15:18 EST Thứ ba, 13/11/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 33

Máy chủ tìm kiếm : 9

Khách viếng thăm : 24


Hôm nayHôm nay : 7217

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 89522

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9183513

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC KÊ BIÊN, ĐỊNH GIÁ, ĐỊNH GIÁ LẠI, GIẢM GIÁ, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN

Chủ nhật - 13/12/2015 21:01
CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ  CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC KÊ BIÊN, ĐỊNH GIÁ, ĐỊNH GIÁ LẠI,  GIẢM GIÁ, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC KÊ BIÊN, ĐỊNH GIÁ, ĐỊNH GIÁ LẠI, GIẢM GIÁ, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN

Việc kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án chính là việc cơ quan thi hành án dân sự tước đi quyền tự định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu, sử dụng tài sản. Do đó, bên cạnh việc đảm bảo quyền và lợi ích của người được thi hành án theo phán quyết của Tòa án thì cũng phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án đối với tài sản bị kê biên, xử lý nên trình tự thủ tục kê biên, xử lý tài sản được quy định hết sức chặt chẽ qua nhiều giai đoạn từ tiến hành kê biên, định giá tài sản, bán đấu giá tài sản và giao tài sản cho người mua trúng đấu giá.
Hiến pháp năm 2013, Điều 106 quy định “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơquan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.” Để các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trên thực tế, trong quá trình tổ chức thi hành án cơ quan thi hành án dân sự luôn lựa chọn biện pháp vận động, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, không phải lúc nào người phải thi hành án cũng tự nguyện thi hành án theo đúng phán quyết của Tòa án. Trong rất nhiều trường hợp, người phải thi hành án có điều kiện nhưng không tự nguyện thi hành án, buộc cơ quan thi hành án phải tổ chức cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.
 Cưỡng chế thi hành án là biện pháp mà cơ quan thi hành án áp dụng để buộc người phải thi hành án chấp hành phán quyết của Tòa án, cho nên khi áp dụng biện pháp cưỡng chế cơ quan thi hành án phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế. Liên quan đến các quy định về cưỡng chế thi hành án tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có đến 69/183 Điều. Theo các quy định hiện hành của pháp luật Thi hành án dân sự thì có 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó biện pháp kê biên, xử lý tài sản chỉ áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ thi hành án bằng tiền. Đây là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các biện pháp cưỡng chế mà cơ quan thi hành án áp dụng, thể hiện qua số liệu thống kê từ ngày 1/10/2014 đến 31/7/2015 như sau: cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định cưỡng chế đối với 10.566 việc với tổng giá trị tiền phải thi hành án là 8.897.559.828.986 đồng trong đó biện pháp kê biên, xử lý tài sản chiểm 74,4% về việc và 90,3% về tiền.
            Việc kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án chính là việc cơ quan thi hành án dân sự tước đi quyền tự định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu, sử dụng tài sản. Do đó, bên cạnh việc đảm bảo quyền và lợi ích của người được thi hành án theo phán quyết của Tòa án thì cũng phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án đối với tài sản bị kê biên, xử lý nên trình tự thủ tục kê biên, xử lý tài sản được quy định hết sức chặt chẽ qua nhiều giai đoạn từ tiến hành kê biên, định giá tài sản, bán đấu giá tài sản và giao tài sản cho người mua trúng đấu giá. Trong các giai đoạn trên, người phải thi hành án, người được thi hành án đều có quyền tham gia và có quyền thỏa thuận với nhau. Mặc dù, các quy định pháp luật về kê biên, xử lý tài sản được Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định khá cụ thể, chặt chẽ nhưng trong quá trình áp dụng đã nảy sinh ra một số bất cập làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và gây khó khăn lúng túng cho cơ quan thi hành án khi áp dụng trên thực tế.
Để khắc phục các khó khăn, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung 16 điều, khoản liên quan đến cưỡng chế trong đó có các quy định về kê biên, xử lý tài sản như:
 (i) Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án (Điều 74);
(ii) Giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án (Điều 75);
(iii) Định giá tài sản kê biên (Điều 99);
(iv) Hủy kết quả bán đấu giá (Điều 102);
(v) Xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành (Điều 104);
(vi) Bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án (Điều 103);
(vii) Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản (Điều 106).
            Đồng thời, để thi hành có hiệu quả các quy định của Luật Thi hành án dân sự, ngày 18/7/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành  một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định này hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và thay thế Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ và Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự, bên cạnh việc hướng dẫn các nội dung về tổ chức cán bộ của ngành Thi hành án dân sự), trong đó cũng đã hướng dẫn cụ thể một số vấn đề về kê biên tài sản để thi hành án, lựa chọn tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá và xử lý kết quả bán đấu giá để thi hành án…
Để đảm bảo những điểm mới của pháp luật được hiểu thống nhất và nhằm tránh những sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện, Chuyên đề xin giới thiệu một số quy định mới về quy trình kê biên, xử lý tài sản để thi hành án cũng như những vấn đề cần lưu ý trong quá trình quá trình tổ chức thi hành án liên quan đến áp dụng biện pháp cưỡng chế này.
1. Những quy định của pháp luật về kê biên, xử lý tài sản theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và tình hình thực hiện
Thứ nhất, quy định về cưỡng chế kê biên tài sản
Tại khoản 3 Điều 71 Luật Thi hành án dân sự quy định một trong những biên pháp cưỡng chế thi hành án đó là “Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ”. Điều kiện để cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án là hết thời gian tự nguyện thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự (15 ngày) và người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế (khoản 1 Điều 46). Về nguyên tắc, cơ quan thi hành án chỉ được quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo các nghĩa vụ thi hành án của họ theo bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, cơ quan thi hành án không thể kê biên tài sản của người khác để đảm bảo các nghĩa vụ của người phải thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và tránh việc cơ quan thi hành án tùy tiện trong việc kê biên tài sản của  người phải thi hành án, tại khoản 1, Điều 8 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (gọi tắt là Nghị định số 58) quy định “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án”. Như vậy, trước khi kê biên tài sản của người phải thi hành án Chấp hành viên phải tính toán các khoản chi phí cưỡng chế với các nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành để tiến hành kê biên tài sản tương ứng với nghĩa vụ. Tuy nhiên, trên thực tế tài sản bị kê biên không phải lúc nào cũng bán đấu giá được ngay mà thông thường cơ quan thi hành án phải tiến hành giảm giá một số lần thì mới bán được tài sản dẫn đến chi phí bán đấu giá tăng, lãi phát sinh do chậm thi hành án tăng nên số tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản không đủ thanh toán cho chi phí cưỡng chế và các nghĩa vụ thi hành án, từ đó phát sinh khiếu nại của người được thi hành án.
Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án và tránh trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung với người khác, người phải thi hành án có tài sản nhưng do người khác đang giữ hoặc người phải thi hành án tặng cho, cầm cố thế chấp hoặc chuyển nhượng tài sản của mình cho người khác để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành án đã có quy định một số trường hợp cụ thể:
 * Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung (Điều 74 Luật THADS) quy định:
“1. Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế. 
Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án.
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
3. Khi bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản.”
* Việc xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp (Điều 75 Luật THADS) quy định:
“Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Chấp hành viên yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để thi hành án theo quy định của Luật này.”
* Việc kê biên tài sản của người phải thi hành án đã chuyển nhượng cho người khác: Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự (Thông tư 14) quy định:
1. Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án.
Kể từ thời điểm có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác, người phải thi hành án không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, xử lý để thi hành án.”
Về mặt lý luận, có thể nói quy định như trên nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của người được thi hành án, hạn chế việc đương sự tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, gây khó khăn cho công tác thi hành án, đồng thời, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân với mục đích cuối cùng là bảo đảm hiệu lực thi hành trên thực tế các bản án, quyết định của Tòa án. Mặc dù vậy, khi áp dụng các quy định trên vào thực tế đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc, do thiếu các quy định chi tiết, cũng như thiếu sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật.
Ví dụ:
(i) Kê biên tài sản chung
Mặc dù cơ quan thi hành án đã thông báo cho những người đồng sở hữu biết việc kê biên tài sản để đảm bảo việc thi hành án, nhưng trong hầu hết các trường hợp thì những người đồng sở hữu không thực hiện việc khởi kiện để xác định phần sở hữu trong khối tài sản chung vì tâm lý chung là ngại kiện tụng mất thời gian. Việc người được thi hành án hoặc Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án là không khả thi trên thực tế, vì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên không thể đưa ra được những chứng cứ chứng minh là người phải thi hành án có bao nhiêu phần trong khối tài sản chung để yêu cầu Tòa án xác định phần của người phải thi hành án. Đặc biệt, đối với tài sản là quyền sử dụng đất thì theo quy định của pháp luật về đất đai thì quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình, nhưng căn cứ để xác định phần quyền sử dụng của từng cá nhân trong hộ gia đình chưa có quy định cụ thể theo hộ khẩu thường trú tại thời điểm khởi kiện hay là theo nhân khẩu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay theo quan hệ huyết thống... Do đó, trên thực tế, đa số các Tòa án đã từ chối không thụ lý đối với yêu cầu xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vì thiếu căn cứ để xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung.
(ii) Kê biên tài sản có tranh chấp và kê biên tài sản của người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án.
Đây có thể xem là ngoại lệ của việc kê biên tài sản để thi hành án vì theo quy định tại khoản 3 Điều 71 Luật Thi hành án dân sự thì chỉ kê biên tài sản của người phải thi hành án tức là đối với bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì cơ quan thi hành án chỉ kê biên tài sản trên khi tài sản đó đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận đó là tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành án; đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì cơ quan thi hành án cũng chỉ kê biên khi có đủ căn cứ pháp lý cho rằng đấy là tài sản của người phải thi hành án. Việc người phải thi hành án thực hiện hànhvi bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho tài sản của mình thì quyền sở hữu, sử dụng đã được chuyển giao cho người khác; đối với hành vi thế chấp, bảo lãnh và cầm cố tài sản cho người khác mặc dù chưa chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng cho người khác nhưng nó cũng tạo ra khả năng chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng. Do đó, khi thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 14 có nhiều bất cập đó là:
- Việc quy định kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà các bên chuyển nhượng tài sản thì cơ quan thi hành án được quyền kê biên, xử lý tài sản đã chuyển nhượng cho người thứ ba là không phù hợp quy định pháp luật vì tại thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm, pháp luật vẫn dành cho đương sự được thực hiện quyền kháng cáo và Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm cho nên bản án sơ thẩm sẽ chưa có hiệu lực pháp luật trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị. Vì vậy, tại thời điểm này, tài sản của người phải thi hành án không bị hạn chế giao dịch nên cũng chưa có cơ sở khẳng định đây là giao dịch bất hợp pháp hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án và việc cơ quan thi hành án kê biên trong trường hợp này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba nhận chuyển nhượng tài sản.
- Xác định hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng và nói rộng ra là xác định tài sản, quyền tài sản có còn là của người phải thi hành án hay không gặp khó khăn vướng mắc vì: người phải thi hành án chuyển nhượng tài sản cho người thứ ba nếu đã được thực hiện thông qua hợp đồng dân sự có công chứng hợp đồng, giao dịch này thì  có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan theo quy định của Luật Công chứng kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Trường hợp người thứ ba đã hoàn tất các thủ tục và được cơ quan nhà nước công nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản thì đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của họ. Khi nhận chuyển nhượng tài sản một cách hợp pháp và đã hoàn thành nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, người nhận chuyển nhượng thường không khởi kiện ra Toà án để xác định lại quyền sở hữu của mình đối với tài sản đã nhận chuyển nhượng hợp pháp và trên thực tế giữa họ và người phải thi hành án không có tranh chấp về việc chuyển nhượng tài sản.
- Trường hợp cơ quan thi hành án tiến hành kê biên và hướng dẫn người thứ ba khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo hợp lệ mà người thứ ba không khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, cơ quan thi hành án tiếp tục xử lý tài sản (định giá, bán đấu giá) thì rủi ro sẽ thuộc về cơ quan thi hành án. Khi đó dù cơ quan thi hành án có bán đấu giá thành thì vẫn phải yêu cầu Tòa án tuyên hủy giao dịch giữa người phải thi hành án với người thứ ba (hoặc tuyên giao dịch vô hiệu) mới thực hiện được việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho người mua trúng đấu giá. Đồng thời, cơ quan thi hành án phải đối diện với khiếu nại gay gắt của người thứ ba.
            - Trường hợp sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm, người phải thi hành án đem tài sản của mình thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác thì mặc dù chưa phát sinh việc chuyển giao quyền sở hữu, sử dụng tài sản, nhưng đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ (người phải thi hành án) không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thỏa thuận thì tài sản đó bị xử lý (theo thỏa thuận hoặc bán đấu giá theo quy định của pháp luật) để thực hiện nghĩa vụ và bên nhận thế chấp, bảo lãnh, cầm cố được ưu tiên thanh toán. Do đó, trong trường hợp này, cơ quan thi hành án thực hiện việc kê biên thì lại phát sinh khiếu nại của người nhận thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản.
            Thứ hai, về việc định giá tài sản kê biên
            Để có căn cứ thực hiện việc bán đấu giá tài sản thì phải xác định được giá của tài sản. Việc định giá tài sản kê biên được quy định tại Điều 98 Luật Thi hành án dân sự và Điều 15 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013) theo đó giá của tài sản kê biên do các đương sự thỏa thuận với nhau, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau thì giá đó được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu giá. Các đương sự cũng có quyền thỏa thuận với nhau về tổ chức thẩm định giá và Chấp hành viên thực hiện việc ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá do các đương sự thỏa thuận lựa chọn (tổ chức thẩm định giá có thể ở trong hoặc ngoài địa bàn tỉnh nơi có tài sản kê biên). Chỉ khi hết thời hạn 05 ngày làm việc các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giá hoặc tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên mới tiến hành ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh nơi có tài sản kê biên. Trong trường hợp tài sản có giá trị nhỏ dưới 5.000.000 đồng thì Chấp hành viên có quyền xác định giá.
            Để đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự thì tại Điều 99 Luật Thi hành án dân sự quy định rõ đương sự có quyền đề nghị định giá lại tài sản kê biên trong các trường hợp:
- Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản;
-  Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản.
            Trên thực tế quy định này thường bị các đương sự, chủ yếu là người phải thi hành án, lợi dụng để yêu cầu định giá lại để kéo dài thời gian thi hành án. Do đó, để hạn chế bất cập nêu trên, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP đã bổ sung tại Điều 15a quy định đương sự chỉ có quyền yêu cầu định giá lại một lần trước khi thông báo bán đấu giá công khai và một lần đối với tài sản bán đấu giá không thành hoặc tài sản không có người đăng ký mua, trả giá. Như vậy, đương sự chỉ có quyền yêu cầu định giá lại tài sản 02 lần và muốn thực hiện việc định giá lại thì đương sự phải có đơn yêu cầu và phải chịu chi phí thẩm định giá.
            Thứ ba, về việc bán đấu giá tài sản
            Theo quy định tại Điều 101 Luật Thi hành án dân sự thì tài sản kê biên được bán thông qua hai hình thức là bán đấu giá hoặc bán không qua thủ tục đấu giá, đồng thời quy định rõ trường hợp nào thì bán đấu giá, trường hợp nào bán không thông qua thủ tục bán đấu giá cũng như trường hợp nào thì việc bán đấu giá phải thông qua tổ chức bán đấu giá và trường hợp nào thì Chấp hành viên tiến hành bán đấu giá. Đối với tài sản là động sản có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên và bất động sản thì việc bán đấu giá do tổ chức bán đấu giá thực hiện.
Nghị định số 17/2010/ NĐ-CP quy định về bán đấu giá tài sản để thi hành án như sau:  Hợp đồng bán đấu giá tài sản được ký kết giữa tổ chức bán đấu giá tài sản và người có tài sản bán đấu giá hoặc người đại diện của người đó (khoản 1, Điều 25); tài sản để thi hành án thì hợp đồng bán đấu giá tài sản được ký kết giữa chấp hành viên có thẩm quyền xử lý tài sản đó với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (điểm a, khoản 1, Điều 26); Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá được ký kết giữa tổ chức bán đấu giá tài sản và người mua được tài sản bán đấu giá. Đối với những tài sản mà pháp luật quy định hợp đồng mua bán phải có công chứng hoặc phải được đăng ký, thì hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá phải phù hợp với quy định đó (khoản 3, Điều 35).
Trong quá trình thực hiện các quy định trên về bán đấu giá tài sản, nhiều trường hợp cơ quan thi hành án đã phó mặc việc bán tài sản cho các tổ chức bán đấu giá, việc ký hợp đồng bán đấu giá giữa các cơ quan thi hành án với tổ chức bán đấu giá chưa chặt chẽ, nhất là điều khoản liên quan đến việc thanh toán tiền bán tài sản dẫn đến đa số tổ chức bán đấu giá lợi dụng để giữ lại tiền bán đấu giá trong thời gian dài nhằm hưởng lợi, cá biệt còn có một số tổ chức bán đấu giá chiếm đoạt tiền bán đấu giá tài sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của cơ quan thi hành án. Qua kiểm tra thì thấy, tại cùng một cơ quan thi hành án nhưng việc xác định thời điểm mà tổ chức bán đấu giá chuyển tiền cho cơ quan thi hành án khá khác nhau, như:  
- HĐ số 131 giao kết ngày 12/8/2015 giữa Chấp hành viên và Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản. Tại Điều 5.1: Thời hạn thanh toán tiền bán đấu giá tài sản trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày người mua được tài sản bán đấu giá nhận được tài sản, bên B thanh toán cho bên A 80% tiền bán đấu giá.
- Hợp đồng bán đấu giá số 1474/HĐĐG-VTA ngày 03/12/2014 Công ty TNHH DV bán đấu giá Vạn Thành. Tại Điều 5.1: trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày người mua được tài sản bán đấu giá nộp đủ tiền, bên B thanh toán cho bên A là 70% tiền bán tài sản.
- Hợp đồng bán đấu giá tài sản ký bởi công ty TNHH DV bán đấu giá tài sản Việt A. Tại Điều 5.1: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người mua được tài sản bán đấu giá nộp đủ tiền, bên B thanh toán cho bên A là 80% tiền bán tài sản.
- Hợp đồng bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự số 01/2015/HĐ-BĐG ngày 19/01/2015 ký bởi chi nhánh tại TP. HCM - Công ty TNHH bán đấu giá tài sản Đại Quang. Tại Điều 5.1: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bán đấu giá thành, bên B yêu cầu người mua được tài sản bán đấu giá nộp đủ tiền mua tài sản cho bên A bằng tiền mặt tại trụ sở của bên A hoặc chuyển khoản theo thông báo cụ thể của bên A. Tuy nhiên, trên thực tế tổ chức bán đấu giá vẫn tiến hành thu tiền mua tài sản của người mua trúng đấu giá.
Bên cạnh đó, do việc bán đấu giá tài sản không phải lúc nào cũng thu được kết quả, do đó, Điều 104 Luật Thi hành án dân sự quy định trong trường hợp bán đấu giá không thành thì nếu trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thông báo mà các đương sự không thỏa thuận được mức giảm giá thì Chấp hành viên thực hiện việc giảm giá. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy định này thì phát sinh trường hợp tài sản bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá (trường hợp này theo quy định tại Nghị định số 17/2010/NĐ-CP không được coi là đấu giá không thành). Để giải quyết khó khăn vướng mắc này thì Nghị định số 125/2013/NĐ-CP đã bổ sung tại Điều 17a quy định trong trường hợp sau hai lần niêm yết, thông báo công khai theo quy định của pháp luật về bán đấu giá mà không có người tham gia đấu giá, trả giá thì Chấp hành viên thông báo để các đương sự biết, nếu không thỏa thuận được mức giảm giá thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá.
            Theo quy định tại Điều 104 của Luật Thi hành án dân sự thì khi mà giá của tài sản giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều tài sản đã thực hiện việc giảm giá đến hơn 10 lần, thậm chí đến 23 lần hoặc cá biệt có trường hợp bán đến hơn 30 lần nhưng chưa bán được tài sản, việc giảm giá quá nhiều lần mà không bán được tài sản đã kéo dài thời gian tổ chức thi hành án và cũng không phản ánh đúng giá trị thật của tài sản và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Do đó, Nghị định 125/2013/NĐ-CP đã bổ sung Điều 17a, theo đó quy định là sau 03 lần giảm giá nếu người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án.
            Ngoài ra, Điều 102 Luật Thi hành án dân sự quy định “Đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản”. Theo quy định tại Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản thì hợp đồng bán mua bán tài sản đấu giá được ký giữa người mua được tài sản và tổ chức bán đấu giá. Đây là hợp đồng dân sự, người phải thi hành án không tham gia vào hợp đồng này nhưng với quy định tại Điều 102 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án luôn tìm cách trì hoãn việc giao tài sản bằng cách khởi kiện để yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá. Do việc xét xử của Tòa án thực hiện theo thủ tục tố tụng, thường kéo dài về thời gian chờ kết quả giải quyết cuối cùng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua được tài sản bán đấu giá.
2. Những điểm mới về kê biên xử lý tài sản thi hành án theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành
Từ những khó khăn, vướng mắc về các quy định về thi hành án nói chung và việc kê biên xử lý tài sản để thi hành án nói riêng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp khóa 8 thông qua ngày 25/11/2014, có hiệu lực thi hành. Luật sửa đổi, bổ sung 55/183 điều so với Luật Thi hành án dân sự năm 2008 trong đó sửa đổi, bổ sung 16 điều liên quan đến cưỡng chế thi hành án dân sự, cụ thể là: điểm a khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 7b, khoản Điều 45, khoản 2 Điều 47, Điều 72, Điều 74, Điều 75, điểm b khoản 1 và bổ sung khoản 3 Điều 99, Điều 102, Điều 103, Điều 104, các khoản 3, 4, 5 và 6 Điều 106, điểm c khoản 1 Điều 114, Điều 116, khoản 2 Điều 173, khoản 2 Điều 174. Ngày 18/7/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành  một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Theo đó việc kê biên tài sản để thi hành án có một số điểm mới như sau:
Thứ nhất, về quyền của người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự
- Bổ sung quy định người được thi hành án có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án (điểm a khoản 1 Điều 7).
- Bổ sung quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền được thông báo, tham gia vào việc thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành án mà mình có liên quan (điểm a khoản 1 Điều 7b).
Ngoài ra, cũng liên quan đến thời điểm cưỡng chế, quy định về thời hạn tự nguyện thi hành án đã giảm từ 15 ngày xuống còn 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án (khoản 1 Điều 45).
Thứ hai, làm rõ hơn thủ tục kê biên đối với tài sản chung để thi hành án
*Sửa đổi Điều 74 Luật Thi hành án dân sự, theo đó đổi tên điều luật từ “Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung” thành “Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án” và quy định như sau:
“1. Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án.
2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
3. Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung.
Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật này.”
* Bổ sung quy định hướng dẫn thực hiện việc kê biên tài sản chung. Khoản 2, Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định về việc kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành với người khác được thực hiện như sau:
a) Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của đương sự theo quy định tại Khoản 4 Điều này;
b) Trường hợp người phải thi hành án có chung tài sản với người khác mà đã xác định được phần tài sản, quyền tài sản của từng người thì Chấp hành viên kê biên phần tài sản, quyền tài sản của người phải thi hành án để thi hành án theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự; trường hợp chưa xác định được phần quyền của người phải thi hành án thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp quy định tại Điểm c Khoản này;
c) Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết.
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết.
Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.”
Các quy định trên đã làm rõ trình tự, thủ tục để xác định, phân chia phần quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung. Chấp hành viên phải thông báo cho các đồng sở hữu, đồng sử dụng tài sản chung để họ thỏa thuận và tự phân chia hoặc yêu cầu Tòa án phân chia. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các đồng sở hữu, sử dụng chung thỏa thuận tự phân chia hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Đối với trường hợp tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên được quyền xác định phần tài sản chung của người phải thi hành án để xử lý. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP cũng chỉ rõ căn cứ để Chấp hành viên xác định phần tài sản chung của vợ chồng và tài sản chung của hộ gia đình, đồng thời cũng quy định Chấp hành viên phải thông báo cho các đồng sở hữu chung biết và trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo hợp lệ, nếu họ không thực hiện việc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung thì Chấp hành viên tiến hành kê biên tài sản chung.
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã bổ sung và quy định rõ hơn về quyền của chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung. Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn ba tháng đối với bất động sản, một tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn được rút ngắn hơn, là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ (khác với Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ chỉ ưu tiên lần đầu).
Theo các quy định trên, thì việc kê biên tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung của người phải thi hành án với người khác chỉ được thực hiện khi đã xác định rõ phần của tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung. Đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, quyển sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chỉ tiến hành kê biên khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc do người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan.

Thứ ba, về xử lý tài sản kê biên có tranh chấp và xử lý tài sản của người phải thi hành án khi đã chuyển giao cho người thứ ba (thông qua việc bán, tặng cho, cầm cố, thế chấp ...)

Cụ thế như sau:

- Điều 75 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung tên điều từ “Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp” thành “Giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án” và quy định như sau:

“1. Trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật này.
2. Trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.
3. Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết các việc quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật này và khoản 1, khoản 2 Điều này để thi hành án thì không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án.”
- Tại Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định về kê biên tài sản để thi hành án như sau:
1. Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi kê biên tài sản, nếu có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án; Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó....
3. Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà kết quả xác minh tại thời điểm thi hành án cho thấy tài sản có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết.
Cơ quan thi hành án dân sự kê biên tài sản sau khi đã được giải chấp hoặc thu phần tiền còn lại sau khi xử lý tài sản để thanh toán hợp đồng đã ký, nếu có.
Nếu người nhận cầm cố, thế chấp không thông báo hoặc chậm thông báo mà gây thiệt hại cho người được thi hành án thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật....
5. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải thi hành án, nếu sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ mà vẫn không đủ để thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác.
6. Trường hợp người phải thi hành án tự nguyện giao tài sản theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 7a Luật Thi hành án dân sự để thi hành nghĩa vụ trả tiền thì Chấp hành viên lập biên bản về việc tự nguyện giao tài sản. Biên bản này là cơ sở để Chấp hành viên giao tài sản theo thỏa thuận hoặc tổ chức việc định giá, bán tài sản. Chi phí định giá, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác theo quy định của pháp luật do người phải thi hành án chịu.
Trường hợp đương sự tự nguyện giao nhà ở là tài sản duy nhất nhưng số tiền thu được không đủ để thanh toán các nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà ở hoặc tạo lập nơi ở mới thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự.”
            Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã quy định rõ một số nội dung như sau:
- Quy định rõ hơn về quyền khởi kiện của người tranh chấp: Trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật này. 
- Bổ sung cách thức xử lý khi có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án: theo đó, Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.
- Bổ sung quy định Chấp hành viên không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án khi thực hiện quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung, tuyên bố giao dịch vô hiệu hủy các giấy tờ liên quan đến giao dịch quy định để thi hành án.
- Sửa đổi thời điểm xác định quyền kê biên của Chấp hành viên trong trường hợp người phải thi hành án chuyển nhượng tài sản cho người khác lùi hơn so với quy định trước đây, cụ thể:  Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã thu hút quy định của Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC về quyền của Chấp hành viên có thể kê biên tài sản người phải thi hành án chuyển nhượng tài sản cho người khác thông qua việc chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác dẫn đến họ không còn tài sản để thi hành hoặc không đủ thi hành. Tuy nhiên, thời điểm chuyển nhượng là sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà người phải thi hành án có những hành vi trên thì Chấp hàn viên mới có thể áp dụng việc kê biên (Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC xác định quyền của Chấp hành viên kê biên nếu hành vi thực hiện chuyển nhượng sau khi có bản án, sơ thẩm). Quy định này cũng đảm bảo hài hòa hơn giữa quyền định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu, sử dụng tài sản với nghĩa vụ trách nhiệm cua họ trong việc chấp hành phán quyết của Tòa án.
- Bổ sung làm rõ trách nhiệm của Chấp hành viên thông báo cho người nhận cầm cố, thế chấp biết các nghĩa vụ của người phải thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án có tài sản đang cầm cố, thế chấp hợp pháp nhưng giá trị tài sản không đủ để thực hiện việc kê biên xử lý theo quy định tại Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự.
- Bổ sung quy định trách nhiệm của người nhận cầm cố, thế chấp trong việc chậm thông báo hoặc không thông báo gây thiệt hại cho người được thi hành án thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, về việc định giá, định giá lại tài sản kê biên
Trong việc định giá, định giá lại tài sản có những điểm mới sau đây:
-Sửa đổi, bổ sung  các điều kiện thực hiện quyền yêu cầu định giá lại của đương sự: Theo đó, điểm b khoản 1 của Điều 99 và bổ sung khoản 3 vào Điều 99 Luật Thi hành án dân sự theo hướng việc định giá lại tài sản được thực hiện khi đương sự đáp ứng các điều kiện sau:
+ Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần.
+ Yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản.
+  Thời hạn yêu cầu định giá lại 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và
+  Phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản.
Kết quả  định giá lại được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu giá theo quy định.
-Làm rõ quyền thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá của các đương sự: Theo đó, Điều 25 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP bên cạnh việc tiếp tục khẳng định quyền của các đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá, thì đã xác định họ có quyền thỏa thuận và lựa chọn tổ chức thẩm định giá không chỉ giới hạn trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên mà còn có thể lựa chọn tổ chức thẩm định giá trên địa bàn khác.Trong trường hợp này ,Chấp hành viên có trách nhiệm ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn. Mặt khác, Nghị định cũng khẳng định quyền thỏa thuận của đương sự về lựa chọn tổ chức thẩm định giá nêu trên cũng được thực hiện trong trường hợp thực hiện việc định giá lại tài sản kê biên.
- Về quyền xác định giá của Chấp hành viên, có hai điểm mới sau đây: Trước hết, tại Điều 26 Nghị định đã cho phép Chấp hành viên có thể lựa chọn và ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá ngoài địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên trong trường hợp không ký được hợp đồng dịch vụ thẩm định giá theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp vẫn không thể ký được hợp đồng thì Chấp hành viên tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính cùng cấp hoặc cơ quan chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực của tài sản kê biên trước khi xác định giá của tài sản kê biên. Việc tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan phải lập thành văn bản hoặc biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn đó.Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Chấp hành viên mà cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn không có ý kiến bằng văn bản thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan chuyên môn có ý kiến để Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên.
Tiếp đó, Nghị định cũng làm rõ thẩm quyền xác định giá của Chấp hành viên đối với trường hợp tài sản kê biên có giá trị nhỏ theo quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Theo quy định, tài sản kê biên có giá trị nhỏ quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự là tài sản mà tại thời điểm xác định giá, tài sản giống hệt hoặc tương tự chưa qua sử dụng có giá mua bán trên thị trường không quá 10.000.000 đồng (nâng lên 5.000.000đ so với trước đây).
Liên quan đến trách nhiệm của Chấp hành viên, tại Khoản Điều 44 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ cũng xác định người có lỗi trong việc vi phạm thủ tục về định giá tài sản, dẫn đến việc ngân sách nhà nước phải trả chi phí cưỡng chế phải có trách nhiệm bồi hoàn khoản tiền đó cho ngân sách nhà nước.
Thứ năm, về bán đấu giá tài sản
(i) Sửa đổi, bổ sung quy định về việc nộp tiền mua tài sản bán đấu giá của người trúng đấu giá. Theo đó, người mua được tài sản bán đấu giá phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày đấu giá thành (Khoản 3, Điều 27 Nghị định số 62). Quy định này nhằm khắc phục và hạn chế tối đa việc các tổ chức bán đấu giá sử dụng trái phép tiền bán tài sản để thi hành án gây thiệt hại cho các đương sự như đã xảy ra trong thực tiễn.
(ii) Bổ sung thời hạn cơ quan thi hành án phải giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá: Theo đó, thời hạn phải giao là 30 ngày, trường hợp khó khăn, phức tạp thì không quá 60 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền (Khoản 3, Điều 27 Nghị định số 62).
Với quy định này buộc Chấp hành viên phải kịp thời hơn trong thực hiện việc giao tài sản cho người mua trúng đấu giá, đồng thời hạn chế việc Chấp hành viên nại ra các lý do khó khăn để không thực hiện việc giao tài sản cho người mua trúng đấu giá.
(iii) Bổ sung quy định về việc xử lý tiền bán đấu giá (Khoản 4, Điều 27 Nghị định số 62).
- Quy định rõ hơn về thời điểm xác định tiền bán đấu giá được coi tiền thi hành án: theo đó, xác định là từ thời điểm cơ quan thi hành án giao tài sản cho người mua trúng đấu giá. Quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người mua trúng đấu giá, trong trường hợp hết thời hạn mà Chấp hành viên không giao được tài sản thì người mua tài sản có thể yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá và cơ quan thi hành án phải thực hiện hoàn trả lại tiền cho họ.
- Quy định rõ hơn về việc xử lý tiền lãi tiết kiệm trong trường hợp cơ quan thi hành án gửi tiết kiệm đối với khoản tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản (kỳ hạn 1 tháng) trong thời gian chưa giao được tài sản cho người mua trúng đấu giá.
 Theo đó, khoản tiền lãi được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án đối với trường hợp cơ quan thi hành án giao được tài sản cho người mua trúng đấu giá; ngược lại khoản tiền này thuộc về người mua được tài sản bán đấu giá trong trường hợp cơ quan thi hành án không giao được tài sản.
(iv) Bổ sung quy định xử lý tiền trường hợp người trúng đấu giá không thực hiện việc mua tài sản (Khoản 5, Điều 27 Nghị định số 62). Theo đó, quy định khoản tiền đặt trước thuộc về Ngân sách nhà nước khi phiên đấu giá kết thúc mà người trúng đấu giá tài sản từ chối mua hoặc họ đã ký hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá nhưng chưa thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào.
Cơ quan thi hành án sử dụng khoản tiền này để thanh toán lãi suất chậm thi hành án, tạm ứng chi phí bồi thường Nhà nước, bảo đảm tài chính để thi hành án và các chi phí cần thiết khác.
(iv) Bổ sung quy định về việc hủy kết quả bán đấu giá
- Điều 102 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã quy định rõ hơn về việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản (thay vì trước đây Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định cụ thể việc hủy kết quả bán đấu giá chỉ thuộc thẩm quyền của Tòa án).
Theo quy định của pháp luật về bán đấu giá hiện hành thì kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy trong các trường hợp có thỏa thuận giữa người có tài sản bán đấu giá, người mua được tài sản bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá tài sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; đối với tài sản thi hành án, thì còn phải có thỏa thuận của người phải thi hành án.
Ngoài ra, khoản 4, Điều 27, Nghị định số 62 quy định người mua được tài sản bán đấu giá có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng khi đến hạn theo hợp đồng bán đấu giá tài sản mà không được nhận tài sản. Như vậy, hết thời hạn 30 ngày, trường hợp khó khăn, phức tạp thì không quá 60 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền mà cơ quan thi hành án chưa giao được giao được tài sản thì có thể thỏa thuận việc hủy kết quả bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá hoặc có quyền đề nghị Tòa án hủy kết quả bán đấu giá theo đúng nguyên tắc của pháp luật dân sự.
Một điểm mới quan trọng được sửa đổi tại Điều 102 Luật Thi hành án dân sự, đó là đã xác định rõ thẩm quyền hủy kết quả bán đấu giá, theo đó chỉ có người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản. Như vậy, đã loại trừ khả năng người phải thi hành án với tư cách “đương sự’ như cách khoản 1 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định để lợi dụng để kéo dài việc thi hành án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án và người trúng đấu giá tài sản.

Thứ sáu, về xử lý trường hợp tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành (Điều 104 Luật THADS)

- Bổ sung cơ chế xử lý tài sản đối với trường hợp không có người tham gia đấu giá, trả giá, bên cạnh trường hợp bán đấu giá không thành mà Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định cho phù hợp với thực tiễn của hoạt động bán đấu giá.
- Quy định rõ hơn về cách thức xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành, như sau:
Thứ nhất,  quy định rõ trách nhiệm của Chấp hành viên phải thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản. Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thoả thuận hoặc thoả thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá.
Thứ hai, quy định rõ quyền của người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, kể từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành. Điều này nhằm tạo cơ hội tốt hơn cho người được thi hành án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.  
Trong trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành Chấp hành viên thực hiện trách nhiệm thông báo cho người phải thi hành án biết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án. Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án.
Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Trong trường hợp này, người phải thi hành án không được đưa tài sản này vào tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.
 Riêng đối với tài sản bán đấu giá tài sản của người phải thi hành án  để thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước, thì Chấp hành viên quyết định giảm giá để tiếp tục bán đấu giá tài sản trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đưa ra bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành.  Quy định này nhằm tạo tính chủ động của Chấp hành viên trong việc tích cực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước.
Về mức giảm giá, khẳng định mỗi lần giảm giá, không phân biệt là tài sản để thi hành án chủ động hay theo đơn, Chấp hành viên giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó.
Thứ bảy, về quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án
Liên quan đến nội dung này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã thay đổi tên Điều 103, từ “Giao tài sản bán đấu giá” thành “Bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án”, đồng thời bổ sung một số nội dung mới như sau:
- Khẳng định người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án được bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó.
- Khẳng định trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.
- Xác định việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án thực hiện theo quy định tại các Điều 114, 115,  116 và 117 của Luật Thi hành án dân sự. Quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương tổ chức cưỡng chế giao tài sản đối với trường hợp người phải thi hành án chây ỳ, nhằm đảm bảo tốt hơn quyền của người trúng đấu giá tài sản.
3. Một số lưu ý khi thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản để thi hành án
Qua theo dõi, tổng hợp thông qua công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án dân sự, Tổng cục Thi hành án dân sự nhận thấy trong quá trình kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án, nhiều cơ quan thi hành án dân sự đã chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật, còn mắc một số thiếu sót, sai phạm.
Để kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong quá trình kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án để thi hành án, Tổng cục Thi hành án dân sự đã có Công văn số 1948/TCTHADS-NV1 ngày 04/7/2014 gửi các cơ quan thi hành án dân sự địa phương nhằm chấn chỉnh một số thiếu sót, sai phạm liên quan đến việc kê biên, xử lý tài sản để thi hành án.
Theo nội dung Công văn trên của Tổng cục, đã chỉ ra một số thiếu sót, vi phạm của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án trong việc kê biên, xử lý tài sản để thi hành án,  như:
- Không tích cực, không tổ chức cưỡng chế để thi hành án dứt điểm vụ việc, chậm xử lý tài sản đã được kê biên:
Ví dụ như:
+ Có vụ việc cơ quan thi hành án đã thông báo bán đấu giá tài sản nhưng sau đó Chấp hành viên đã không có bất kỳ tác nghiệp nào, nhiều năm sau tiến hành xác minh lại thì đương sự đã bán tài sản kê biên, dẫn đến kéo dài việc thi hành án;
+ Có nhiều vụ việc người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng Chấp hành viên không tiến hành đôn đốc, không áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc không có bất kỳ biện pháp nghiệp vụ nào để tổ chức thi hành án;
+ Một số vụ việc bản án đã tuyên duy trì lệnh kê biên, tạm giữ tài sản để đảm bảo thi hành án nhưng đến thời điểm thanh tra, kiểm sát, cơ quan Thi hành án dân sự vẫn chưa tiến hành xử lý tài sản..
- Vi phạm về trình tự, thủ tục trong quá trình xử lý tài sản thi hành án:
 Ví dụ như:
 + Không tiến hành xác minh kỹ lưỡng tài sản của người phải thi hành án đã ra quyết định cưỡng chế thi hành án dẫn đến cưỡng chế sai đối tượng thi hành án;
+ Không cho các đương sự tự thỏa thuận trước khi ký hợp đồng thẩm định giá, bán đấu giá tài sản;
+ Lấy lý do người phải thi hành án không đồng ý bán tài sản đã được đưa ra bán đấu giá sau khi tài sản giảm giá lần thứ 3 để quyết định không bán tài sản cho người tham gia bán đấu giá;
+ Không thông báo các văn bản về cưỡng chế thi hành án cho các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
+ Chậm ký hợp đồng bán đấu giá tài sản; không niêm yết thông báo cưỡng chế, thông báo bán đấu giá tài sản, vi phạm thời hạn bán đấu giá tài sản;
+ Vi phạm trong việc ký hợp đồng thẩm định giá;
+ Căn cứ vào văn bản không đúng quy định pháp luật của cơ quan liên quan dẫn đến kê biên, bán đấu giá sai đối tượng phải thi hành án;
+  Không lập biên bản kê biên tài sản của người phải thi hành án theo quy định mà đã tổ chức thẩm định giá và bán đấu giá tài sản.
- Một số đơn vị thi hành án dân sự đã ban hành quyết định cưỡng chế thi hành án trái pháp luật:
Ví dụ như:
+  Ban hành quyết định cưỡng chế, kê biên quyền sử dụng đất là đất thuê, trả tiền thuê đất hàng năm của người phải thi hành án;
+ Ban hành quyết định kê biên và ký hợp đồng bán đấu giá tài sản là hệ thống phòng cháy, chữa cháy thuộc diện tài sản không được kê biên...
- Không thực hiện đúng Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung:
Ví dụ như:
+ Thực hiện việc phân chia tài sản chung của vợ chồng nhưng không thông báo kết quả phân chia và hướng dẫn cho đương sự khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng.
Như vậy, tại Công văn trên, Tổng cục Thi hành án dân sự đã chấn chỉnh nhằm tránh việc lặp lại sai phạm trong thời gian tới. Tuy nhiên, trong thời gian qua, cho đến nay vẫn còn hiện tượng các Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự không thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình kê biên, xử lý tài sản để thi hành án. Do đó, các Chấp hành viên cần lưu ý:
- Trong việc xác minh tài sản để kê biên
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định trách nhiệm của người được thi hành án phải cung cấp thông tin về tài sản, điều kiện của người phải thi hành án. Tuy nhiên, tại Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP của Chính phủ cũng quy định “ Chấp hành viên thây cần thiết phải xác minh lại”. Tại  khoản 1 Điều 89 Luật Thi hành án dân sự có quy định “Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký”.  Tại khoản 2, Điều 88 Luật Thi hành án dân sự cũng quy định “Việc kê biên tài sản phải lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, …mô tả tình trạng từng tài sản…”.
Như vậy, trước khi cưỡng chế kê biên tài sản, Chấp hành viên vẫn phải tiến hành xác minh hiện trạng tài sản kê biên thì mới có căn cứ để kê biên tài sản nhất là đối với tài sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng để tránh việc sai sót không khắc phục được về sau.
Ví dụ: Để thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 485/2013/QĐST-DS ngày 29/08/2013, Chấp hành viên đã kê biên tài sản (tài sản thế chấp) vào ngày 28/05/2014 và ngày 13/12/2014, Chấp hành viên đã tiến hành thẩm định giá tài sản nhưng vụ việc kéo dài, Chấp hành viên vẫn chưa thể tiến hành ký hợp đồng bán đấu giá tài sản được vì hiện trạng nhà không đúng với thế chấp. Đến ngày 15/9/2015, cơ quan thi hành án mới tiến hành đo vẽ lại hiện trạng nhà để xác định đúng tài sản kê biên để thi hành án.
Trường hợp khác, để thi hành Bản án số 1710/QĐST-KDTM ngày 27/10/2010 của Tòa án nhân dân thành phố H, Chấp hành viên đã ra Quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 105/QĐ-CTHA ngày 01/7/2014 cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tọa lạc tại số 22, đường số 5, khu Bình Đăng. Ngày 25/7/2014, Chấp hành viên thực hiện việc kê biên tài sản và đã tiến hành thủ tục định giá và bán đấu giá tài sản. Tuy nhiên, đến ngày 31/8/2015, Viện kiểm sát thành phố H đã có Quyết định kháng nghị số 261/KSTHADS/QĐ kháng nghị hành vi tổ chức thi hành án dân sự trái pháp luật của Chấp hành viên và kháng nghị Biên bản kê biên tài sản ngày 25/72014; yêu cầu thu hồi, hủy bỏ biên bản kê biên tài sản ngày 25/7/2014 nêu trên. Qua kiểm tra hồ sơ thi hành án cho thấy: Trước khi kê biên, Chấp hành viên đã không yêu cầu Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký đối với nhà đất số 22, đường số 5, khu Bình Đăng; đã tiến hành kê biên khi chưa có bản vẽ hiện trạng; biên bản kê biên không phản ánh rõ tình trạng tài sản kê biên; kê biên quyền sử dụng đất nhưng không ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất. Từ những phân tích trên, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự thành phố H đã phải chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát.
Mặt khác, cần xác định rõ từ nay nhiệm vụ xác minh thi hành án là của Chấp hành viên do Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã chuyển trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án từ người được thi hành án thành trách nhiệm của Chấp hành viên. Tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay”. Tuy nhiên, nhiều Chấp hành viên vẫn để thời hạn này tiếp tục bị vi phạm. Nhiều kháng nghị của Viện Kiểm sát và kết quả kiểm tra của cơ quan quản lý cấp trên cho thấy dạng vi phạm này vẫn khá nhiều. Do đó, Chấp hành viên phải chủ động tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án để có thể đưa ra biện pháp giải quyết phù hợp trong quá trình tổ chức thi hành án. Việc xác minh đối với tài sản để kê biên thì bên cạnh việc xác minh về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất thì phải xác minh thực trạng tài sản kể cả trong trường hợp tài sản cầm cố, thế chấp mà bản án, quyết định của Tòa án tuyên xử lý để tránh tình trạng sau khi kê biên không tiến hành xử lý tài sản được.
- Về việc xác định được phần quyền sở hữu, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung
Theo định tại khoản 3, Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì cơ quan thi hành án chỉ thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án. Tuy nhiên, có trường hợp cơ quan thi hành án đã thực hiện việc kê biên tài sản không phải của người phải thi hành án, không xác định phần quyền sở hữu, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình.
 Ví dụ: Theo quyết định của Bản án số 277/2008/DS-PT ngày 06/8/2008 của Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao thì bà Võ Thị Bích phải trả cho ông E số tiền 4.995.922.000 đồng và tiền lãi do chậm thi hành án.  Để thi hành án, ngày 22/6/2015, Chấp hành viên ban hành Quyết định số 13/QĐ-CTHADS, cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản và thực hiện việc kê biên vào ngày 30/6/2015. Tài sản kê biên gồm quyền sử dụng đất thuộc các thửa: thửa số 190, tờ bản đồ số 16, diện tích 237,7m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02967 ngày 03/01/2006; Thửa số 187, tờ bản đồ số 16, diện tích 202,3m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04763 ngày 16/10/2007; Thửa số 188, tờ bản đồ số 16, diện tích 324,9m2, giấy chứng nhận số H04292 ngày 22/01/2007, cả 3 thửa do Ủy ban nhân dân huyện cấp cho hộ bà Võ Thị Bích; Thửa số 92, tờ bản đồ số 16, diện tích 884,3m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T00277 ngày 27/01/2006 và công trình xây dựng nhà xưởng trên đất có diện tích 987,68m2, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản số 0072 ngày 07/12/2016 do Ủy ban nhân dân tỉnh cấp cho Công ty TNHH P (bà Bích là thành viên của công ty). Như vậy, Chấp hành viên đã kê biên tài sản của Công ty P để thi hành án đối với cá nhân bà Bích là xác định không đúng tài sản của người phải thi hành án, không đúng đối tượng thi hành án.
Ví dụ khác: để thi hành Bản án số 08/2014/DSPT  ngày 29/ 9/ 2014 của Tòa án tỉnh B và Quyết định giám đốc thẩm số 39/2015/KDTM-GĐT ngày 27/5/2015 của Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao, ngày 31/7/2015, Chấp hành viên đã ban hành Quyết định số 34/QĐ-CTHADS về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản đối với: Toàn bộ các tài sản gắn liền trên thửa đất có diện tích đất 28.815 m2; tọa lạc tại một phần lô BI-3 và BI-4 khu công nghiệp P có mục đích sử dụng đất là xây dựng nhà máy chế biến nông sản; thời hạn sử dụng đất là đến hết ngày 31/12/2048; nguồn gốc đất là thuê đất trả tiền hàng năm. Ngày 21/8/2015, Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản đối với tài sản các loại tài sản gắn liền trên đất nói trên tọa lạc tại một phần lô BI-3 và BI-4 khu công nghiệp P để đảm bảo thi hành án theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại buổi cưỡng chế kê biên tài sản, người phải thi hành án vắng mặt không có lý do và khóa cổng nhà xưởng mặc dù Chấp hành viên đã thông báo hợp cho người phải thi hành án biết. Để tổ chức việc cưỡng chế đảm bảo đúng quy định pháp luật, Hội đồng cưỡng chế kê biên tài sản đã thống nhất lập biên bảnvề việc người phải thi hành án vắng mặt, lập biên bản mở khóa cổng để thực hiện việc cưỡng chế kê biên. Tài sản kê biên gồm: Nhà xưởng sản xuất diện tích 16.944m2; Sân bê tông 6.400m2; hồ phòng cháy, chữa cháy; nhà làm việc văn phòng diện tích 275m2; trạm cân 80 tấn; Nhà trạm cân diện tích 31,39m2; tường rào, cổng ngõ; hệ thống thoát nước; nhà bảo vệ diện tích 21,84m2. Hội đồng cưỡng chế không mở khóa các kho và không kê biên tài sản trong kho. Sau khi kê biên, hội đồng cưỡng chế thống nhất niêm phong 02 cổng ra vào của doanh nghiệp và hợp đồng giao cho Công ty V bảo quản tài sản.
Như vậy, mặc dù không ra quyết định kê biên đối với tài sản trong kho, không thực hiện việc kê biên tài sản trong kho của người phải thi hành án nhưng việc Chấp hành viên tiến hành niêm phong kho và niêm phong cổng công ty để giao cho người khác bảo quản tài sản, đồng nghĩa với việc người phải thi hành án đã không thể thực hiện các quyền đối với tài sản hợp pháp của mình, từ đó phát sinh khiếu nại.
- Lập Biên bản kê biên không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 88 Luật Thi hành án dân sự:
Đây là tình trạng vi phạm rất phổ biến, khi lập biên bản kê biên tài sản các Chấp hành viên lập rất chung chung, không mô tả tình trạng kê biên và không đúng diễn biến của quá trình kê biên.
Ví dụ: Để tổ chức thi hành Quyết định thi hành án số  963/QĐ-CCTHA ngày 08/4/2013, ngày 02/7/2013, Chấp hành viên đã tiến hành kê biên tài sản của người phải thi hành án. Tại biên bản kê biên có nội dung giao tài sản cho ông Nguyễn An (người đang thuê nhà) bảo quản, nhưng trên thực tế ông An lại không có mặt tại buổi cưỡng chế và cũng không ký vào biên bản cưỡng chế.
Cũng vụ việc nêu trên, tại biên bản kê biên, xử lý tài sản ngày 21/8/2015, mặc dù người phải thi hành án không có mặt tại hiện trường  và không ký biên bản nhưng biên bản lại ghi “Giao lại các loại tài cưỡng chế kê biên, xử lý cho người phải thi hành án tiếp tục quản lý…… Việc cưỡng chế kê biên được tiến hành công khai, khách quan có sự tham gia trực tiếp của các cơ quan chức năng có liên quan, bên được thi hành án, bên phải thi hành án và người chứng kiến ”, là không đúng với thực tế, dẫn đến việc giải quyết khiếu nại gặp nhiều khó khăn.
- Về việc thẩm định giá
Việc chậm tiến hành thẩm định giá tài sản kê biên diễn ra rất phổ biến. Trong quá trình ký kết hợp đồng với tổ chức thẩm định giá thì việc cung cấp các tài liệu liên quan để làm căn cứ thẩm định giá còn chưa đầy đủ cho nên kết quả thẩm định giá không phản ảnh đúng giá trị tài sản. Trong một số trường hợp kết quả thẩm định giá quá cao dẫn đến không có người đăng ký mua tài sản và việc thi hành án bị kéo dài. Trong một số trường hợp kết quả thẩm định giá đối với nhà xây không phép chỉ là 0 đồng hoặc không tiến hành thẩm định giá đối với phần tài sản đó nhưng vẫn thực hiện việc thông báo bán đấu giá.
Ví dụ: Để thi hành quyết định thi hành án số 1160/QĐ-THA ngày 13/5/2013, Chấp hành viên đã tiến hành kê biên và thực hiện việc kê biên vào ngày 02/12/2013 và ngày 04/12/2013. Chấp hành viên đã kê biên nhà số 07 phố A là 164,61m2 (riêng 84,74m2, chung 79,87m2); nhà số 05A phố A gồm 04 Giấy CNQSH nhà ở và QSDĐ (Hồ sơ gốc số 2579/2003 ngày 25/9/2003 diện tích sử dụng chung là 282,75m2; Hồ sơ gốc số 2580/2003 ngày 25/9/2003 diện tích 234,69m2 (riêng 50,27m2, chung 172,93m2). Ngày 15/8/2014 (sau 8 tháng), Chấp hành viên mới ký hợp đồng thẩm định giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại số 05A và số 07 phố A. Theo Công văn số 4644 ngày 04/6/2014 của Sở Xây dựng thì phần diện tích chung và một phần căn nhà số 05A chưa được nhà nước bán, vẫn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước nhưng Chấp hành viên lại thông báo bán đấu giá cả phần sử dụng chung chung là 282,75m2 là chưa phù hợp.
- Việc bán đấu giá tài sản
Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015  đã quy định tiền bán đấu giá phải nộp vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự. Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2015, nhưng các cơ quan thi hành án đã không kịp thời phối hợp với các tổ chức bán đấu giá để điều chỉnh Hợp đồng bán đấu giá lại tài sản, mặc dù có một số trường hợp vẫn tiến hành ký phụ lục Hợp đồng sau ngày 01/9/2015.
Mặt khác, theo quy định tại khoản 3, Điều 459 Bộ Luật dân sự  thì “Trong trường hợp mua được tài sản bán đấu giá thì khoản tiền đặt trước được trừ vào giá mua; nếu người mua từ chối mua thì không được hoàn trả khoản tiền đó.”. Tại khoản 3, Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 đã quy định “Người mua được tài sản bán đấu giá phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày đấu giá thành”. Do đó, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bán đấu giá thành, cơ quan thi hành án dân sự phải yêu cầu tổ chức bán đấu giá tài sản chuyển số tiền đặt trước vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự.
            Từ những ví dụ và vấn đề nêu trên cho thấy trong quá trình áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản để thi hành án, cần lưu ý các vấn đề sau:
            - Việc xác minh tài sản phải được thực hiện trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án, nội dung xác minh phải rõ ràng và chi tiết như: ai là chủ sở hữu, sử dụng tài sản, tình trạng pháp lý của tài sản; thực trạng của tài sản đó như thế nào và trên thực tế ai là người quản lý tài sản.
            - Đối với trường hợp cần yêu cầu cung cấp thông tin về quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên có phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu cho cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai theo quy định của Thông tư 34/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai.
            - Đối với trường hợp người phải thi hành án có cổ phần hoặc có vốn góp trong doanh nghiệp thì chỉ thực hiện việc kê biên phần tài sản tương ứng với cổ phần hoặc vốn góp của người phải thi hành án trong doanh nghiệp, chứ không thực hiện việc kê biên đối với doanh nghiệp.
            - Mặc dù hiện nay Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn không quy định trong thời hạn bao nhiêu lâu kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế kê biên thì phải tổ chức thực hiện kê biên. Tuy nhiên, sau khi ban hành quyết định cưỡng chế thi hành án, trong trường hợp cần huy động lực lượng thì Chấp hành viên phải xây dựng kế hoạch cưỡng chế hoặc phải ấn định thời gian cưỡng chế để tổ chức thực hiện.
            - Biên bản cưỡng chế phải mô tả tình trạng tài sản kê biên để làm căn cứ cho việc thẩm định giá.
            - Các cơ quan thi hành án cần có sự thống nhất các điều khoản trong các hợp đồng bán đấu giá với các tổ chức bán đấu giá, tránh tình trạng với mỗi tổ chức bán đấu giá lại đưa ra những điều khoản có nội dung khác nhau làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Đối với các hợp đồng bán đấu giá đã ký trước ngày 01/9/2015 thì phải kiểm tra lại điều khoản thanh toán tiền mua tài sản lại để đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015.
Trên đây là những điểm mới liên quan đến việc kê biên, xử lý tài sản để thi hành án và những  sai sót cần rút kinh nghiệm, những vấn đề cần lưu ý trong tổ chức thực hiện việc thi hành án trong thời gian tới, đảm bảo việc thi hành án đúng pháp luật./.  
Tổng số điểm của bài viết là: 16 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Chức năng, nhiệm vụ

Theo quy định tại Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP