Hội đồng nhân dân tỉnh đã có Công văn đề nghị làm rõ lý do “vì sao cùng một vụ việc, cùng nội dung khởi kiện và cùng một quan hệ pháp luật như nhau, nhưng lại thi hành án cho 16 người, 51 người còn lại thì không? việc giải quyết  (cho 16 người đã có đơn yêu cầu thi hành án) nêu trên của cơ quan thi hành án có đảm bảo tính công bằng của pháp luật hay không?”.
(iii) Việc thanh toán tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp
Trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án có thể tiến hành kê biên xử lý tài sản cầm cố, thế chấp trong hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất (người nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án), theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, nếu người phải thi hành án không có tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp, nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án. Đối với trường hợp này, thì số tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản sau khi trừ chi phí cưỡng chế thi hành án thì được ưu tiên thanh toán cho người nhận cầm cố, thế chấp; số tiền còn lại được thực hiện thanh toán theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cho người được thi hành án theo các bản án, quyết định.
 - Trường hợp thứ hai (người nhận cầm cố, thế chấp là người được thi hành án), thông thường trường hợp này xảy ra khi có tranh chấp hợp đồng tín dụng... và được bản án, quyết định của Tòa án tuyên nếu đến hạn mà không trả nợ hoặc trả không đúng hạn thì người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiến hành phát mại tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi nợ. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, cơ quan thi hành án thực hiện việc ưu tiên thanh toán cho người được thi hành án là người nhận cầm cố, thế chấp trước nên cơ quan thi hành án không thu được tiền án phí (của chính bản án, quyết định mà cơ quan thi hành án đang tổ chức thi hành) vì người phải thi hành án không có tài sản nào khác dẫn đến tồn đọng hồ sơ thi hành án đối với khoản chủ động.
(iv) Việc thanh toán trong trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự thì trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự thì đương sự người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Toà án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 102 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự thì “Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về thi hành án” và khoản 13 Điều 1 Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/N00Đ-CP ngày 13/7/2009 “Nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Luật thi hành án dân sự phải được xác định cụ thể trong bản án, quyết định của Tòa án tuyên kê biên bảo đảm thi hành cho nghĩa vụ cụ thể đó”.  Vì vậy, nếu theo quy định trên của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng không phải là biện pháp kê biên và không xác định rõ kê biên để đảm bảo cho khoản nghĩa vụ cụ thể trong bản án, quyết định thì không được ưu tiên thanh toán. Do vậy, trong trường hợp nhiều người được thi hành án nhưng số tiền thu được không đủ để thanh toán cho tất cả các nghĩa vụ thi hành án thì đối với bản án tuyên có nội dung tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời cho đến khi thi hành xong nghĩa vụ có được ưu tiên thanh toán hay không vẫn là vấn đề tranh cãi. 
Ví dụ: Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh B tổ chức thi hành 01 bản án và 04 quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật sau:
(i)  Bản án dân sự phúc thẩm số 210/2009/DS-PT ngày 16/11/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh B buộc ông Ngô Văn Đ, bà Võ Thị Tuyết D phải trả cho ông Huỳnh Thanh D số tiền 1.203.000.000đ + lãi suất chậm thi hành án; tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 02 ngày 31/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện A về việc cấm vợ chồng ông Đ, bà D chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
(ii)  Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 31/QĐST-DS ngày 8/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện A buộc ông Đ, bà D phải trả cho ông Trần Văn H số tiền 893.250.000đồng + lãi chậm thi hành án.
(iii) Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 32/QĐST-DS ngày 9/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện A buộc ông Đ, bà D phải trả cho ông Võ Hoài P số tiền 1.014.817.500đồng + lãi chậm thi hành án.
(iv) Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 33/QĐST-DS ngày 9/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện A buộc ông Đ, bà D phải trả cho bà Ngô Thị N số tiền 500.000.000đồng + lãi chậm thi hành án.
(v)  Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 34/QĐST-DS ngày 14/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện A buộc ông Đ, bà D phải trả cho bà Ngô Thị N số tiền 493.500.000đồng + lãi chậm thi hành án.
Tổng số tiền ông Đ, bà D phải thi hành án là 4.104.567.500 đồng + lãi suất chậm thi hành án.
 Căn cứ đơn yêu cầu thi hành án ngày 20/11/2009 của ông Huỳnh Thanh D và bản án đã có hiệu lực pháp luật, ngày 20/11/2009, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện A đã ra Quyết định thi hành án số 118/QĐ-THA ngày 20/11/2009 để tổ chức thi hành án. Chấp hành viên đã căn cứ Bản án số 210/DS-PT và các quyết định công nhận sự thỏa thuận nêu trên để ra quyết định kê biên và thực hiện kê biên tài sản của ông Đ, bà D để đảm bảo thi hành án. Sau khi thực hiện kê biên, tài sản đã được bán đấu giá theo quy định, số tiền thu được sau khi trừ các chi phí còn lại là 1.394.254.988 đồng. Đối với số tiền bán tài sản còn lại, cơ quan thi hành án chưa chi trả cho những người được thi hành án do có những quan điểm khác nhau. Đối chiếu với pháp luật về thi hành án, trong trường hợp cụ thể này thì Tòa án nhân dân huyện A đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cấm ông Đ, bà D thực hiện hành vi nhất định (theo quy định tại khoản 12 Điều 102, Điều 115 Bộ luật Tố tụng dân sự) mà không phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là kê biên tài sản của ông Đ, bà D nên không có cơ sở để ưu tiên chi trả tiền bán tài sản cho ông D trước những người được thi hành án khác. Từ đó, phát sinh khiếu nại của ông D và có ý kiến khác nhau của các cơ quan hữu quan về việc ưu tiên thanh toán cho ông D.
2. Những quy định mới về việc thanh toán tiền thi hành án theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành
Để khắc phục những bất cập của pháp luật liên quan đến các quy định về thi hành án nói chung và về việc thanh toán tiền thi hành án nói riêng, ngày 25/11/2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
Theo đó, tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định về thứ tự thanh toán tiền thi hành án đã được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Số tiền thi hành án, sau khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này thì được thanh toán theo thứ tự sau đây:
a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần;
b) Án phí, lệ phí Tòa án;
c) Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định.
2. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:
a) Việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này; trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;
b) Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó; số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán;
c) Sau khi thanh toán theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án.
3. Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ án phí của bản án, quyết định đó, chi phí cưỡng chế và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này.
Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản theo quy định tại Điều này.
4. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án về phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thu được tiền, tài sản thi hành án, Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này”.
Để hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, ngày 18/7/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành án từ ngày 01/9/2015 (Nghị định này thay thế các nội dung về thủ tục thi hành án dân sự được quy định tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP và Nghị định 125/2013/NĐ-CP, bên cạnh các nội dung về tổ chức cán bộ quy định tại Nghị định số 74/2009/NĐ-CP).
Theo đó, việc thanh toán tiền thi hành án được quy định tại Điều 49 của Nghị định như sau:
“1. Trường hợp thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên xác định số tiền được thanh toán của những người được thi hành án đã yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế.
Trường hợp bản án, quyết định đang do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành xác định nhiều người được thi hành án nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu thi hành án mà tài sản của người phải thi hành án không đủ để thi hành nghĩa vụ tài sản theo bản án, quyết định thì cơ quan thi hành án dân sự thanh toán cho người đã yêu cầu thi hành án theo tỉ lệ mà họ được nhận, số tiền còn lại gửi vào ngân hàng theo loại tiền gửi kỳ hạn 01 tháng, đồng thời thông báo và ấn định thời hạn không quá 01 tháng cho những người được thi hành án chưa yêu cầu về quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp đã hết thời hiệu.
Hết thời hạn thông báo mà cơ quan thi hành án dân sự không nhận được yêu cầu thi hành án thì số tiền đã gửi và tiền lãi được thanh toán tiếp cho những người đã có yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm hết thời hạn thông báo; số tiền còn lại, nếu có, được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán hoặc trả lại cho người phải thi hành án.
2. Đối với khoản tiền chi trả cho người được nhận là cá nhân, cơ quan thi hành án dân sự thông báo bằng văn bản yêu cầu người được nhận đến nhận.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông báo mà người được nhận tiền không đến nhận nếu họ ở xa trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, đã xác định được địa chỉ rõ ràng của họ và khoản tiền có giá trị nhỏ hơn 01 tháng lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Nhà nước quy định thì cơ quan thi hành án dân sự lập phiếu chi và gửi tiền cho họ qua đường bưu điện. Trường hợp bưu điện trả lại tiền do không có người nhận thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
Trường hợp người được nhận tiền cung cấp tài khoản và yêu cầu chuyển khoản thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục chuyển khoản.
3. Trường hợp người được thi hành án là doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế xã hội thì việc chi trả tiền thi hành án thực hiện bằng chuyển khoản.
Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thu được tiền thi hành án nhưng chưa kịp gửi vào tài khoản tạm giữ trong thời hạn quy định mà người được thi hành án cử người đại diện hợp pháp đến nhận thì cơ quan thi hành án dân sự có thể chi trả cho họ bằng tiền mặt.
4. Khi thi hành án tại cơ sở, trường hợp người phải thi hành án và người được thi hành án cùng có mặt, Chấp hành viên có thể chi trả ngay cho đương sự số tiền, tài sản thu được, sau khi đã trừ khoản phí thi hành án. Việc chi trả tiền, tài sản phải lập biên bản ghi đầy đủ thời gian, địa điểm, họ tên đương sự, lý do, nội dung giao nhận, số tiền, tài sản, chữ ký và họ tên của đương sự, Chấp hành viên và phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành việc chi trả tiền, tài sản. Biên bản phải giao cho đương sự, lưu hồ sơ thi hành án và chuyển cho kế toán cơ quan thi hành án dân sự để vào sổ theo dõi.
5. Cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục gửi tiền vào ngân hàng, gửi tài sản bằng hình thức thuê bảo quản hoặc bảo quản tại kho cơ quan thi hành án dân sự đối với khoản tiền, tài sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự trong trường hợp sau đây:
a) Khoản tiền, tài sản chưa xác định được địa chỉ của người được nhận hoặc khoản tiền hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông báo, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này, mà người được thi hành án đã yêu cầu thi hành án không đến nhận;
            Sau khi gửi tiền, tài sản, nếu người được nhận tiền, tài sản đến nhận thì cơ quan thi hành án dân sự chi trả tiền, tài sản cho người được nhận. Phần lãi tiền gửi được cộng vào số tiền gửi ban đầu và trả cho người được nhận.
            Trường hợp hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc 01 năm, kể từ ngày thông báo đối với trường hợp thu được tiền sau thời điểm 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà người được thi hành án không đến nhận thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục chuyển nộp số tiền, tài sản đó vào Ngân sách Nhà nước.
b) Khoản tiền, tài sản đã thu nhưng việc thi hành án bị hoãn, tạm đình chỉ để xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
6. Cước phí chuyển tiền qua bưu điện hoặc chuyển khoản tiền, thuê bảo quản tài sản quy định tại Điều này do người được nhận tiền, tài sản chịu”
Ngoài ra, khoản 1, Điều 7 Nghị định này cũng có quy định “Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể hoặc nhận chung một khoản tiền theo bản án, quyết định, nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với những người đã có yêu cầu, đồng thời thông báo cho những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó biết để yêu cầu thi hành án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn trên, nếu người được thông báo không yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên tổ chức giao tài sản, khoản tiền đó cho người đã có yêu cầu hoặc người đại diện của những người đã có yêu cầu để quản lý. Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án đối với tài sản đó được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”.
Bên cạnh đó tại khoản 4, Điều 27 Nghị định này đã quy định như sau: “Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá”
Với quy định trên, những điểm mới về thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án tại Luật Thi hành án dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành thể hiện ở các nội dung như sau:
Thứ nhất, bổ sung khoản lệ phí Tòa án 
Trước đây, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 có quy định nội dung này nhưng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không có quy định khoản này. Do đó, theo nội dung bổ sung, khoản lệ phí được thanh toán cùng hàng với án phí Tòa án.
Thứ hai, sửa đổi làm rõ hơn quy định về thứ tự thanh toán tiền thi hành án trong trường hợp bán tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể (Khoản 3 Điều 47 Luật thi hành án dân sự năm 2008).
 Theo đó, bên cạnh việc khẳng định vẫn ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án (trường hợp cơ quan thi hành án xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự), Luật Thi hành án dân sự đã khẳng định trường hợp bên nhận, cầm cố thế chấp là người được thi hành án hoặc trong trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản được ưu tiên thanh toán khoản tiền án phí và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật Thi hành án dân sự (nếu có) trước. Việc bổ sung quy định này là hợp lý, tạo cơ sở pháp lý để cơ quan thi hành án dân sự thu được khoản tiền án phí (đối với vụ việc này) giảm lượng án tồn tại cơ quan thi hành án dân sự, đồng thời, cũng đảm bảo tính nhân đạo, tạo điều kiện cho người phải thi hành án có chỗ ở ổn định trong thời gian nhất định trong trường hợp bán tài sản là nhà ở duy nhất của họ.
Thứ ba, xác định rõ cách tính thời hạn thanh toán tiền thi hành án
Trong trường hợp bán đấu giá tài sản để thi hành án thì ngày tính thời hạn thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự là ngày cơ quan thi hành án thu được tiền thi hành án thì lấy mốc là ngày cơ quan thi hành án giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá. 
Thứ tư, sửa đổi việc xác định đối tượng được ưu tiên thanh toán trong trường hợp cơ quan thi hành án phải ra quyết định cưỡng chế để thu tiền thi hành án (điểm b, khoản 2, Điều 47 Luật Thi hành án dân sự ).
Theo đó, chuyển đổi quy định “số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó” thành quy định “số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó”.
Như vậy, khi thu được tiền theo quyết định cưỡng chế thi hành án thì những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó đều được thanh toán tiền thi hành án mặc dù họ chưa yêu cầu thi hành án. Đây là điểm rất mới trong quy định nên khi thực hiện các cơ quan thi hành án dân sự cần hết sức lưu ý vì theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự thì “người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành”. Việc ưu tiên thanh toán trong trường hợp này được xác định là tại thời điểm cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thì tất cả những người được thi hành án (được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành) thì đều có thể được ưu tiên thanh toán không phụ thuộc vào việc họ đã có đơn yêu cầu thi hành án trước thời điểm ra quyết định cưỡng chế thi hành án hay không. Quy định này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, nhất là trong trường hợp tài sản của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
Để hướng dẫn thực hiện quy định mới này, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 đã xác định trách nhiệm của Chấp hành viên phải xác định số tiền được thanh toán của những người được thi hành án đã yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế. Việc “xác định số tiền được thanh toán” không  đồng nghĩa với việc “xác định thứ tự ưu tiên thanh toán”. Trường hợp xác định nhiều người được thi hành án theo bản án, quyết định đang được cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành nhưng chỉ có một hoặc một số người làm đơn yêu cầu thi hành án mà tài sản của người phải thi hành án không đủ thì cơ quan thi hành án trước hết tính tỷ lệ trên tổng số người được thi hành án và chỉ thanh toán cho những người đã có đơn yêu cầu thi hành án theo tỷ lệ mà họ được nhận. Số tiền còn lại (số tiền của những người được thi hành án chưa có đơn yêu cầu thi hành án), cơ quan thi hành án thực hiện việc gửi tiết kiệm Ngân hàng kỳ hạn 01 tháng, đồng thời thông báo và ấn định cho những người được thi hành án chưa yêu cầu về quyền làm đơn yêu cầu thi hành án. Hết thời hạn thông báo mà cơ quan thi hành án dân sự không nhận được yêu cầu thi hành án thì số tiền đã gửi và tiền lãi được thanh toán tiếp cho những người đã có yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm hết thời hạn thông báo; số tiền còn lại, nếu có, được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán hoặc trả lại cho người phải thi hành án.
Thứ năm, bổ sung hướng xử lý đối với trường hợp có nhiều người được nhận chung một tài sản cụ thể hoặc nhận chung một khoản tiền theo bản án, quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người làm đơn yêu cầu thi hành án:
Theo đó, cơ quan thi hành án tổ chức giao tài sản, khoản tiền cho những người đã có đơn yêu cầu và cơ quan thi hành án đã thông báo cho những người được thi hành án còn lại biết nhưng hết thời hạn thông báo mà họ vẫn không làm đơn yêu cầu.
Thứ sáu, bổ sung quy định về trả tài sản thi hành án
Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định thêm thủ tục về trả tài sản thi hành án, bên cạnh quy định về việc thanh toán tiền thi hành án vào tên của điều luật và vào khoản 5 của Điều 47 Luật thi hành án dân sự, đồng thời quy định dẫn chiếu phương thức xử lý tài sản quy định tại Điều 126 của Luật này.
Theo đó, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thu được tiền, tài sản thi hành án, Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án.
 Đối với trường hợp đương sự không đến nhận thì tiền, tài sản đó được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự, cụ thể là: trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thu được tiền, tài sản thi hành án Chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận tiền, tài sản. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền thì Chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng thì Chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các Điều 98, 99 và 101 của Luật thi hành án dân sự và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước. Đối với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiêu huỷ và tổ chức tiêu huỷ tài sản. Đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định. Trường hợp tài sản trả lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình bảo quản và đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng nhà nước đổi tiền mới có giá trị tương đương để trả cho đương sự. Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự mà đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng nhà nước xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Nghị định 62/2015/NĐ-CP đã cho phép trong trường hợp cơ quan thi hành án đã thông báo cho người được nhận tiền đến nhận tiền nhưng do điều kiện họ ở xa không đến nhận tiền được và số tiền được nhận có giá trị nhỏ hơn 01 tháng lương cơ sở thì cơ quan thi hành án có thể thực hiện việc chi trả và gửi số tiền đó qua đường bưu điện để kết thúc hồ sơ thi hành án.
II. PHÍ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1. Cơ sở pháp lý về phí thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và văn bản hướng dẫn thi hành
Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008: “Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định” và tại Điều 60 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có quy định về phí thi hành án như sau: “Người được thi hành án phải nộp phí thi hành án dân sự. Chính phủ quy định mức phí thi hành án dân sự, thủ tục thu nộp, quản lý, sử dụng phí thi hành án dân sự”. Như vậy, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 chỉ quy định khi người được thi hành án được nhận tiền, tài sản thì nộp phí thi hành án còn mức phí bao nhiêu, trường hợp nào thì được miễn giảm cũng như thủ tục thu nộp, quản lý, sử dụng phí thi hành án dân sự thì đều giao Chính phủ quy định. Theo đó, thực hiện nhiệm vụ này, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định về vấn đề này như sau:
            Điều 33. Mức phí, thủ tục thu nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án  
“1. Mức phí thi hành án là 3% (ba phần trăm) trên số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận nhưng tối đa không vượt quá 200 triệu đồng/01 đơn yêu cầu thi hành án.
Trường hợp Tòa án không tuyên giá trị của tài sản hoặc có tuyên nhưng không còn phù hợp (thay đổi quá 20%) so với giá thị trường tại thời điểm thu phí thì cơ quan thu phí tổ chức định giá tài sản để xác định phí thi hành án phải nộp của người được thi hành án. Chi phí định giá do cơ quan thi hành án dân sự chi trả từ nguồn phí thi hành án được để lại.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu phí thi hành án để thực hiện việc thu phí thi hành án khi chi trả tiền hoặc tài sản cho người được thi hành án.
Người được thi hành án không nộp phí thi hành án thì cơ quan thu phí có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành án, bao gồm cả việc bán đấu giá tài sản đã giao cho người được thi hành án để bảo đảm thu hồi tiền phí thi hành án. Chi phí định giá, bán đấu giá tài sản để thu phí do người được thi hành án chi trả.
3. Thủ tục thu, nộp, miễn, giảm, quản lý, sử dụng phí thi hành án do Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp quy định”
Điều 34. Những trường hợp không phải chịu phí thi hành án
“Người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án khi được nhận các khoản tiền, tài sản thuộc các trường hợp sau đây:
1. Tiền cấp dưỡng; tiền bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; tiền lương, tiền công lao động; tiền trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc; tiền bảo hiểm xã hội; tiền bồi thường thiệt hại vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động;
2. Khoản kinh phí thực hiện chương trình chính sách xã hội của Nhà nước xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, các khoản kinh phí trực tiếp phục vụ việc chăm sóc sức khỏe, giáo dục của nhân dân không vì mục đích kinh doanh mà người được thi hành án được nhận;
3. Hiện vật được nhận chỉ có ý nghĩa tinh thần, gắn với nhân thân người nhận, không có khả năng trao đổi;
4. Số tiền hoặc giá trị tài sản theo các đơn yêu cầu thi hành án không vượt quá hai lần mức lương tối thiểu chung do nhà nước quy định;
5. Khoản thu hồi nợ vay cho Ngân hàng Chính sách xã hội.”
Ngày 14/10/2013, Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự, trong đó có sửa đổi, bổ sung các khoản 5, 6, 7 Điều 34 theo hướng quy định thêm các trường hợp không phải chịu phí thi hành án, như sau:
"Điều 34. Những trường hợp không phải chịu phí thi hành án
5. Khoản thu hồi nợ vay cho Ngân hàng Chính sách xã hội trong trường hợp Ngân hàng cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
6. Bản án, quyết định của Tòa án xác định không có giá ngạch và không thu án phí có giá ngạch khi xét xử.
7. Tiền, tài sản được trả lại cho đương sự trong trường hợp chủ động thi hành án quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự.
Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp xây dựng Thông tư liên tịch số 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 22/9/2010 hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự (gọi tắt là Thông tư liên tịch), theo đó Điều 2 của Thông tư liên tịch quy định mức phí thi hành án như sau:
            “1. Mức thu phí thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ. Trường hợp người được thi hành án không có đơn yêu cầu thi hành án, nhưng được nhận tiền, tài sản thì vẫn chịu phí thi hành án theo mức quy định nhưng tối đa không quá 200 triệu đồng/01 vụ việc.
2. Đối với các vụ việc chia tài sản chung, chia thừa kế; chia tài sản trong ly hôn; vụ việc mà các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản được thi hành án (chỉ cần một trong các bên có đơn yêu cầu thi hành án), người nhận tài sản phải nộp phí thi hành án tương ứng với giá trị tài sản thực nhận tính trên tổng số tiền phí thi hành án phải nộp của các bên.
Thí dụ 1: Có 3 người được chia thừa kế một tài sản có giá trị 1 tỷ đồng. Người thứ nhất được nhận 20% giá trị tài sản. Người thứ hai được nhận 30% giá trị tài sản. Người thứ ba được nhận 50% giá trị tài sản. Số phí thi hành án phải nộp của từng người theo quy định trên được xác định như sau:
- Xác định tổng số phí thi hành án phải nộp: 3% x 1 tỷ đồng = 30 triệu đồng.
- Xác định số phí thi hành án phải nộp của từng người:
+ Người thứ nhất phải nộp là: 20% x 30 triệu đồng = 6 triệu đồng.
+ Người thứ hai phải nộp là: 30% x 30 triệu đồng = 9 triệu đồng.
+ Người thứ ba phải nộp là: 50% x 30 triệu đồng = 15 triệu đồng.
Thí dụ 2: Tòa án xử ly hôn giữa ông A và bà B, trong phần chia tài sản ly hôn, bà B được nhận nhà trị giá là 500 triệu đồng và phải thanh toán cho ông A 200 triệu đồng. Trong trường hợp này, số phí thi hành án mà các bên phải nộp được tính trên giá trị tài sản thực nhận của từng người, cụ thể như sau:
Số phí thi hành án ông A phải nộp là: 3% x 200 triệu đồng = 6 triệu đồng;
Số phí thi hành án bà B phải nộp là: 3% x (500 - 200) triệu đồng = 9 triệu đồng.
3. Đối với những vụ việc người được thi hành án đã có đơn yêu cầu thi hành án nhưng sau đó các đương sự tự nguyện thi hành án thì thực hiện như sau:
a) Nếu người được thi hành án không có đơn rút đơn yêu cầu thi hành án để hai bên tự nguyện thi hành án, cơ quan thi hành án chưa có quyết định cưỡng chế thi hành án và cũng chưa thu được tiền, tài sản để chi trả cho đương sự thì không thu phí thi hành án.
b) Nếu người được thi hành án không có đơn rút đơn yêu cầu thi hành án để hai bên tự nguyện thi hành án và đã có quyết định cưỡng chế thi hành án, thì cơ quan thu phí vẫn thu phí thi hành án theo quy định tại Thông tư này.
4. Đối với những vụ việc người được thi hành án có đơn rút đơn yêu cầu thi hành án thì thực hiện như sau:
a) Nếu đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật Thi hành án dân sự và người được thi hành án từ bỏ nhận tiền, tài sản đã thu được hoặc có đơn rút đơn yêu cầu thi hành án trước khi có quyết định cưỡng chế thi hành án, thì cơ quan thu phí không thu phí thi hành án;
b) Nếu đương sự không có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án không có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật Thi hành án dân sự và việc rút đơn thực hiện sau khi có quyết định cưỡng chế thi hành án, thì người được thi hành án phải nộp 1/3 (một phần ba) số phí thi hành án phải nộp như của trường hợp không rút đơn;
c) Nếu đương sự không có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án không có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật Thi hành án dân sự và việc rút đơn thực hiện sau khi cơ quan thi hành án đã thực hiện xong việc cưỡng chế; cơ quan thi hành án đã thu được tiền, tài sản để chi trả hoặc giao trả cho người được thi hành án, thì cơ quan thu phí vẫn thu phí thi hành án theo quy định tại Thông tư này.
5. Đối với những vụ việc theo bản án, quyết định của Tòa án, người được thi hành án được thi hành hoặc chỉ yêu cầu thi hành án với số tiền, tài sản có giá trị từ 2 lần mức lương tối thiểu trở xuống thì không phải nộp phí thi hành án.
Trường hợp người được thi hành án yêu cầu thành nhiều lần với tổng số tiền, tài sản có giá trị trên 2 lần mức lương tối thiểu thì phí thi hành án được tính trên tổng số tiền hoặc giá trị tài sản được nhận. Trường hợp này phí thi hành án nộp thành nhiều lần, mỗi lần tương ứng với số tiền, giá trị tài sản được thi hành án tương tự cách tính tại khoản 2 Điều 2 Thông tư này”.
 Như vậy, ngoài các nội dung khác về phí thi hành án dân sự thì nguyên tắc thu phí theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và văn bản hướng dẫn thi hành được xác định như sau:
Thứ nhất: Khi người được thi hành án nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án thì họ phải nộp phí thi hành án kể cả trường hợp họ không làm đơn yêu cầu thi hành án trong các bản án, quyết định mà người được thi hành án khác (hoặc người phải thi hành án) đã yêu cầu.
Thứ hai: Mức phí thi hành án được quy định chung là 3% trên số tiền, tài sản thực nhận nhưng không quá 200.000.000 đồng /1 vụ việc.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc thu phí thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã phát sinh một số khó khăn, chủ yếu liên quan đến việc thu phí hay không thu phí khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án đã thụ lý, ra quyết định thi hành án, tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, thông báo cưỡng chế nhưng người được thi hành án có đơn rút đơn yêu cầu thi hành án nhưng trên thực tế họ đã nhận tiền, dẫn đến việc thu phí thi hành án chưa thống nhất và còn gây tranh cãi. Nhiều quy định hiện hành đã vô tình tạo kẽ hở để các bên đương sự bắt tay nhau trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án. Ngoài ra, việc ấn định mức phí 3% trên số tiền, tài sản thực nhận nhưng không quá 200.000.000 đồng /01 vụ việc chưa tạo được sự công bằng giữa những người được thi hành án, mức phí 3% cũng khá cao nên trong trường hợp người được thi hành án được nhận số tiền thi hành án lớn có thể tìm cách trốn phí thi hành án.
Bên cạnh đó, một số nội dung của Thông tư liên tịch trên hướng dẫn chưa cụ thể như trường hợp giao tài sản, ví dụ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch quy định: “Nếu giao tài sản mà người được thi hành chưa nộp phí thi hành án, cơ quan thu phí có thể kê biên, phong tỏa tài sản được thi hành án và ấn định thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày giao trả tài sản để người được thi hành án nộp phí thi hành án” dẫn đến nhiều trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã giao tài sản nhưng người được nhận tài sản không nộp phí thi hành án. Ngoài ra, còn có những quy định về thủ tục xét miễn, giảm phí thi hành án cũng gây khó khăn cho người được thi hành án.
2. Những điểm mới trong việc thu phí thi hành án theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2008 đã được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 8 thông qua, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015 đã bổ sung, quy định rõ hơn quyền của người được thi hành án. Theo đó tại điểm k, khoản 1 Điều 7 quy định người được thi hành án được miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và trường hợp khác theo quy định của Chính phủ. Do đó, Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến việc thu phí thi hành án, đồng thời cũng đã thu hút một số quy định tại Thông tư liên tịch nêu trên vào Nghị định.
Cụ thể, các nội dung sửa đổi như sau:
Thứ nhất, về mức phí thi hành án
Tại Điều 46 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 đã quy định mới về mức phí, cách tính phí thi hành án, cụ thể như sau:
1. Người được thi hành án phải nộp phí thi hành án khi được nhận tiền, tài sản với mức phí sau đây:
a) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên hai lần mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Nhà nước quy định đến 5.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 3% số tiền, giá trị tài sản thực nhận;
b) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 5.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 150.000.000 đồng cộng với 2% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 5.000.000.000 đồng;
c) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 7.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 190.000.000 đồng cộng với 1% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 7.000.000.000 đồng;
d) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 10.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 220.000.000 đồng cộng với 0,5% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 10.000.000.000 đồng;
đ) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 15.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 245.000.000 đồng cộng với 0,01% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 15.000.000.000 đồng.
2. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án và chứng kiến các đương sự thỏa thuận tự giao, nhận tiền, tài sản cho nhau thì phải chịu 1/3 mức phí thi hành án quy định tại Khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp Tòa án không tuyên giá trị của tài sản hoặc có tuyên nhưng không còn phù hợp (thay đổi quá 20%) so với giá thị trường tại thời điểm thu phí thì cơ quan thu phí tổ chức định giá tài sản để xác định phí thi hành án phải nộp của người được thi hành án. Chi phí định giá do cơ quan thi hành án dân sự chi trả từ nguồn phí thi hành án được để lại.
4. Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thu phí thi hành án khi chi trả tiền hoặc giao tài sản cho người được thi hành án và cấp biên lai thu phí thi hành án.
Người được thi hành án không nộp phí thi hành án thì cơ quan thu phí có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế để thu phí thi hành án, kể cả việc bán đấu giá tài sản đã giao cho người được thi hành án để bảo đảm thu hồi tiền phí thi hành án. Chi phí định giá, bán đấu giá tài sản để thu phí do người được thi hành án chịu.
5. Thủ tục thu, nộp, miễn, giảm, quản lý, sử dụng phí thi hành án do Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định.
Theo đó, mức phí thi hành án khởi điểm là 3% trên số tiền, giá trị tài sản thực nhận, nhưng có các bước tính lũy tiến phụ thuộc vào số tiền, giá trị tài sản được nhận tăng lên, theo từng mức tiền, giá trị tài sản thực nhận. Nghị định cũng đã bổ sung quy định về việc người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án và cơ quan thi hành án chứng kiến các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giao nhận tiền thì người được thi hành án chỉ phải chịu 1/3 số tiền phí thi hành án,
Thứ hai, về những trường hợp không phải chịu phí thi hành án (Điều 47 của Nghị định)
Người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án khi được nhận các khoản tiền, tài sản thuộc các trường hợp sau đây:
1. Tiền cấp dưỡng; tiền bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; tiền lương, tiền công lao động; tiền trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc; tiền bảo hiểm xã hội; tiền bồi thường thiệt hại vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động.
2. Khoản kinh phí thực hiện chương trình chính sách xã hội của Nhà nước xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, các khoản kinh phí trực tiếp phục vụ việc chăm sóc sức khỏe, giáo dục của nhân dân không vì mục đích kinh doanh mà người được thi hành án được nhận.
3. Hiện vật được nhận chỉ có ý nghĩa tinh thần, gắn với nhân thân người nhận, không có khả năng trao đổi.
4. Số tiền hoặc giá trị tài sản theo yêu cầu thi hành án không vượt quá hai lần mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Nhà nước quy định.
5. Khoản thu hồi nợ vay cho Ngân hàng Chính sách xã hội trong trường hợp Ngân hàng cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
6. Bản án, quyết định của Tòa án xác định không có giá ngạch và không thu án phí có giá ngạch khi xét xử.
7. Tiền, tài sản được trả lại cho đương sự trong trường hợp chủ động thi hành án quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự.
Như vậy, đối với các trường hợp người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án thì vẫn giữ nguyên như quy định tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 và Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013.
Thứ ba, về miễn, giảm phí thi hành án (Điều 48 Nghị định)
Nghị định đã quy định về miễn, giảm phí thi hành án như sau:
1. Người được thi hành án được miễn phí thi hành án trong trường hợp sau đây:
a) Được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng;
b) Thuộc diện neo đơn được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận; thuộc diện tàn tật, ốm đau kéo dài có tóm tắt hồ sơ bệnh án được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp huyện trở lên xác nhận;
c) Người được thi hành án xác minh chính xác sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án theo quy định tại Khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự xử lý được tài sản để thi hành án.
2. Người được thi hành án được giảm phí thi hành án như sau:
a) Giảm đến 80% đối với người có khó khăn về kinh tế thuộc chuẩn hộ nghèo quy định tại Khoản 2 Điều 22 Nghị định này và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận;
b) Giảm 30% phí thi hành án tương ứng với số tiền thực nhận từ việc xử lý tài sản của người phải thi hành án mà người được thi hành án xác minh chính xác khi yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án dân sự xử lý được tài sản để thi hành án mà không phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cần huy động lực lượng, trừ trường hợp tài sản đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại;
c) Giảm 20% phí thi hành án trong trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này nếu phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cần huy động lực lượng, trừ trường hợp tài sản đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại.
Như vậy, đối với trường hợp miễn, giảm phí thi hành án thì ngoài các trường hợp đã được quy định tại Thông tư liên tịch thì đã bổ sung quy định:
+ miễn phí thi hành án đối với trường hợp người được thi hành án xác minh chính xác tài sản của người phải thi hành án mà việc xác minh được thực hiện sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và cơ quan thi hành án dân sự xử lý được tài sản đó để thi hành án;
+ giảm phí thi hành án mức 30% và 20% phụ thuộc vào việc có phải cưỡng chế huy động lực lượng hay không trong trường hợp người được thi hành án xác minh được tài sản của người phải thi hành án và cơ quan thi hành án xứ lý tài sản đó để thu tiền cho người được thi hành án.
Mặt khác, nếu như tài sản đã được xác định tại bản án, quyết định của Tòa án thì không thuộc trường hợp miễn, giảm phí thi hành án theo quy định này.
III. MỘT SỐ LƯU Ý TRONG THỰC HIỆN QUY ĐỊNH VỀ THANH TOÁN TIỀN THI HÀNH ÁN VÀ THU, NỘP PHÍ THI HÀNH ÁN
Trong thực tiễn tổ chức thực hiện, cơ bản các cơ quan thi hành án dân sự đã thực hiện đúng quy định về thanh toán tiền thi hành án và việc thu, nộp sử dụng phí thi hành án. Tuy nhiên, cũng có khá nhiều trường hợp việc thanh toán tiền thi hành án còn nhiều lúng túng, nhất là trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán, cá biệt, có trường hợp còn thanh toán thừa do số tiền hàng tỷ đồng do xác định không đúng việc ưu tiên thanh toán, chậm trễ trong việc thanh toán không đúng quy định của pháp luật; chi tiền nhưng không lưu các tài liệu liên quan như giấy ủy quyền.. Do đó, các cơ quan thi hành án dân sự cần chú ý thực hiện đúng quy định trong việc thanh toán tiền thi hành án cũng như thu nộp phí thi hành án dân sự.  
 Bên cạnh đó, trong thời gian tới, các cơ quan thi hành án dân sự cũng chú ý một số nội dung sau:
Thứ nhất, về thực hiện quy định của pháp luật về thanh toán tiền thi hành án trong giai đoạn chuyển tiếp:
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015. Do đó, đối với trường hợp cơ quan thi hành án đã thu được tiền thi hành án nhưng chưa thực hiện việc thanh toán cho người được thi hành án thì cơ quan thi hành án phải áp dụng khoản 20 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự để thực hiện việc thanh toán. Ví dụ: Cơ quan thi hành án thu được tiền thi hành án vào ngày 01/6/2015 nhưng đến ngày 01/7/2015, cơ quan thi hành án mới chỉ thông báo việc phân phối tiền thi hành án mà chưa thực hiện việc thanh toán cho người được thi hành án thì cơ quan thi hành án phải áp dụng quy định mới để thực hiện việc thanh toán tiền cho người được thi hành án.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015, khoản tiền đặt trước thuộc về Ngân sách nhà nước và được sử dụng để thanh toán lãi suất chậm thi hành án, tạm ứng chi phí bồi thường Nhà nước, bảo đảm tài chính để thi hành án và các chi phí cần thiết khác. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn cụ thể về thủ tục nộp ngân sách và định mức chi, nên các cơ quan thi hành án dân sự địa phương tạm thời quản lý và chờ hướng dẫn của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp.
- Việc xác định người được thi hành án tại thời điểm có quyết định cưỡng chế thi hành án cần căn cứ vào các bản án mà cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành.
Thứ hai, về thực hiện quy định của pháp luật về thu, nộp phí thi hành án trong giai đoạn chuyển tiếp:
Đối với trường hợp đang cơ quan thi hành án đã tiến hành thu phí thi hành án trước ngày 01/9/2015 thì việc thu phí sau ngày 01/9/2015 được thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 3823/BTP-TCTHADS ngày 19/10/2015 Bộ Tư pháp. Theo đó, nếu trước ngày 01/9/2015 cơ quan thi hành án dân sự đã tiến hành thu phí thi hành án tối đa, tức thu đủ 200 triệu đồng/01 đơn yêu cầu thi hành án, sau ngày 01/9/2015 cơ quan thi hành án thực hiện việc chi trả tiền thi hành án cho người được thi hành án thì không thực hiện việc thu phí thi hành án nữa.
Trường hợp trước ngày 01/9/2015, cơ quan thi hành án chưa thu đủ mức phí tối đa 200 triệu đồng/01 đơn yêu cầu thi hành án, sau ngày 01/9/2015 khi thực hiện việc chi tiền thi hành án cho người được thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ thu phí thi hành án trên số tiền thực nhận kể từ ngày 01/9/2015 theo các mức phí quy định tại Điều 46 Nghị định 62/2015/NĐ-CP.
Thứ ba, một số nội dung liên quan đến phí thi hành án đang được Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu trong quá trình xây dựng dự thảo Thông tư thay thế Thông tư liên tịch số 144/2010/TTLT-BTC-BTP hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và xử dụng phí thi hành án. Trong đó, dự thảo quy định về nguyên tắc: khi người được thi hành án nhận tiền làm nhiều lần thì số tiền phí thi hành án phải nộp cũng bằng số tiền phí thi hành phải nộp khi được nhận toàn bộ số tiền trong một lần.
Ví dụ: Ông A được thi hành án 18 tỷ đồng nhưng ông A được nhận số tiền này trong 06 lần (lần 1 nhận 3 tỷ; lần 2 nhận 4 tỷ; lần 3 nhận 4,5 tỷ; lần 4 nhận 4 tỷ; lần 5 nhận 1.5 tỷ; lần 6 nhận 1 tỷ), số phí thi hành án phải nộp của từng lần theo quy định tại Khoản 1 Điều 46 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được xác định như sau:
- Lần thứ nhất ông A nhận 3 tỷ thì số phí thi hành án lần 1 ông A phải nộp là: 3% X 3 tỷ đồng= 90.000.000 đồng
- Lần thứ hai ông A nhận tiếp 4 tỷ thì số phí thi hành án lần 2 ông A phải nộp là: 3% X 2 tỷ đồng+ 2% X 2 tỷ đồng = 100.000.000  đồng
- Lần thứ ba ông A nhận tiếp 4,5 tỷ đồng thì số phí thi hành án lần 3 ông A phải nộp là: 1% X 3 tỷ đồng + 0,5% X 1,5 tỷ đồng = 37.500.000 đồng
- Lần thứ tư ông A nhận tiếp 4 tỷ đồng thì số phí thi hành án lần 4 ông A phải nộp là: 3,5 tỷ đồng X 0,5 % + 0,01% X 500.000.000đ = 17.550.000 đồng
- Lần thứ năm ông A nhận tiếp 1,5 tỷ đồng thì số phí thi hành án lần 5 ông A phải nộp là: 0,01% X 1,5 tỷ đồng = 150.000 đ
- Lần thứ sáu ông A nhận tiếp 1 tỷ đồng thì số phí thi hành án lần 6 ông A phải nộp là: 0,01% X 1 tỷ đồng = 100.000 đ
Vậy tổng số tiền phí ông A phải nộp sau khi được thi hành án 18 tỷ đồng= tổng số phí 06 lần 245.300.000đ
Tổng số tiền phí phải nộp khi nhận tiền nhiều lần cũng bằng tổng số phí nhận 01 lần theo điểm đ khoản 1 Điều 46 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015. Cụ thể: 245.000.000đ+ 0,01%x (18 tỷ đồng- 15 tỷ đồng)= 245.300.000đ.
Ngoài ra, dự thảo cũng xây dựng theo hướng quy định cụ thể hơn về mức phí thi hành án đối với các trường hợp người được thi hành án đã có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án và tổ chức việc thi hành án thì người được thi hành án và người phải thi hành thỏa thuận với nhau về việc thi hành án. Ví dụ: trường hợp khi chưa hết thời gian tự nguyện thi hành án thì người được thi hành án không phải nộp phí thi hành án; trường hợp sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án, trước khi có quyết định cưỡng chế thi hành án và cơ quan thi hành án dân sự chưa áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án thì người được thi hành án phải nộp ¼ số phí thi hành án. Khi Thông tư liên tịch trên được liên ngành ký ban hành thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo hướng dẫn mới.
Trên đây là những nội dung mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến việc thanh toán tiền thi hành án và thu, nộp phí thi hành án./.
 

[1] Khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật này.”
 
[2]  Điều 10 Thông tư nàyquy định về việc chi trả tiền thi hành án; Điều 11Thông tư này quy định về việc nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu chung về Bắc Ninh

1. Vị trí địa lý Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP