15:09 EST Thứ ba, 13/11/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 32

Máy chủ tìm kiếm : 10

Khách viếng thăm : 22


Hôm nayHôm nay : 7217

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 89469

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9183460

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH VÀ THÔNG BÁO VỀ THI HÀNH ÁN

Chủ nhật - 13/12/2015 20:38
CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH VÀ THÔNG BÁO VỀ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH VÀ THÔNG BÁO VỀ THI HÀNH ÁN

Trong phạm vi tài liệu tập huấn này sẽ giúp cho công chức thực hiện công tác thi hành án dân sự cập nhật kiến thức và hiểu thống nhất các quy định mới của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung) và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định) trong việc ra quyết định thi hành án và thông báo về thi hành án để đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả.
Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Đó là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước.
Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2008, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015.  Để triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2015. Đây là một trong những dấu mốc có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự nói chung và các quy định về thủ tục thi hành án dân sự nói riêng.
Trong phạm vi tài liệu tập huấn này sẽ giúp cho công chức thực hiện công tác thi hành án dân sự cập nhật kiến thức và hiểu thống nhất các quy định mới của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung) và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định) trong việc ra quyết định thi hành án và thông báo về thi hành án để đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả.
I. RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN
Quyết định thi hành án là văn bản do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ban hành để thi hành một hoặc nhiều khoản của những bản án, quyết định dân sự được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, làm căn cứ cho Chấp hành viên lập hồ sơ và tổ chức việc thi hành án, nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia vào việc thi hành án.
Quyết định thi hành án được ban hành theo hai trường hợp tương ứng với hai loại việc thi hành án sau đây:
a) Quyết định thi hành án trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án
b) Quyết định thi hành án trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu.
1. Quy định của pháp luật về ra quyết định thi hành án trước khi có Luật sửa đổi, bổ sung
Việc ra quyết định thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự 2008 và Nghị định số 58/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 125/2013/NĐ-CP), quy định như sau:
1.1. Về ra quyết định thi hành án chủ động:
- Các trường hợp ra quyết định thi hành án chủ động: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định sau đây:
·        Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí;
·        Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;
·        Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;
·        Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;
·        Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Việc ra quyết định thi hành án chủ động được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định. Riêng đối với việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án chuyển giao hoặc do đương sự giao trực tiếp thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định.
Điều 28 Luật Thi hành án dân sự quy định về thời hạn và trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định của cơ quan đã ra bản án, quyết định như sau:
+ Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với:
·        Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
·        Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
·        Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;
·        Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
+ Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định đối với bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc.
+ Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án đã ra quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự ngay sau khi ra quyết định. 
+ Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự, Toà án phải gửi kèm theo bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan.
- Về cách thức ra quyết định thi hành án:
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một bản án, quyết định, trừ các trường hợp sau:
+ Trường hợp trong một bản án, quyết định có các khoản chủ động về trả lại tiền, tài sản thì đối với mỗi người được thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với các khoản đó.
+ Trường hợp trong một bản án, quyết định có nhiều người phải thi hành nhiều khoản chủ động khác nhau thì đối với mỗi người phải thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành án mà người đó phải thi hành.
Mặc dù đã có quy định cụ thể, nhưng thông qua các đoàn kiểm tra toàn diện, kiểm tra chuyên đề của Tổng cục Thi hành án dân sự tổ chức, thông qua các kết luận, kiến nghị, kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân các cấp trong quá trình kiểm sát việc thi hành án có một số cơ quan thi hành án dân sự vẫn ra quyết định hoàn trả tiền, tài sản vào chung quyết định thi hành án về án phí...
+ Trường hợp thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới.
Ngoài ra, việc ra quyết định thi hành án đối với nhiều người phải thực hiện nghĩa vụ liên đới còn được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, theo đó: “Trường hợp có nhiều người phải thực hiện nghĩa vụ liên đới thì nếu người được thi hành án yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ liên đới thi hành toàn bộ nghĩa vụ thì cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án đối với người đó”.
1.2. Về ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu:
 - Các trường hợp ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu:
 Ngoài các trường hợp pháp luật quy định phải ra quyết định thi hành án chủ động thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án.
Thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án.
- Về cách thức ra quyết định thi hành án:
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án cho mỗi đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp trong bản án, quyết định có một người phải thi hành án cho nhiều người được thi hành án và các đương sự nộp đơn yêu cầu thi hành án vào cùng thời điểm thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho nhiều đơn yêu cầu.
Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể theo bản án, quyết định, nhưng chỉ có một số người có đơn yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với những người đã có đơn yêu cầu, đồng thời thông báo cho những người được thi hành khác theo bản án, quyết định đó biết để làm đơn yêu cầu, thi hành án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Hết thời hạn trên, nếu người được thông báo không yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên tổ chức giao tài sản cho người đã có đơn yêu cầu thi hành án để quản lý. Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án đối với tài sản đó được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
1.3. Về việc phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành án:
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó.
Do pháp luật chưa có quy định cụ thể về hình thức phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án: bằng quyết định hay bằng văn bản phân công hay chỉ ghi vào sổ thụ lý nên để thống nhất việc áp dụng, Tổng cục Thi hành án dân sự đã có Công văn số 1209 /TCTHADS-NV1 ngày 27/5/2013 về giải đáp nghiệp vụ thi hành án có đưa ra phương án áp dụng thống nhất:
Điều 36 Luật Thi hành án dân sự quy định, sau khi ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó. Thi hành án dân sự là công việc phức tạp, tác động trực tiếp tới tài sản, quyền tài sản, quyền nhân thân phi tài sản... hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan tới việc thi hành án. Trong lĩnh vực tư pháp, các chức danh tư pháp phải chịu trách nhiệm cá nhân về mọi quyết định của mình khi thực thi nhiệm vụ. Do tính chất quan trọng như vậy, lại dễ xảy ra sai phạm nên cần phải có sự xác định rõ ràng quyền và trách nhiệm của từng cá nhân trong khi tổ chức thi hành án. Hơn nữa, việc tổ chức thi hành án còn phải được thực hiện công khai để các đương sự biết, liên hệ giải quyết công việc, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát. Vì vậy, khi phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nên thống nhất thực hiện dưới hình thức ra quyết định bằng văn bản. Hiện nay, theo mẫu Quyết định thi hành án đang được các cơ quan thi hành án dân sự thống nhất sử dụng theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BTP ngày 30/5/2011 của Bộ Tư pháp ban hành và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng các loại biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự, tại Điều 2 của Quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nên ghi rõ họ tên Chấp hành viên cụ thể có trách nhiệm tổ chức thi hành án (Ví dụ: Chấp hành viên Nguyễn Văn A có trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định này). Khi có sự thay đổi Chấp hành viên thì ra quyết định thay đổi Chấp hành viên tổ chức thi hành án, thông báo cho đương sự và các cơ quan hữu quan biết.”
1.4. Về việc thi hành án quá hạn:
Trường hợp sau khi trừ đi thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án; trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án. Trường hợp đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013.
Trường hợp đã ra quyết định thi hành án mà thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án đã ban hành; người có lỗi trong việc ra quyết định thi hành án đối với bản án, quyết định đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
2. Những quy định mới và những vấn đề cần lưu ý của pháp luật trong việc ra quyết định thi hành án theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm2008
2.1. Về việc chủ động ra quyết định thi hành án
Việc chủ động ra quyết định thi hành án được quy định tại Điều 36 Luật thi hành án dân sự và Điều 6 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Ngoài việc chỉnh lý về mặt kỹ thuật so với các quy định của Luật Thi hành án dân sự 2008 và Nghị định số 58/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 125/2013/NĐ-CP) thì có một số quy định mới được bổ sung với những nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, đã mở rộng, bổ sung một số loại việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án để bảo đảm lợi ích Nhà nước.
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2008 thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định sau đây:
- Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí;
- Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;
- Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;
- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
So với Luật Thi hành án dân sự 2008, Luật sửa đổi, bổ sung đã mở rộng, bổ sung một số loại việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án để bảo đảm lợi ích Nhà nước, cụ thể:
+ Lệ phí Tòa án (đây là một khoản thu cho ngân sách nhà nước tương tự như án phí nhưng không được pháp luật quy định, gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước).
+ Các khoản thu khác cho Nhà nước (ngoài khoản tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản như Luật Thi hành án dân sự năm 2008).
Cụ thể hóa điều này, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP  đã quy định các khoản thu khác cho Nhà thuộc diện chủ động ra quyết định thi hành án được xác định bao gồm: khoản truy thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà nước và các khoản bồi thường cho Nhà nước trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; các khoản thu khác nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước.
Đây là quy định mới của Luật Thi hành án dân sự nhằm đảm bảo những khoản thu nộp ngân sách nhà nước được thu hồi kịp thời, tránh thất thoát cho ngân sách nhà nước. Điển hình là một số vụ việc tham nhũng, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế xảy ra những năm gần đây (như vụ việc của Vinashin, Vinaline..), sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng một số cơ quan hoặc tổ chức quản lý tài sản của nhà nước chưa chủ động, “đùn đẩy trách nhiệm” cho nhau, dẫn đến việc không kịp thời có đơn yêu cầu thi hành đối với khoản thu cho ngân sách nhà nước, gây thất thoát, lãng phí cho ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, thông thường đây là những khoản thu có giá trị rất lớn, do đó nếu quy định trường hợp này ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu như trước kia, ngoài việc không kịp thời thu hồi tiền cho ngân sách nhà nước thì còn phát sinh tiền phí thi hành án đối với các khoản thu này. Đồng thời, việc thu phí đối với các trường hợp này đôi khi gặp nhiều khó khăn do không có cơ chế giải quyết.
Ví dụ: Theo Công văn số 3246/TCT-PC ngày 02/10/2013 của Tổng cục Thuế về một số nội dung liên quan đến việc nộp phí thi hành án dân sự, theo các tài liệu do Tổng cục Thuế cung cấp thì Bản án số 844/HSPT ngày 19/11/1009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên: “Tổng công ty thủy sản Việt Nam phải hoàn trả lại cho Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh 3.086.580.046 đồng, được trừ 537.885.946 đồng khắc phục thì Tổng công ty thủy sản Việt Nam còn phải hoàn trả cho Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh là 2.548.694.100 đồng”. Tổng cục Thi hành án dân sự đã có văn bản trả lời với nội dung: Số tiền trên, về bản chất là số tiền hoàn trả tiền thuế giá trị gia tăng mà Tổng công ty thủy sản Việt Nam đã được nhận tổng cộng cho 21 container do Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh bị lừa dối nên đã chi trả cho Tổng công ty thủy sản Việt Nam. Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh chỉ là cơ quan đại diện cho nhà nước đứng ra nhận số tiền trên và phải nộp vào ngân sách nhà nước mà không phải là người được hưởng lợi trực tiếp từ số tiền được thi hành án. Do đó, trong trường hợp số tiền trên Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh thu và nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước thì không phải chịu phí thi hành án dân sự.
Việc bổ sung quy định trên đã tháo gỡ được nhiều khó khăn, vướng mắc không những cho cơ quan thi hành án dân sự mà còn cho các cơ quan nhà nước, đại diện cho nhà nước nhận các khoản tiền thu đó.
+ Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Theo quy định tại Điều 17 Luật phá sản thì bao gồm quyết định: Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định tuyên bố giao dịch vô hiệu, quyết định tuyên bố phá sản và các quyết định khác theo quy định của Luật này (khoản 1); Quyết định của Tòa án về phân chia tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 5)
Thứ hai, quy định rõ hơn thời hạn ra quyết định thi hành án đối với một số trường hợp cụ thể:
+ Đối với phần bản án, quyết định về hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước, thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định.
+ Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời  thì ra ngay quyết định thi hành án.
+ Đối với quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Thứ ba, bổ sung quy định về nội dung của quyết định thi hành án:
Việc bổ sung nội dung cụ thể của quyết định thi hành án được áp dụng cho cả các trường hợp bao gồm cả quyết định chủ động và theo yêu cầu. Cụ thể: quyết định thi hành án phải ghi rõ họ tên, chức vụ của người ra quyết định; số, ngày, tháng, năm, tên cơ quan, tổ chức ban hành bản án, quyết định; tên, địa chỉ của người phải thi hành án, người được thi hành; phần nghĩa vụ phải thi hành án; thời hạn tự nguyện thi hành án.
Nội dung này trước đây chưa được quy định trong Luật mà chỉ quy định tại biểu mẫu được ban hành kèm theo Thông tư 09/2011/TT-BTP ngày 30/05/2011 về việc ban hành và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng các loại biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự. Việc pháp điển quy định này vào Luật Thi hành án dân sự để xác định trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trong việc xác định chính xác những nội dung của quyết định thi hành án.
2.2. Về việc ra quyết định thi hành án theo yêu cầu
Việc ra quyết định thi hành án theo yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự và Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, với những nội dung mới như sau:
Thứ nhất, bổ sung trường hợp “nhiều người được nhận chung một khoản tiền, tài sản” theo bản án, quyết định, nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án:
Trường hợp nhiều người nhận chung một khoản tiền cũng được xử lý giống như trường hợp “nhiều người được nhận chung một tài sản cụ thể”. Theo đó, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với những người đã có yêu cầu, đồng thời thông báo cho những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó biết để yêu cầu thi hành án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn trên, nếu người được thông báo không yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên tổ chức giao tài sản, khoản tiền đó cho người đã có yêu cầu hoặc người đại diện của những người đã có yêu cầu để quản lý. Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án đối với tài sản đó được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, bỏ quy địnhra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án”.
Theo đó, trong trường hợp sau khi trừ đi thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thi hành án (không cần ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án). Trường hợp đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự từ chối nhận yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điểm c Khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự.
Thứ ba, đã bổ sung quy định giải quyết trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Tại Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP nhằm tạo điều kiện cho người phải thi hành án là phạm nhân có thể được xem xét giảm chấp hành hình phạt, xem xét đặc xá theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án mà chỉ ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp, đồng thời lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do phạm nhân là người phải thi hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận.Trường hợp người được thi hành án không đến nhận tiền, tài sản khi đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày được thông báo hợp lệ thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước, sau khi khấu trừ tiền, tài sản mà họ phải thi hành theo quyết định thi hành án khác, nếu có.
Thứ tư, bổ sung căn cứ cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án:
Ngoài các căn cứ từ chối yêu cầu thi hành án đã được quy định tại Khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung căn cứ cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án trong trường hợp “bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này”. Cụ thể hóa nội dung này, Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP xác định đây là trường hợp “bản án, quyết định không xác định cụ thể người phải thi hành án và nghĩa vụ phải thi hành”.
Ví dụ: Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 165/2011/KDTM-ST ngày 15/9/2011 của Tòa phúc thẩm -Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định: “ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn: Hủy Quyết định  Đại hội đồng cổ đông thường niên đã được thông qua ngày 15/7/2010 của Công ty cổ phần Cung ứng tàu biển H”. Đồng thời, Bản án cũng tuyên Công ty phải chịu 200.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, xác định Công ty đã nộp 200.000đ tại Cục Thi hành án dân sự thành phố H theo Biên lai thu số AA/2010/2009 ngày 08/4/2011.
Xem xét nội dung bản án thì thấy rằng: Đại hội đồng cổ đông thường niên ngày 15/7/2010 của Công ty đã thông qua Nghị quyết về việc tổng kết công tác sản xuất kinh doanh năm 2009 và phương hướng, chỉ tiêu KT-XH năm 2010; đã bầu Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2015 gồm các ông, bà: Đặng Thị Hồng H, Nguyễn Thị X, Ngô Văn T, Vũ Xuân, bà Nguyễn Thị Tuyết; đã bầu bổ sung ông Nguyễn Văn T vào Ban kiểm soát và thông qua một số các nội dung khác liên quan đến hoạt động của Công ty.
Như vậy, trong trường hợp cụ thể này, Bản án chỉ tuyên chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông bất thường. Bản án không tuyên cá nhân, tổ chức nào phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc thực hiện một công việc cụ thể nào như bàn giao con dấu, tài sản, sổ sách, cấm giao dịch….
Theo quy định tại  điểm a khoản 5 Điều 31 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2008 và khoản 4 Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì trường hợp này cơ quan Thi hành án dân sự sẽ từ chối yêu cầu thi hành án.
3. Một số vấn đề cần lưu ý trong việc ban hành quyết định thi hành án
Thẩm quyền ra quyết định thi hành án là của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự. Để ra quyết định chính xác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Xác định chính xác căn cứ ban hành quyết định thi hành án:
Ngoài việc căn cứ khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 35, khoản 1 Điều 36 và khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, quyết định thi hành án phải được căn cứ vào đúng bản án, quyết định mà đương sự yêu cầu, trong đó xác định cụ thể số, ngày, tháng, năm và tên Tòa án hoặc Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc Trọng tài thương mại ra bản án, quyết định đó.
- Xác định và ghi chính xác các nội dung cơ bản của bản án, quyết định được đưa ra thi hành:
Thông tư số 09/2011/TT-BTP ngày 30/05/2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng các loại biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự đã xác định đầy đủ các nội dung của quyết định thi hành án. Tuy nhiên những phần trống của biểu mẫu đòi hỏi phải xác định đúng, đầy đủ, chính xác nội dung ghi trong quyết định. Cơ quan Thi hành án dân sự phải thận trọng trong việc xác định nội dung, phải ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ của đương sự. Phần “các khoản phải thi hành” phải ghi chính xác nội dung và đúng phạm vi, không được làm sai lệch nội dung quyết định của Tòa án, tránh tình trạng ra quyết định thừa hoặc thiếu các nội dung, các khoản phải thi hành án. Nếu là số tiền thi hành án thì phải ghi cả bằng số và bằng chữ.
Sau khi đã dự thảo quyết định thi hành án dân sự, người có thẩm quyền ban hành quyết định phải rà soát và ký quyết định để phát hành. Trước khi ký quyết định thì khâu rà soát dự thảo cực kỳ quan trọng để hạn chế sai sót.
Mặc dù các vấn đề trên tưởng chừng là một vấn đề rất đơn giản nhưng vẫn có một số cơ quan thi hành án dân sự do chủ quan, do lỗi kỹ thuật, đánh máy ...dẫn đến có sai sót. Đây là những thiếu sót “rất không đáng có” được chỉ ra trong quá trình kiểm tra, kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự. Do đó, các cơ quan Thi hành án dân sự cần lưu ý, tránh mắc phải.
Ví dụ 1: Quyết định thi hành án số 332/QĐ-TĐYC.THA ngày 22/5/2008 của Thi hành án dân sự thành phố P tỉnh G có nội dung:
“Điều 1. Thi hành án đối với: Phạm Duy Tiến- Địa chỉ: 22B Lê Lai, thành phố P, tỉnh G.
Điều 2. Các khoản phải thi hành:
-         Trả nợ số tiền là 2.045.966.199 đồng (Hai tỷ bốn mươi lăm triệu chính trăm sáu mươi ngàn một trăm chín mươi chín đống).
-         Và lãi suất chậm thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Cho người được thi hành án: Công ty cổ phần kinh doanh và phát triển miền núi G- địa chỉ 22B Lê Lai, thành phố P, tỉnh G...”
Đối chiếu với bản án cho thấy tại quyết định trên đã ghi nhầm địa chỉ của người phải thi hành án, ghi trùng với địa chỉ của người được thi hành án (mặc dù người phải thi hành án theo bản án có địa chỉ khác).
Ví dụ 2: Kiến nghị số 217/KSTHADS-KN ngày 07/7/2015 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H về trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành án dân sự tại Chi cục THADS quận A, thành phố H đã chỉ ra trong 05/58 hồ sơ thi hành án xong, cơ quan Thi hành án dân sự đã ban hành quyết định thi hành án áp dụng căn cứ không đúng quy định.
Bên cạnh đó, trong một số hồ sơ việc ra quyết định thi hành án còn chậm, thiếu nội dung theo án tuyên, chưa đúng quyết định của bản án, chưa đúng với đơn yêu cầu thi hành án, nội dung quyết định thi hành án chưa rõ ràng, không đóng dấu công văn đến vào đơn yêu cầu và bản án, quyết định của Tòa án, chưa đảm bảo về thời gian theo quy định. Do đó, các cơ quan thi hành án dân sự cần rất chú ý các nội dung này để tránh những thiếu sót không đáng có trong việc ra quyết định thi hành án.
Ví dụ 3: có một số cơ quan thi hành án dân sự đã căn cứ vào trích lục bản án hoặc bản án được phô tô để ra quyết định thi hành án là không phù hợp.
- Đảm bảo thời hạn ra quyết định thi hành án
Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 về công tác phòng , chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công thi hành án năm 2013 (NQ37/2012/HQ13) của Quốc hội đã đặt trong các chỉ tiêu đối với hoạt động thi hành án dân sự là “Ra quyết định thi hành án đúng thời hạn đối với 100% các bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực theo đúng quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, qua thực tế kiểm tra, kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự, mặc dù có chuyển biến hơn so với trước đây nhưng vẫn còn tình trạng chậm trễ ra quyết định thi hành án, chưa bảo đảm đúng yêu cầu của Nghị quyết. Vì vậy, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương cần chú ý về thời hạn ra quyết định thi hành án, đảm bảo các bản án, quyết định sớm được đưa ra thi hành trên thực tế theo đúng quy định của pháp luật.
II. THÔNG BÁO VỀ THI HÀNH ÁN
 Thông báo về thi hành án là việc người có thẩm quyền thực hiện việc chuyển tải giấy tờ chứa đựng thông tin về thi hành án cho người được thông báo theo trình tự, thủ tục nhất định, nhằm bảo đảm cho việc thi hành án đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia vào việc thi hành án. Đây là một hoạt động diễn ra thường xuyên, thể hiện sự dân chủ với dân trong hoạt động của cơ quan thi hành án, để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” hoạt động của Chấp hành viên, công chức thi hành án; đồng thời bảo đảm quyền được thông tin, quyền được biết và tham gia vào việc thi hành án của các đương sự mà pháp luật đã quy định. Việc thông báo cho các đương sự biết về thi hành án được thực hiện đúng quy định sẽ hạn chế được những khiếu nại, tố cáo về thi hành án của đương sự. Do đó, việc thông báo trong thi hành án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng. Không những giúp đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong hoạt động thi hành án dân sự mà còn là cơ sở để áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo…. Nhận thức đầy đủ vai trò, ý nghĩa của hoạt động thông báo thi hành án, bên cạnh đó nắm vững, hiểu rõ cũng như áp dụng đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thông báo thi hành án sẽ giúp chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự tránh được những vi phạm làm phát sinh khiếu nại, tố cáo khi đương sự, người có quyền lợi liên quan cho rằng mình không nắm được nội dung của các văn bản, giấy tờ do cơ quan Thi hành án dân sự phát hành.
1. Quy định của pháp luật về thông báo về thi hành án trước khi có Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật Thi hành án dân sự
Thông báo về thi hành án được thực hiện bằng một hoặc nhiều hình thức nhất định. Pháp luật quy định các hình thức thông báo cho các đương sự về các quyết định thi hành án theo hướng rộng rãi, công khai nhưng giản tiện, tiết kiệm, đồng thời quy định nghĩa vụ của những chủ thể trong việc thực hiện thông báo. Thông báo thi hành án được coi là một thủ tục vô cùng quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự; là một nghĩa vụ, trách nhiệm quan trọng của Chấp hành viên. Nghĩa vụ thông báo về thi hành án xác định trách nhiệm của người thực hiện việc thông báo, người được thông báo. Tuỳ theo tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của người có nghĩa vụ thực hiện thông báo, nhận thông báo gây ra mà phải gánh chịu chế tài do pháp luật quy định.
Việc thông báo về thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 39, 40, 41, 42, 43 Luật thi hành án dân sự, theo đó quy định trách nhiệm thông báo về thi hành án; thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân; thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức; niêm yết công khai; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể:
1.1. Các văn bản được thông báo
Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó. Theo quy định trên thì các văn bản được thông báo bao gồm:
- Các quyết định về thi hành án được thể hiện bằng văn bản, như: Quyết định thi hành án, quyết định hoãn thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án, quyết định đình chỉ thi hành án, quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án... (trong thi hành án dân sự có 56 Quyết định về thi hành án được ban hành tại Phụ lục 2, Phụ lục 3 Thông tư  số 09/2011/TT-BTP ngày 30/5/2011 của Bộ Tư pháp).
- Giấy báo về thi hành án được Bộ Tư pháp ban hành theo mẫu thống nhất để thông báo cho các đương sự, người có liên quan đến việc thi hành án biết những nội dung thông tin nhất định về thi hành án để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ. Giấy báo về thi hành án do Chấp hành viên ban hành để báo đương sự đến giải quyết việc thi hành án.
- Giấy triệu tập về thi hành án do Chấp hành viên ban hành để triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án đến để giải quyết việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại về thi hành án. Căn cứ để ban hành giấy triệu tập về thi hành án dựa trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên quy định tại Khoản 3 Điều 20 Luật Thi hành án dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên.
- Văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án như các thông báo về thi hành án (về việc từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án, thụ lý đơn khiếu nại, tố cáo thi hành án, kết quả giải quyết tố cáo, nhận ủy thác, cưỡng chế thi hành án, bán đấu giá tài sản, bán tài sản, bàn giao tài sản, nhận tiền, tài sản, kê biên tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng...); các biên bản liên quan đến việc thi hành án...
Pháp luật yêu cầu cơ quan thi hành án không chỉ thông báo đến người được thi hành án, người phải thi hành án, mà còn phải thông báo đến người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án để trên cơ sở đó, người này có thể biết được các quyền và nghĩa vụ của mình và có những “động thái” để bảo vệ quyền đó của mình.
1.2. Thời hạn thực hiện việc thông báo
Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
Trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án thì việc thông báo cần được thực hiện ngay sau khi ra văn bản.
1.3. Hình thức thông báo
1.3.1. Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
Đây là hình thức thông báo bắt buộc phải thực hiện trước khi thực hiện việc thông báo đối với tất cả các trường hợp.
Thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân, cho cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 40, 41 Luật Thi hành án dân sự và Điều 3 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC. Việc thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có một số vấn đề cần lưu ý như sau:
a. Việc giao văn bản thông báo được thực hiện trực tiếp:
- Người được thông báo có mặt
 Khi đó, sẽ có 2 trường hợp:
Thứ nhất, người được thi hành án trực tiếp nhận thông báo. Trường hợp này là đơn giản và thuận tiện nhất. Khi đó, văn bản thông báo sẽ được giao trực tiếp cho người đó và Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án yêu cầu người đó ký nhận hoặc điểm chỉ. Tuỳ từng trường hợp cụ thể, người thông báo có thể lập biên bản giao nhận thông báo (đối với các quyết định về thi hành án) hoặc ký nhận vào phần cuống của thông báo (đối với giấy báo, giấy triệu tập), nhưng biên bản hoặc cuống của thông báo phải thể hiện việc giao nhận thông báo về thi hành án và phải lưu vào hồ sơ thi hành án.
Thứ hai, người được thi hành án không nhận thông báo
Nếu người được nhận thông báo từ chối hoặc cố tình không nhận thông báo thì người thông báo lập biên bản về việc từ chối và nêu rõ lý do có xác nhận của người làm chứng. Người được thông báo được coi là đã được thông báo hợp lệ. Như vậy, sau khi tuân thủ đầy đủ thủ tục như quy định, việc thông báo cũng đã được coi là hợp lệ và không cần phải áp dụng bất kỳ hình thức thông báo nào khác.
- Người được thông báo vắng mặt
Trường hợp này, văn bản thông báo được giao cho một trong số những người có đủ điều kiện:
(1) là người thân thích của người được thông báo, bao gồm vợ, chồng, con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị, em của đương sự, của vợ hoặc chồng của đương sự;
(2) có đủ năng lực hành vi dân sự;
       (3) cùng cư trú với người đó.
Khi đó sẽ có 2 trường hợp:
Thứ nhất, nếu những người thân thích đó nhận văn bản thông báo thì việc giao thông báo phải lập thành biên bản ghi rõ họ tên, chức vụ, địa chỉ của người nhận thay; ngày, giờ nhận thay; quan hệ giữa họ với người được thông báo; cam kết giao tận tay hoặc thông báo ngay cho người được thông báo. Biên bản có chữ ký của người nhận và người giao thông báo. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ.
Thứ  hai, nếu người được thông báo không có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo hoặc người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện việc niêm yết công khai theo quy định.
Đối với trường hợp vắng mặt và giao văn bản cho người thân nhận thay là nhằm chỉ trường hợp tại thời điểm thực hiện thông báo thì người được thông báo không có mặt tại địa chỉ đó, việc vắng mặt chỉ trong thời gian ngắn. Đến địa chỉ đó, không gặp được người được thông báo mà gặp được người khác thuộc diện người thân thích có năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người được thông báo và họ đồng ý nhận thì việc thông báo trực tiếp được thực hiện.
 Nếu tại địa điểm và thời điểm đó mà không gặp được người nhận thay do người được thông báo không có người thân thích, hoặc có người thân thích nhưng không đáp ứng đủ các yêu cầu cần thiết (có năng lực hành vi, cùng cư trú) hoặc có người thân thích nhưng người đó từ chối nhận thì việc thông báo trực tiếp kết thúc và được chuyển sang hình thức khác, đó là niêm yết công khai. 
Trường hợp người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về được hiểu là khi đã xác định được địa chỉ của đương sự, nhưng người đó không có mặt tại địa chỉ đó và điều quan trọng là vì lý do nào đó (đi làm ăn, công tác...) thông tin về việc lúc nào người đó sẽ quay trở về địa chỉ lại không rõ. Đây không phải là việc vắng mặt ngày một ngày hai mà là việc vắng mặt tương đối dài ngày và không xác định. Trường hợp này, cơ quan thi hành án không xác định được thời gian đương sự sẽ quay trở lại có mặt tại địa điểm đó để thực hiện việc thông báo trực tiếp cho họ, khi đó, việc thông báo sẽ được thực hiện dưới hình thức niêm yết công khai.
b.Việc giao văn bản thông báo được thực hiện gián tiếp thông qua tổ chức, cá nhân khác:
- Trường hợp do đường sá xa xôi, giao thông không thuận tiện, người được thông báo có nhiều địa chỉ liên lạc, nơi ở không cố định, thường vắng mặt ở nhà vào giờ hành chính, đương sự đang bị giam, tạm giam và các trường hợp khác mà việc thông báo trực tiếp có khó khăn thì việc thông báo được thực hiện qua đường bưu điện bằng thư bảo đảm. Trường hợp khó khăn trong việc giao trực tiếp thông báo được hiểu là trường hợp khó khăn trong việc gặp gỡ trực tiếp người được thông báo để giao thông báo, như đường sá xa xôi từ trụ sở cơ quan thi hành án đến nơi người được nhận thông báo đang cư trú hoặc cơ quan thi hành án cùng một thời điểm có nhiều thông báo về thi hành án phải thông báo cho nhiều người được thông báo mà nếu giao thông báo trực tiếp bằng hình thức giao nhận thì không đủ người để thực hiện. Trường hợp người được thông báo cố tình không ký nhận thông báo thì cũng được xem là có khó khăn trong việc giao trực tiếp thông báo về thi hành án.
- Trường hợp thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác theo yêu cầu của người được nhận thông báo thì việc thông báo trực tiếp có thể được thực hiện theo hình thức đó nếu không gây trở ngại cho cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp này, Chấp hành viên phải lưu vào hồ sơ thi hành án văn bản thể hiện yêu cầu, văn bản cần thông báo và văn bản thể hiện kết quả thông báo như bức điện tín, thư điện tử, báo cáo bản fax đã được gửi.
- Trường hợp thực hiện việc thông báo đối với người đang bị giam, tạm giam được thực hiện theo địa chỉ nơi người đó đang bị giam, tạm giam. Giám thị trại giam, tạm giam có trách nhiệm giao văn bản thông báo cho người được thông báo.
- Trường hợp có uỷ quyền thì việc thông báo các văn bản về thi hành án được thực hiện đối với người được uỷ quyền.
- Đối với người được thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận. Chấp hành viên, cán bộ làm công tác thi hành án dân sự cần chú ý trong việc xác định ai là người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật (như Luật Doanh nghiệp, quy định của pháp luật về cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước…). Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn bản thông báo thì những người này phải ký nhận văn bản thông báo. Ngày ký nhận là ngày được thông báo hợp lệ.
Trường hợp gửi qua đường bưu điện, hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện việc thông báo trực tiếp thì việc thông báo trực tiếp do bưu tá; người được cơ quan thi hành án ủy quyền; tổ trưởng tổ dân phố; trưởng thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc; Ủy ban nhân dân, công an cấp xã; Thủ trưởng cơ quan, đơn vị; Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được thông báo có địa chỉ, cư trú, công tác, chấp hành hình phạt tù giao văn bản cần thông báo cho người được thông báo.
- Trường hợp giao thông báo qua người khác thì người thông báo phải lập biên bản ghi rõ họ tên, chức vụ, địa chỉ của người nhận thay; ngày, giờ nhận thay; quan hệ giữa họ với người được thông báo (nếu có); cam kết giao tận tay hoặc thông báo ngay cho người được thông báo. Biên bản có chữ ký của người nhận và người giao thông báo.
Để đảm bảo quyền của người được thông báo, pháp luật cũng quy định đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thay đổi về địa chỉ liên lạc thì phải kịp thời thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án biết. Trường hợp này, việc thông báo được thực hiện theo địa chỉ mới của người được thông báo. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thông báo địa chỉ mới thì việc thông báo theo địa chỉ được xác định trước đó được coi là hợp lệ.
1.3.2. Niêm yết công khai
Niêm yết thông báo về thi hành án là việc dán (treo) văn bản thông báo về thi hành án lên một vị trí nhất định để thông báo cho công chúng (và cho người được thông báo) biết về nội dung văn bản thông báo.
 Việc niêm yết công khai được thực hiện theo quy định tại Điều 42 Luật Thi hành án dân sự và Khoản 7 Điều 3 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC. Theo đó:
a. Điều kiện thực hiện việc niêm yết công khai:
Việc niêm yết công khai văn bản thông báo chỉ được thực hiện khi không rõ địa chỉ của người được thông báo hoặc không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, cụ thể:
+ Không rõ địa chỉ của người được thông báo. Thông thường, địa chỉ của người được thông báo được xác định từ nhiều nguồn khác nhau. Trước hết là nguồn thông tin có được từ việc phân tích bản án, quyết định của Toà án. Thông thường bản án, quyết định của Toà án sau khi xác định danh tính của đương sự thì cũng xác định địa chỉ cụ thể của đương sự. Địa chỉ của đương sự nhiều khi cũng được xác định bằng cách chính người phải thi hành án, người được thi hành án hoặc người khác cung cấp. Địa chỉ của đương sự còn được xác định do kết quả xác minh của Chấp hành viên mang lại. Tuy nhiên cũng có những bản án, quyết định, nhất là bản án, quyết định xét xử các hành vi phạm tội hình sự có những trường hợp không xác định được địa chỉ chính xác của đương sự, thậm chí có bản án xác định đương sự thuộc diện “lang thang”. Mặt khác, có những bản án, quyết định xác định được địa chỉ cụ thể của đương sự ở thời điểm xét xử nhưng kết quả xác minh nhiều khi cho thấy địa chỉ được xác định đó với thời gian đã có sự thay đổi (ví dụ như đương sự thay đổi nơi làm việc, thay đổi nơi cư trú nên đã có địa chỉ mới); cũng có trường hợp địa chỉ đã được bản án, quyết định của Toà án xác định ngay tại thời điểm xét xử đã không tồn tại trong thực tế (tại địa phương đó hoàn toàn không có địa chỉ như vậy), hoặc có tồn tại trong thực tế nhưng không phải là địa chỉ của đương sự đó (mà là của người khác).  Như vậy, lý do của việc phải thực hiện thông báo bằng hình thức niêm yết trong trường hợp này là do không xác định được địa chỉ của đương sự hoặc không xác định được đương sự tại địa chỉ đó để thực hiện thông báo trực tiếp.
+ Không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp như: người được thông báo không có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú; người được thông báo có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo; người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về.
+ Pháp luật có quy định khác. Điều này được hiểu là ngoài các trường hợp nêu trên, nếu pháp luật có quy định cần phải thực hiện việc niêm yết công khai thì việc thông báo cho dù đã thực hiện đầy đủ, hợp lệ bằng hình thức thông báo trực tiếp thì vẫn còn phải thực hiện thêm việc niêm yết công khai. Ví dụ: khi bán đấu giá tài sản thì việc niêm yết thông tin để bán đấu giá tài sản là thủ tục bắt buộc theo quy định tại Nghị định 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản…
Khi thuộc một trong ba trường hợp trên đây thì việc thông báo được thực hiện theo hình thức niêm yết công khai.
b. Người thực hiện việc niêm yết và địa điểm niêm yết:
Cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp niêm yết hoặc ủy quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo hoặc cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thực hiện việc niêm yết. Cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật có thể là Thừa phát lại (người thực hiện nhiệm vụ công việc tống đạt thay cơ quan thi hành án dân sự), là tổ chức bán đấu giá tài sản…Như vậy, văn bản thông báo cần được dán (treo) tại ba địa điểm:
+ Trụ sở cơ quan thi hành án dân sự. Trụ sở cơ quan thi hành án dân sự là nơi cơ quan có thẩm quyền đang tổ chức thi hành vụ việc. Hàng ngày, người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án đến trụ sở cơ quan thi hành án để giải quyết việc thi hành án. Do đó, thông tin về văn bản thông báo về thi hành án được niêm yết tại trụ sở cũng là một cơ hội công khai với công chúng về hoạt động thi hành án dân sự nói chung và văn bản thông báo đó nói riêng.  
+ Trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo. Việc niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã là trụ sở của cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở, là nơi gần dân nhất, hàng ngày giải quyết các công việc của công dân sở tại. Do đó, nếu không thông báo được cho người được thông báo về thi hành án thì việc niêm yết tại trụ sở cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là cần thiết.
+ Nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo.
Việc xác định niêm yết tại “nơi cư trú” hay tại “nơi cư trú cuối cùng” khi thực hiện việc niêm yết tại Ủy ban hoặc tại nơi cư trú chưa có quy định hướng dẫn cụ thể. Do đó, tùy từng trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có thể cân nhắc để áp dụng cho phù hợp nhất. Ví dụ:
Đối với trường hợp người được thông báo không có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc người được thông báo có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo, người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì xác định nơi niêm yết tại nơi người được thông báo cư trú.
Trong trường hợp không xác định được địa chỉ của người được thông báo thì việc xác định niêm yết tùy thuộc vào kết quả xác định địa chỉ của đương sự. Nếu bản án, quyết định, nhất là bản án, quyết định xét xử các hành vi phạm tội hình sự không xác định được địa chỉ chính xác của đương sự hoặc xác định đương sự thuộc diện “lang thang” thì cần căn cứ vào các thông tin có được để xác định nên niêm yết tại nơi cư trú hay tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự.  Việc niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã và tại nơi cư trú, cư trú cuối cùng của người được thông báo về cơ bản là trùng nhau, tức cùng trên một địa bàn cấp xã.   
Việc xác định nơi cư trú được xác định theo quy định tại Điều 12 Luật Cư trú, theo đó: Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Nơi thường trú là nơi người đó sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi người đó sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú. Trường hợp không xác định được nơi thường trú, tạm trú thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống.
+ Đối với trường hợp niêm yết để bán đấu giá tài sản: nơi niêm yết được thực hiện theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản, theo đó: Tổ chức bán đấu giá tài sản phải niêm yết việc bán đấu giá tài sản là động sản tại ba nơi: (1) nơi bán đấu giá, (2) nơi trưng bày tài sản và (3) nơi đặt trụ sở của tổ chức bán đấu giá tài sản chậm nhất là bảy ngày trước khi tiến hành bán đấu giá, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đối với bất động sản, tổ chức bán đấu giá tài sản phải niêm yết việc bán đấu giá tài sản tại ba nơi: (1) nơi bán đấu giá, (2) nơi có bất động sản bán đấu giá và (3) Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có bất động sản bán đấu giá chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày mở cuộc bán đấu giá, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.Đối với tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức, thời hạn niêm yết việc bán đấu giá tài sản có thể được rút ngắn theo thỏa thuận của các bên.
c. Lập biên bản về việc niêm yết công khai
Khi thực hiện niêm yết công khai, người thực hiện niêm yết phải lập biên bản về việc niêm yết công khai. Biên bản phải ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết; số, ngày, tháng, năm, tên của văn bản thông báo; có chữ ký của người chứng kiến. Pháp luật đòi hỏi người thực hiện niêm yết cần lập biên bản với những nội dung chính như trên là để có cơ sở khẳng định việc thông báo về thi hành án đã được thực hiện và thực hiện chính xác, biên bản được lưu vào hồ sơ thi hành án.
- Thời gian văn bản thông báo được niêm yết, cách thức xác định thời điểm việc thông báo bằng hình thức niêm yết được coi là hợp lệ
Thời gian niêm yết công khai văn bản thông báo là 10 ngày, kể từ ngày niêm yết. Ngày niêm yết là ngày được thông báo hợp lệ. Như vậy, kể từ thời điểm cơ quan thi hành án trực tiếp hoặc uỷ quyền cho cá nhân, tổ chức khác thực hiện việc niêm yết công khai văn bản thông báo thì ngày đó được coi là đương sự đã được thông báo.
Khi tiến hành niêm yết công khai, Chấp hành viên cần ấn định thời gian nhất định (kể từ ngày niêm yết) để người được thông báo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của họ.
Ví dụ: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày niêm yết, người phải thi hành án phải đến cơ quan thi hành án để giải quyết việc thi hành án.
Việc ấn định thời gian cần căn cứ vào từng vụ việc cụ thể, nhưng phải đảm bảo cho người được thông báo biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ theo thông báo.
1.3.3. Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
a. Điều kiện thực hiện: việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc khi đương sự có yêu cầu. Một số trường hợp pháp luật quy định bắt buộc phải thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng như thông báo về việc bán đấu giá tài sản. “Đương sự có yêu cầu” trong trường hợp này có thể là người được thi hành án, người phải thi hành án, có thể là bản thân người được thông báo. Trong trường hợp người được thi hành án yêu cầu thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với các văn bản có liên quan đến người phải thi hành án (mà không có yêu cầu, sự đồng ý của người phải thi hành án, không thuộc trường hợp phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng) thì có thể sẽ ảnh hưởng đến uy tín của người phải thi hành án, có thể phát sinh chi phí thông báo mà khiếu nại. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện trong trường hợp có căn cứ xác định việc niêm yết không đảm bảo cho người được thông báo nhận được thông tin về văn bản được thông báo.
Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự cần lưu được văn bản yêu cầu cũng như văn bản thể hiện kết quả thông báo để làm cơ sở. Sau khi đã xác định có đủ cơ sở để áp dụng thì chỉ khi đó mới được thực hiện thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
b. Phương tiện thông tin đại chúng được sử dụng và số lần thông báo:
Trường hợp xác định đương sự đang có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp.
Trường hợp xác định đương sự không có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.
c. Thời điểm được xác định là thông báo hợp lệ:
Ngày thực hiện việc thông báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng là ngày được thông báo hợp lệ.
1.4. Chi phí thông báo
Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành án chịu.
2. Những quy định mới về thông báo về thi hành án theo Luật  sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành
Các quy định tại Điều 39, 40, 41, 42, 43 Luật thi hành án dân sự năm 2008 không được sửa đổi, bổ sung. Do đó, những điểm mới của quy định về thông báo về thi hành án chỉ được quy định tại Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, với những nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, bổ sung người thực hiện việc thông báo trực tiếp là “Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được thông báo chấp hành hình phạt tù” (điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị định).
Thứ hai, bổ sung quy định “trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ chối không nhận thông báo thì người thực hiện thông báo trực tiếp phải lập biên bản, có chữ ký của người chứng kiến và việc thông báo được coi là hợp lệ” (Khoản 4 Điều 12 Nghị định).
 Luật Thi hành án dân sự 2008 chỉ quy định việc giải quyết trong trường hợp người được thông báo vắng mặt mà không quy định việc thông báo trong trường hợp người được thông báo từ chối không nhận thông báo (nội dung này chỉ được quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC). Do đó, pháp điển hóa quy định của Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, Khoản 4 Điều 12 Nghị định đã bổ sung quy định trên.
Thứ ba, bổ sung quy định ngoài việc thông báo theo quy định tại Điều 43 Luật Thi hành án dân sự, nội dung “thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng” có thể được thực hiện với hình thức “công khai trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự, Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp” (Khoản 4 Điều 12 Nghị định).
Tuy nhiên, việc thông báo trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự, của Tổng cục Thi hành án dân sự chỉ là hình thức thông báo bổ sung mà không thay thế việc thông báo theo quy định tại Điều 43 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.. 
Thứ tư, bổ sung việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và thực hiện việc niêm yết đối với trường hợp chưa xác định được người thừa kế của người phải thi hành án (Khoản 1 Điều 15 Nghị định).
Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự bắt buộc phải thực hiện việc thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại nơi có tài sản, trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày thông báo, niêm yết. Mục tiêu là để người thừa kế của người phải thi hành án biết, liên hệ và thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án để lại; hết thời hạn này mà không có người khai nhận thừa kế thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án.
Thứ năm, bổ sung việc niêm yết công khai trong trường hợp công khai thông tin của người phải thi hành án không có điều kiện thi hành (Điều 11 Nghị định).
Theo đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đăng tải công khai thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự và tích hợp trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp. Đồng thời cơ quan thi hành án phải gửi quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết công khai. Thời gian niêm yết công khai quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án là 03 tháng, kể từ ngày niêm yết.
Thứ sáu, bổ sung việc niêm yết trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức không nhận quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ (Điều 20 Nghị định).
Trường hợp này, Chấp hành viên lập biên bản về việc  đương sự không nhận quyết định, có chữ ký của người làm chứng hoặc chứng kiến và tiến hành niêm yết quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án tại trụ sở cơ quan, tổ chức đó.
3. Một số vấn đề cần lưu ý trong việc thông báo về thi hành án
Các trường hợp bắt buộc cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện việc thông báo về thi hành án cho đương sự được quy định ở các điều luật khác tại Luật Thi hành án dân sự và Nghị định khi quy định về các trình tự thủ tục thi hành án cụ thể. Bên cạnh quy định trách nhiệm thông báo của cơ quan thi hành án dân sự, pháp luật cũng quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của người nhận được thông báo và hậu quả pháp lý nếu thực hiện hoặc không thực hiện các quyền, nghĩa vụ được thông báo.
 Cụ thể, tại Luật Thi hành án dân sự có các quy định về trách nhiệm thông báo của cơ quan thi hành án về những vấn đề như:
- Khoản 4, Khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự về tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án quy định: Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu.
Theo đó, phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án.
- Khoản 4 Điều 68 Luật Thi hành án dân sự về tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự quy định: Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; bên cạnh đó, chấp hành viên phải thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.
- Khoản 3 Điều 69 Luật Thi hành án dân sự về tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản quy định: Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản.
- Khoản 1, Khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự về xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án quy định:
Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định của pháp luật hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung. Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định.
- Khoản 1, Khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự về giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án quy định:
Trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp họ không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định.
Trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.                                       
- Điều 81 Luật Thi hành án dân sự về thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ quy định: Trường hợp phát hiện người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu khoản tiền đó để thi hành án. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho Chấp hành viên để thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền, cấp biên lai cho người thứ ba đang giữ tiền và thông báo cho người phải thi hành án. Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
- Điều 95 Luật Thi hành án dân sự về kê biên nhà ở quy định: Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết. Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Điều 104 Luật Thi hành án dân sự về việc xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành quy định:  
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá.
 Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án.
- Điều 111 Luật Thi hành án dân sự về việc kê biên quyền sử dụng đất quy định: Khi kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trường hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất.
- Điều 113 Luật Thi hành án dân sự về việc xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên quy định: Trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác và tài sản đó có trước khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải thi hành án thỏa thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà họ không thỏa thuận được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và người có tài sản gắn liền với đất. Trường hợp người có tài sản là người thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mà không hình thành pháp nhân mới thì người có tài sản được quyền tiếp tục ký hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn còn lại của hợp đồng mà họ đã ký kết với người phải thi hành án. Trường hợp này, trước khi xử lý quyền sử dụng đất, Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người tham gia đấu giá, người được đề nghị nhận quyền sử dụng đất về quyền được tiếp tục ký hợp đồng của người có tài sản gắn liền với đất;
- Điều 115 Luật Thi hành án dân sự về cưỡng chế trả nhà, giao nhà quy định: Trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà. Trường hợp họ từ chối nhận tài sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày thông báo mà người có tài sản bảo quản không đến nhận thì tài sản đó được xử lý theo quy định của pháp luật.
- Điều 117 Luật Thi hành án dân sự về cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất quy định: Khi xử lý tài sản gắn liền với đất được chuyển giao mà tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản. Hết thời hạn thông báo mà người có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý theo quy định.
- Điều 126 Luật Thi hành án dân sự về trả lại tiền, tài sản tạm giữ cho đương sự quy định: Sau khi có quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ, Chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền, tài sản. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền thì Chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng thì Chấp hành viên bán tài sản đó và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước. Đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định.
Tại Nghị định số 62/2015/NĐCP cũng có các quy định về trách nhiệm thông báo của cơ quan thi hành án về những vấn đề như:
- Khoản 6 Điều 4 Nghị định về thời hiệu yêu cầu thi hành án quy định: “Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án. Trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp, đồng thời lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do phạm nhân là người phải thi hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận.
Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà người được thi hành án không đến nhận tiền, tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước, sau khi khấu trừ tiền, tài sản mà họ phải thi hành theo quyết định thi hành án khác, nếu có”. Đây là quy định mới được bổ sung theo Nghị định.
- Khoản 1 Điều 7 Nghị định về ra quyết định thi hành án theo yêu cầu quy định: “Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể hoặc nhận chung một khoản tiền theo bản án, quyết định, nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với những người đã có yêu cầu, đồng thời thông báo cho những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó biết để yêu cầu thi hành án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn trên, nếu người được thông báo không yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên tổ chức giao tài sản, khoản tiền đó cho người đã có yêu cầu hoặc người đại diện của những người đã có yêu cầu để quản lý. Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án đối với tài sản đó được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”.
- Khoản 1 Điều 15 Nghị định về chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án quy định: “Quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế quy định tại Khoản 2 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự thực hiện như sau:
Trường hợp thi hành nghĩa vụ về trả tài sản mà người phải thi hành án đã chết nhưng có người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự ấn định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ, để người quản lý, sử dụng tài sản của người phải thi hành án giao tài sản cho người được thi hành án. Hết thời hạn này mà họ không thực hiện thì cơ quan thi hành án dân sự tổ chức giao tài sản, kể cả cưỡng chế giao tài sản cho người được thi hành án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về thanh toán tiền đã chết mà có để lại tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự có văn bản thông báo, ấn định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ, để người thừa kế hoặc người quản lý di sản của người phải thi hành án thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án để lại. Hết thời hạn này, nếu người thừa kế hoặc người quản lý di sản không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với tài sản để lại của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án, đồng thời ấn định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ, để những người liên quan đến tài sản thực hiện quyền khởi kiện phân chia di sản thừa kế. Hết thời hạn thông báo về thực hiện quyền khởi kiện phân chia di sản thừa kế mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án.
Trường hợp chưa xác định được người thừa kế thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại nơi có tài sản, trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày thông báo, niêm yết để người thừa kế biết, liên hệ và thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án để lại; hết thời hạn này mà không có người khai nhận thừa kế thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án”.
- Khoản 3 Điều 17 Nghị định về việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án quy định: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả định giá, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản yêu cầu người được nhận tài sản nộp số tiền tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản mà đương sự được nhận theo bản án, quyết định so với giá tài sản đã định quy định tại Khoản 2 Điều này để thanh toán cho người được nhận tiền thi hành án.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu nộp tiền thi hành án, nếu người được nhận tài sản không tự nguyện nộp tiền thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định bán đấu giá tài sản để thi hành án. Số tiền thu được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng so với số tiền, tài sản mà các đương sự được nhận theo bản án, quyết định nhưng không tính lãi chậm thi hành án”.
- Điều 24 Nghị định về kê biên tài sản để thi hành án quy định:
Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi kê biên tài sản, nếu có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết. Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.
            Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà kết quả xác minh tại thời điểm thi hành án cho thấy tài sản có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết. Cơ quan thi hành án dân sự kê biên tài sản sau khi đã được giải chấp hoặc thu phần tiền còn lại sau khi xử lý tài sản để thanh toán hợp đồng đã ký, nếu có. Nếu người nhận cầm cố, thế chấp không thông báo hoặc chậm thông báo mà gây thiệt hại cho người được thi hành án thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Đây là quy định của Nghị định mới được bổ sung.
- Khoản 1 Điều 27 Nghị định về bán đấu giá và xử lý kết quả bán đấu giá tài sản thi hành án quy định:
Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung mà có nhiều chủ sở hữu chung đề nghị mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định thì Chấp hành viên thông báo cho các chủ sở hữu chung đó thỏa thuận người được quyền mua. Nếu không thỏa thuận được thì Chấp hành viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người được mua tài sản bán đấu giá.
- Khoản 2 Điều 32 Nghị định về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước quy định:
Cơ quan thi hành án dân sự thông báo và ấn định cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận vật chứng, tài sản trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được thông báo để tiếp nhận. Hết thời hạn nêu trên mà không tiếp nhận vật chứng, tài sản thì cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận phải thanh toán các khoản chi phí cho việc bảo quản tài sản và phải chịu mọi rủi ro kể từ thời điểm chậm tiếp nhận.
- Khoản 1 Điều 45 Nghị định về tạm ứng, lập dự toán, chấp hành và quyết toán chi phí cưỡng chế thi hành án quy định:
Trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án hoặc dự trù chi phí cưỡng chế trong trường hợp không phải lập kế hoạch cưỡng chế, trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt. Dự toán chi phục vụ cưỡng chế được lập căn cứ vào nội dung chi, mức chi theo quy định hiện hành của Nhà nước và thông báo cho đương sự biết trước ngày tiến hành cưỡng chế theo quy định tại Điều 39, 40, 41, 42, 43 Luật Thi hành án dân sự.
Đây là quy định mới được bổ sung theo Nghị định.
- Điều 49 Nghị định về thủ tục thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án quy định:
+ Trường hợp thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên xác định số tiền được thanh toán của những người được thi hành án đã yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế.
Trường hợp bản án, quyết định đang do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành xác định nhiều người được thi hành án nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu thi hành án mà tài sản của người phải thi hành án không đủ để thi hành nghĩa vụ tài sản theo bản án, quyết định thì cơ quan thi hành án dân sự thanh toán cho người đã yêu cầu thi hành án theo tỉ lệ mà họ được nhận, số tiền còn lại gửi vào ngân hàng theo loại tiền gửi kỳ hạn 01 tháng, đồng thời thông báo và ấn định thời hạn không quá 01 tháng cho những người được thi hành án chưa yêu cầu về quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp đã hết thời hiệu.
Hết thời hạn thông báo mà cơ quan thi hành án dân sự không nhận được yêu cầu thi hành án thì số tiền đã gửi và tiền lãi được thanh toán tiếp cho những người đã có yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm hết thời hạn thông báo; số tiền còn lại, nếu có, được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán hoặc trả lại cho người phải thi hành án.
+ Đối với khoản tiền chi trả cho người được nhận là cá nhân, cơ quan thi hành án dân sự thông báo bằng văn bản yêu cầu người được nhận đến nhận.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông báo mà người được nhận tiền không đến nhận nếu họ ở xa trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, đã xác định được địa chỉ rõ ràng của họ và khoản tiền có giá trị nhỏ hơn 01 tháng lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Nhà nước quy định thì cơ quan thi hành án dân sự lập phiếu chi và gửi tiền cho họ qua đường bưu điện. Trường hợp bưu điện trả lại tiền do không có người nhận thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
Trường hợp người được nhận tiền cung cấp tài khoản và yêu cầu chuyển khoản thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục chuyển khoản.
+ Cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục gửi tiền vào ngân hàng, gửi tài sản bằng hình thức thuê bảo quản hoặc bảo quản tại kho cơ quan thi hành án dân sự đối với khoản tiền, tài sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự trong trường hợp sau đây:
(i) Khoản tiền, tài sản chưa xác định được địa chỉ của người được nhận hoặc khoản tiền hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông báo, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này, mà người được thi hành án đã yêu cầu thi hành án không đến nhận;
Sau khi gửi tiền, tài sản, nếu người được nhận tiền, tài sản đến nhận thì cơ quan thi hành án dân sự chi trả tiền, tài sản cho người được nhận. Phần lãi tiền gửi được cộng vào số tiền gửi ban đầu và trả cho người được nhận.
Trường hợp hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc 01 năm, kể từ ngày thông báo đối với trường hợp thu được tiền sau thời điểm 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà người được thi hành án không đến nhận thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục chuyển nộp số tiền, tài sản đó vào Ngân sách Nhà nước.
(ii) Khoản tiền, tài sản đã thu nhưng việc thi hành án bị hoãn, tạm đình chỉ để xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Đây là quy định mới được bổ sung theo Nghị định.
- Khoản 3 Điều 50 Nghị định về tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án quy định:
Trường hợp ủy thác tư pháp về việc giao trả giấy tờ, tài liệu liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự, nếu việc thực hiện ủy thác tư pháp lần hai không có kết quả hoặc đương sự không đến nhận thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại Điểm c Khoản này hoặc hết thời hạn thông báo mà đương sự không đến nhận, cơ quan thi hành án làm thủ tục gửi cho người đó; trường hợp không xác định được địa chỉ người nhận thì gửi cho cơ quan, tổ chức đã ban hành giấy tờ, tài liệu hoặc cơ quan đại diện của nước có cơ quan, tổ chức đã ban hành giấy tờ, tài liệu...
Ngoài việc thông báo về thi hành án cho đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như trên, thì cơ quan thi hành án dân sự còn có trách nhiệm gửi các quyết định về thi hành án dân sự, hồ sơ và các tài liệu khác có liên quan theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của viện kiểm sát nhân dân để thực hiện kiểm sát thi hành án dân sự.
Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự cũng có trách nhiệm gửi một số văn bản có liên quan cho các cơ quan như Tòa án, Trọng tài thương mại, cơ quan thi hành án dân sự khác có liên quan (ủy thác, nhận ủy thác…), chính quyền xã, tổ dân phố... Việc thông báo này được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Như vậy, ra quyết định thi hành án và thông báo về thi hành án dân sự là hai trong số nhiều thủ tục rất quan trọng mà cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện trong quá trình tổ chức thi hành án. Nếu nói rằng việc ra quyết định thi hành án là công việc đầu tiên để bắt đầu một hoạt động thi hành án dân sự thì thông báo về thi hành án dân sự là công cụ, phương tiện để cơ quan thi hành án dân sự truyền tải những thông tin cần thiết cho đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để trên cơ sở đó, họ có trách nhiệm thực hiện, họ có thể biết và tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời cũng tạo điều kiện cho hoạt động thi hành án diễn ra thuận lợi, đạt hiệu quả cao hơn, giảm khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thi hành án dân sự. Do đó, các cơ quan thi hành án dân sự nói chung và các Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án dân sự nói riêng cần rất chú ý để đảm bảo cho việc tổ chức thi hành án đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa./. 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu chung về Bắc Ninh

1. Vị trí địa lý Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP