14:59 EST Thứ ba, 13/11/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 29


Hôm nayHôm nay : 7217

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 89387

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9183378

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN

Chủ nhật - 13/12/2015 20:55
CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN

Để có hướng dẫn kịp thời trong việc thực hiện các điều luật được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung, ngày 18/7/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ - CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, một số quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung nhằm tạo thuận lợi cho người dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tạo thuận lợi cho cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; đồng thời bảo đảm nguyên tắc người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật.
Thi hành án dân sự là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, duy trì ổn định, trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhằm hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực thi hành án dân sự, ngày 14/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa XII đã thông qua Luật thi hành án dân sự (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009). Đây là văn bản Luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vưỡng chắc để các cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện tốt hơn vai trò, nhiệm vụ của mình trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án nói riêng. Trên cơ sở các quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Tổng cục Thi hành án dân sự đã tham mưu cho Bộ Tư pháp ban hành và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan ban hành được trên 50 văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự, từ Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Thông tư liên tịch đến các văn bản quy phạm pháp luật trong nội bộ Ngành, cơ quan Thi hành án dân sự. Các quy phạm pháp luật nêu trên đã điều chỉnh cơ bản các lĩnh vực của công tác thi hành án dân sự từ tổ chức bộ máy, trình tự, thủ tục thi hành án, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong công tác thi hành án dân sự, kiểm sát, giám sát hoạt động thi hành án dân sự,…Sau 05 năm thi hành, Luật Thi hành án dân sự đã phát huy được hiệu quả trong thực tế cuộc sống, tuy nhiên bên cạnh đó cũng đã bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế, bất cập, thậm chí yếu kém cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Vì vậy, Quốc hội đã bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Ngày 25/11/2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015 (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung)
Để có hướng dẫn kịp thời trong việc thực hiện các điều luật được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung, ngày 18/7/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ - CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2015 và thay thế Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự; Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự; Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự.
Theo đó, một số quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung nhằm tạo thuận lợi cho người dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tạo thuận lợi cho cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; đồng thời bảo đảm nguyên tắc người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật.
1. Những quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trước khi có Luật sửa đổi, bổ sung thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau và số lượng các quy định cũng chiếm số lượng lớn thể hiện tầm quan trọng và vị trí đặc biệt của biện pháp thi hành án này trong thực tiễn hoạt động Thi hành án dân sự.
Cụ thể như sau: 
- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 dành nhiều điều luật quy định các nội dung về cưỡng chế thi hành án dân sự. Chương IV Luật thi hành án dân sự năm 2008 có 09 mục để quy định về biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án (từ mục 2 đến mục 10) với 52 Điều, từ Điều 70 đến Điều 121, trên tổng số 183 Điều.
- Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự.
- Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009.
- Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.
- Thông tư liên tịch số 184/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 19/12/2011 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.
- Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự.
- Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động-Thương binh và xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để thi hành án dân sự.
Theo đó, quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự năm 2008, gồm có sáu biện pháp cưỡng chế sau đây:
a) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
b) Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
c) Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
d) Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
đ) Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
e) Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
1.1. Một số nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Theo quy định tại Điều 46 Luật THADS thì hết thời hạn tự nguyện thi hành án (15 ngày – Điều 45), người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
Trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế theo quy định (khoản 2 Điều 45).
Tại Điều 70 Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định 03 căn cứ để cưỡng chế thi hành án bao gồm: a) Bản án, quyết định: đây là những bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, gồm có: Bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án. Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại. b) Quyết định thi hành án: là quyết định do Thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành, đó có thể là quyết định thi hành án được ban hành theo diện chủ động hoặc theo đơn yêu cầu. c) Quyết định cưỡng chế thi hành án: là quyết định do Chấp hành viên ban hành. Tuy nhiên, trong trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án, thì không phải có quyết định cưỡng chế thi hành án.
Do đó, để thực hiện cưỡng chế thi hành án, pháp luật quy định một số nguyên tắc chung như: xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trước khi cưỡng chế; xây dựng kế hoạch cưỡng chế; thông báo; áp dụng các biện pháp cưỡng chế...Cụ thể như sau:
Thứ nhất, về xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trước khi tiến hành cưỡng chế
Xác minh điều kiện thi hành án dân sự nói chung và điều kiện để cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng là khâu rất quan trọng để bảo đảm cho việc thực hiện cưỡng chế thi hành án thành công. Vì thế phải xác minh đầy đủ, toàn diện các tình tiết liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 44 Luật THADS; Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009; khoản 6 Điều 1 Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013; Điều 4 Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 và mục 1 Chương II của Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014...
Thứ hai, về lựa chọn và áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành án (khoản 1 Điều 8 Nghị định số 58).
Thứ ba, về tài sản không được kê biên
Theo quy định tại Điều 88 Luật THADS 2008 thì các loại tài sản sau không được kê biên:
- Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức.
- Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:
+ Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới.
+ Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình.
+ Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm.
+ Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương.
+ Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình.
+ Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình.
- Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
+ Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
+ Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh.
+ Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.
Thứ tư, về xây dựng kế hoạch cưỡng chế, thời gian không được tổ chức cưỡng chế thi hành án
Việc xây dựng kế hoạch cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 72 Luật THADS 2008 gồm các nội dung: Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu về lực lượng tham gia và bảo vệ cưỡng chế; dự trù chi phí cưỡng chế. Đồng thời, phải gửi ngay kế hoạch cưỡng chế cho Viện kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án. Thống nhất với cơ quan công an về bảo vệ cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Thông tư liên tịch 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an.  
Trong trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp tỉnh và cấp huyện báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu ít nhất là 5 ngày làm việc trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn theo quy định tại khoản 1 Điều 172, khoản 2 Điều 173 và khoản 2 Điều 174 của Luật thi hành án dân sự (khoản 3 Điều 8 Nghị định 58).
Không tổ chức cưỡng chế thi hành án từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau (khoản 2 Điều 46 Luật THADS). Ngoài những trường hợp do Luật thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án (khoản 2 Điều 8 Nghị định 58).
Thứ năm, về thông báo việc cưỡng chế thi hành án
Bảo đảm thực hiện đúng quy định về thông báo thi hành án dân sự nói chung, với hình thức thông báo phù hợp với từng vụ việc cụ thể. Thông báo cho tất cả các đối tượng được thông báo, nhưng đặc biệt chú ý đối với người phải thi hành án, đồng sở hữu và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án. Các văn bản liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án được thông báo theo trình tự, thủ tục được quy định tại Điều 39, 40,41,42,43 Luật THADS 2008; Điều 7 Nghị định số 58, Điều 7 Thông tư liên tịch số 14.
Đối với vụ việc liên quan đến người nước ngoài cần thông báo đến nước ngoài thì thực hiện việc uỷ thác tư pháp thông qua Vụ Pháp luật quốc tế thuộc Bộ Tư pháp theo quy định tại Điều 181 Luật THADS 2008, khoản 34a Điều 1 Nghị định số 125 và Luật Tương trợ tư pháp.
Thứ sáu, về những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện cưỡng chế thi hành án
- Theo quy định tại Điều 88 Luật THADS 2008
+ Trước khi kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
Trường hợp đương sự vắng mặt thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Trường hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được uỷ quyền vắng mặt thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng và ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên. Trường hợp không mời được người làm chứng thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên nhưng phải ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên.
Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công trình kiến trúc nếu vắng mặt người phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng tài sản đó mà phải mở khoá, phá khoá, mở gói thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại Điều 93 Luật THADS 2008.
+ Việc kê biên tài sản phải lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng.
Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản.
- Theo quy định tại Điều 6, 7 Thông tư liên tịch số 14
+ Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án.
Kể từ thời điểm có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác, người phải thi hành án không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, xử lý để thi hành án (khoản 1 Điều 6).
+ Thủ tục giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Toà án theo khoản 4 Điều 179 Luật thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản theo quy định của pháp luật, trường hợp có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án chỉ xử lý tài sản khi có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (khoản 2 Điều 6).
+ Trường hợp người phải thi hành án đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà việc đề nghị không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án và các chi phí liên quan thì Chấp hành viên lập biên bản giải thích cho đương sự về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đối với việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án. Đương sự không bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác còn lại.
Trường hợp tài sản mà người phải thi hành án đề nghị kê biên không đủ để thi hành các nghĩa vụ thi hành án và các chi phí liên quan thì Chấp hành viên phải yêu cầu người phải thi hành án không được thực hiện giao dịch đối với những tài sản khác còn lại (khoản 4 Điều 6).
+ Cơ quan thi hành án chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải thi hành án nếu sau khi đã khấu trừ số dư (tiền Việt Nam, ngoại tệ); xử lý vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá khác; khấu trừ tài sản của người phải thi hành án đang do cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân khác giữ mà vẫn không đủ để thi hành án (khoản 5 Điều 6).
+ Trường hợp thi hành nghĩa vụ về trả tài sản mà người phải thi hành án đã chết nhưng có người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản đó thì cơ quan thi hành án ấn định thời hạn không quá 30 ngày để người quản lý, sử dụng tài sản của người phải thi hành án giao tài sản cho người được thi hành án. Hết thời hạn này mà họ không thực hiện hoặc tài sản không có người quản lý, sử dụng trực tiếp thì cơ quan thi hành án tổ chức giao tài sản, kể cả cưỡng chế giao tài sản cho người được thi hành án theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 7).
+ Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về thanh toán tiền đã chết mà có để lại tài sản thì cơ quan thi hành án có văn bản thông báo, ấn định thời hạn không quá 30 ngày để người thừa kế hoặc người quản lý di sản của người phải thi hành án thoả thuận thực hiện. Hết thời hạn này, nếu người thừa kế hoặc người quản lý di sản không thoả thuận được việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án, thì cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với tài sản để lại của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án, đồng thời ấn định thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo để những người liên quan đến tài sản thực hiện quyền khởi kiện. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 7).
Thứ bảy, về xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp
Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Chấp hành viên yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để thi hành án (Điều 75 Luật THADS 2008, khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14)
Thứ tám, về thực hiện cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung
- Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế
- Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án. Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ (Khoản 1 Điều 74 Luật THADS 2008).
- Theo Khoản 2 Điều 74 Luật THADS 2008, đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án; đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ
- Khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và ấn định cho chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản theo giá đã định trong thời hạn ba tháng đối với bất động sản, một tháng đối với động sản kể từ ngày nhận được thông báo hợp lệ (Điều 223 Bộ Luật Dân sự, Khoản 3 Điều 74 Luật THADS 2008, khoản 10 Điều 1 Nghị định số 125).
Thứ chín, về thực hiện việc giao, nhận tài sản cưỡng chế thi hành án
Tài sản đã được giao trên thực tế cho người được nhận tài sản và người đó đã ký nhận vào biên bản giao, nhận tài sản nhưng sau đó bị đương sự chiếm lại thì cơ quan thi hành án dân sự không có trách nhiệm giao lại tài sản cho người được nhận tài sản. Người đã nhận tài sản có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết (khoản 4 Điều 8 Nghị định số 58).
Từ việc thực hiện một số nguyên tắc chung trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, pháp luật quy định cụ thể những biện pháp cưỡng chế đối với từng loại nghĩa vụ của người phải thi hành và tài sản của họ cũng như những tài sản đặc thù, cụ thể như sau:

Điều 1.          1. 2. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án

Điều 2.          Thứ nhất, về cưỡng chế, xử lý đối với các loại tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền

Điều 3.          a. Cưỡng chế thi hành đối với tài sản là tiềncủa người phải thi hành án

Việc cưỡng chế thi hành án đối với tài sản là tiền bao gồm việc khấu trừ tiền trong tài khoản; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án; thu tiền của người phải thi hành án đang giữ. Cụ thể:
- Đối với việc khấu trừ tiền trong tài khoản được quy định tại Điều 76, 77 Luật THADS 2008, Điều 12 Nghị định số 58, Điều 9, 10 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014.
+ Ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản
Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản đối với một tài khoản hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành án và chi phí cưỡng chế thi hành án (nếu có).
 Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản phải ghi rõ các nội dung sau: Ngày, tháng, năm ban hành quyết định. Căn cứ ban hành quyết định. Họ tên Chấp hành viên. Họ tên người phải thi hành án. Số tài khoản của đương sự. Tên, địa chỉ Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nơi mở tài khoản. Số tiền phải khấu trừ. Số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận khoản tiền bị khấu trừ và thời hạn thực hiện việc khấu trừ.
+ Thực hiện quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản
Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ.
+ Chấm dứt khấu trừ tiền trong tài khoản
Việc phong toả tài khoản được chấm dứt trong các trường hợp sau đây: Người phải thi hành án đã thi hành xong nghĩa vụ thi hành án; Cơ quan, tổ chức đã thực hiện xong yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án; có quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật thi hành án dân sự năm 2008.
Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt việc phong toả tài khoản ngay sau khi có căn cứ nêu trên.
- Đối với việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án (Điều 78 Luật THADS 2008, Điều 11, 12 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014:
+ Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp: Theo thỏa thuận của đương sự; Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
+ Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
 Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản phải ghi rõ các nội dung sau: Ngày, tháng, năm ban hành quyết định. Căn cứ ban hành quyết định. Họ tên người phải thi hành án. Số tiền phải trừ vào thu nhập. Số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận tiền bị khấu trừ. Thời hạn thực hiện việc khấu trừ.
+ Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quyết định trừ vào thu nhập.
+ Trường hợp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án thông qua Bảo hiểm xã hội thì người phải thi hành án có trách nhiệm ký nhận vào danh sách trả lương hưu hoặc tiền trợ cấp mất sức lao động hàng tháng. Trường hợp người phải thi hành án cố tình không ký vào biểu mẫu đã quy định thì cần lập biên bản và Chấp hành viên ký thay đương sự đối với tiền khấu trừ để nhận số tiền khấu trừ đó và chuyển biên lai thu tiền thi hành án cho cơ quan trừ vào thu nhập làm thủ tục quyết toán.
- Đối với việc thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án (Điều 79 Luật THADS 2008, Điều 13 Nghị định số 58)
+ Trường hợp người phải thi hành án có thu nhập từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người đó để thi hành án.
Chấp hành viên thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án theo định kỳ hàng ngày, tuần, tháng, quý hoặc năm tùy theo tính chất ngành nghề kinh doanh của người phải thi hành án.
Khi xác định mức tiền thu từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án, chấp hành viên căn cứ vào kết quả kinh doanh của người phải thi hành án trên cơ sở sổ sách, giấy tờ và tình hình kinh doanh thực tế của người phải thi hành án.
+ Khi thu tiền, Chấp hành viên phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình. Chấp hành viên cấp biên lai thu tiền cho người phải thi hành án.
Mức để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho người phải thi hành án và người được nuôi dưỡng. Việc xác định mức sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và người mà người đó có nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng được căn cứ vào chuẩn nghèo áp dụng đối với địa phương nơi họ sinh sống.
Mức để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động sản xuất kinh doanh do Chấp hành viên ấn định căn cứ vào tính chất ngành, nghề kinh doanh; quy mô kinh doanh của người phải thi hành án và mức ấn định này có thể được điều chỉnh.
- Đối với việc thu tiền của người phải thi hành án đang giữ (Điều 80 Luật THADS 2008)
Trường hợp phát hiện người phải thi hành án đang giữ tiền mà có căn cứ xác định khoản tiền đó là của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền và cấp biên lai cho người phải thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
- Đối với việc thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ (Điều 81 Luật THADS 2008, Điều 14 Nghị định số 58, khoản 7 Điều 1 Nghị định số 125).
Trường hợp phát hiện người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu khoản tiền đó để thi hành án. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho Chấp hành viên để thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền, cấp biên lai cho người thứ ba đang giữ tiền và thông báo cho người phải thi hành án. Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
Tổ chức, cá nhân đang giữ tiền, tài sản của người phải thi hành án mà không thực hiện quyết định của Chấp hành viên về việc giao nộp số tiền, tài sản đó thì bị áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế để thi hành án. Chi phí cưỡng chế thi hành án do người phải thi hành án chịu.
Trường hợp phát hiện tổ chức, cá nhân đang phải trả tiền, tài sản cho người phải thi hành án mà khoản tiền tài sản đó đã được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên yêu cầu tổ chức, cá nhân đó giao nộp số tiền, tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự đê thi hành án. Nếu tổ chức, cá nhân phải trả tiền, tài sản cho người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với tổ chức, cá nhân đó để thu tiền, tài sản thi hành án.
b. Cưỡng chế đối với các tài sản khác
- Cưỡng chế giấy tờ có giá (Điều 82, 83 Luật THADS)
Trường hợp phát hiện người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để thi hành án. Người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án phải chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành án. Việc bán giấy tờ có giá được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
+ Về việc kê biên, sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ (Điều 84 Luật THADS 2008)
Chấp hành viên ra quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.
Khi kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án, tùy từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.
Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.
Chấp hành viên quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp này, Điều 16a Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định Chấp hành viên quyết định chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khai thác, sử dụng theo quy định tại khoản 4 Điều 84 của Luật Sở hữu trí tuệ, thì việc chuyển giao quyền nói trên phải phù hợp với các quy định về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án.
+ Về việc định giá và bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ (Điều 85, 86 Luật THADS 2008; Điều 16, 17 Nghị định số 58)
Quyền sở hữu trí tuệ được định giá và bán đấu giá theo quy định về định giá, bán đấu giá tài sản thi hành án và pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.
Việc định giá quyền sở hữu trí tuệ để thi hành án thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá quyền sở hữu trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu định giá quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí cho việc định giá theo quy định tại Điều 73 của Luật thi hành án dân sự.
Thẩm quyền bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ được phân định thành 2 trường hợp:
a) Tổ chức bán đấu giá thực hiện việc bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ có giá trị trên 10.000.000 đồng.
b) Chấp hành viên thực hiện việc bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ có giá trị đến 10.000.000 đồng hoặc trong trường hợp tại tỉnh, thành phố nơi tổ chức thi hành án chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc tuy có nhưng tổ chức đó từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá.
Việc bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
- Cưỡng chế đối với tài sản là quyền sử dụng đất
+ Theo điều 110 Luật THADS 2008 có quy định về quyền sử dụng đất được kê biên, bán đấu giá để thi hành án. Theo đó, chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó.
Ngoài ra, việc kê biên đối với tài sản là quyền sử dụng đất còn được thực hiện theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC -VKSNDTC ngày 26/7/2010
+ Theo Điều 111 Luật THADS 2008 có quy định về kê biên quyền sử dụng đất đó là: Khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự. Khi kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trường hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất.
Việc kê biên quyền sử dụng đất phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên.
Trường hợp tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng diện tích đất đã kê biên được quy định tại Điều 112 Luật THADS 2008:
Trường hợp diện tích đất đã kê biên đang do người phải thi hành án quản lý, khai thác, sử dụng thì Chấp hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho người đó. Trường hợp diện tích đất đã kê biên đang do tổ chức hoặc cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng thì tạm giao cho tổ chức, cá nhân đó.
Trường hợp người phải thi hành án hoặc tổ chức, cá nhân nêu trên không nhận thì Chấp hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho tổ chức, cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng. Trường hợp không có tổ chức, cá nhân nào nhận thì cơ quan thi hành án dân sự tiến hành ngay việc định giá và bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
+ Việc tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ: Diện tích, loại đất, vị trí, số thửa đất, số bản đồ. Hiện trạng sử dụng đất. Thời hạn tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất. Quyền và nghĩa vụ cụ thể của người được tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất.
Trong thời hạn tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên, người được tạm giao không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp, hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất; không được sử dụng đất trái mục đích.
+ Xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên(Điều 113 Luật THADS 2008)
Trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác thì xử lý như sau:
Đối với tài sản có trước khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải thi hành án thoả thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà họ không thoả thuận được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và người có tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp người có tài sản là người thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mà không hình thành pháp nhân mới thì người có tài sản được quyền tiếp tục ký hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn còn lại của hợp đồng mà họ đã ký kết với người phải thi hành án. Trường hợp này, trước khi xử lý quyền sử dụng đất, Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người tham gia đấu giá, người được đề nghị nhận quyền sử dụng đất về quyền được tiếp tục ký hợp đồng của người có tài sản gắn liền với đất.
Đối với tài sản có sau khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất.
Đối với tài sản có sau khi kê biên, nếu người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì tài sản phải bị tháo dỡ. Chấp hành viên tổ chức việc tháo dỡ tài sản, trừ trường hợp người nhận quyền sử dụng đất hoặc người trúng đấu giá quyền sử dụng đất đồng ý mua tài sản.
Người có tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án được hoàn trả tiền bán tài sản, nhận lại tài sản, nếu tài sản bị tháo dỡ nhưng phải chịu các chi phí về kê biên, định giá, bán đấu giá, tháo dỡ tài sản.
Trường hợp tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án gắn liền với quyền sử dụng đất đã kê biên thì Chấp hành viên xử lý tài sản cùng với quyền sử dụng đất.
Trường hợp tài sản là cây trồng, vật nuôi ngắn ngày chưa đến mùa thu hoạch hoặc tài sản đang trong quy trình sản xuất khép kín chưa kết thúc thì sau khi kê biên, Chấp hành viên chỉ tiến hành xử lý khi đến mùa thu.
- Cưỡng chế khai thác đối với tài sản
+ Cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án (Điều 107 Luật THADS 2008)
Chấp hành viên cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án trong trường hợp tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án hoặc người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
Chấp hành viên phải ra quyết định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết định ghi rõ hình thức khai thác; số tiền, thời hạn, thời điểm, địa điểm, phương thức nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.
Quyết định cưỡng chế khai thác tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối với tài sản đó và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản.
Việc thực hiện giao dịch, chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối với tài sản đang khai thác phải được sự đồng ý của Chấp hành viên.
+ Hình thức cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án (Điều 108 Luật THADS 2008)
Tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức sau đây:Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác; Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản.
Người khai thác tài sản này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp đồng khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.
+ Chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản (Điều 109 Luật THADS 2008)
Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản trong các trường hợp sau đây: Việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án; Người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản; Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án; Có quyết định đình chỉ thi hành án.
Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt do việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án hoặc người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản, thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để thi hành án.
Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt do người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án, thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định, Chấp hành viên ra quyết định giải toả việc cưỡng chế khai thác tài sản và trả lại tài sản cho người phải thi hành án.
Thứ hai, về cưỡng chế trả vật, giấy tờ, chuyển quyền sử dụng đất
a. Thủ tục cưỡng chế trả vật (Điều 114 Luật THADS 2008)
- Đối với vật đặc định, việc cưỡng chế được thực hiện như sau:
+ Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi hành án; nếu người đó không thi hành thì Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người được thi hành án.
+ Trường hợp vật phải trả giảm giá trị mà người được thi hành án không đồng ý nhận thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thoả thuận việc thi hành án. Việc thi hành án được thực hiện theo thoả thuận.
Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì Chấp hành viên cưỡng chế trả vật cho người được thi hành án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả bị giảm giá trị.
+ Trường hợp vật không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thoả thuận khác về việc thi hành án thì Chấp hành viên thi hành theo thoả thuận.
Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.
- Đối với vật cùng loại thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung bản án, quyết định.
Trường hợp vật phải trả không còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác.
- Trường hợp người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng vật phải trả có thể tẩu tán, huỷ hoại vật đó thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 68 của Luật thi hành án dân sự năm 2008.
b. Cưỡng chế trả nhà, giao nhà (Điều 115 Luật THADS 2008)
+ Trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà.
Trường hợp họ từ chối nhận tài sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản.
+ Trường hợp người phải thi hành án cố tình vắng mặt mặc dù đã được thông báo quyết định cưỡng chế thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế.
+ Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày thông báo mà người có tài sản bảo quản không đến nhận thì tài sản đó được xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 126 Luật THADS 2008, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
+ Việc cưỡng chế để trả lại công trình xây dựng, vật kiến trúc theo bản án, quyết định được thực hiện theo quy định về cưỡng chế trả nhà.
+ Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định.
c. Cưỡng chế trả giấy tờ (Điều 116 Luật THADS 2008)
Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế buộc người phải thi hành án trả giấy tờ cho người được thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó trả giấy tờ để thi hành án.
Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ giấy tờ phải trả thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó giao giấy tờ để thi hành án.
Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án. Đối với giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án và hướng dẫn đương sự khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết.
d. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất (Điều 117 Luật THADS 2008)
- Trường hợp bản án, quyết định tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên tổ chức giao diện tích đất cho người được thi hành án. Khi tiến hành giao đất phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao.
- Việc xử lý tài sản gắn liền với đất được chuyển giao thực hiện theo quy định sau đây:
+ Trường hợp tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Nếu người có tài sản không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Chi phí cưỡng chế do người có tài sản chịu.
Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản.
Hết thời hạn thông báo mà người có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật thi hành án dân sự năm 2008.
+ Trường hợp tài sản gắn liền với đất có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm nhưng bản án, quyết định được thi hành không tuyên rõ việc xử lý đối với tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Toà án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lý đối với tài sản hoặc đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Việc cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá hoặc cho người nhận quyền sử dụng đất để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện theo quy định về cưỡng chế chuyển quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Tòa án.
Thứ ba, về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định
a. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định(Điều 118 Luật THADS 2008)
- Trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
- Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên xử lý như sau:
Trường hợp công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì Chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu.
Trường hợp công việc đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
b. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định (Điều 119 Luật THADS 2008)
Người phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu. Trường hợp người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
c. Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định(Điều 120 Luật THADS 2008)
Chấp hành viên ra quyết định buộc giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, Chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
d. Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc (Điều 121 Luật THADS 2008, Điều 21 Nghị định số 58)
- Theo quy định tại Điều 121 Luật thi hành án dân sự thì trường hợp người sử dụng lao động không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá nhân hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động thực hiện việc nhận người lao động trở lại làm việc. Hết thời hạn đã ấn định mà người sử dụng lao động không thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Trường hợp không thể bố trí người lao động trở lại làm công việc theo nội dung bản án, quyết định thì người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án.
Người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người lao động được nhận trở lại làm việc.
- Điều 21 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ đã quy định cụ thể hơn, theo đó người sử dụng lao động không tự nguyện thanh toán tiền lương cho người lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 121 Luật Thi hành án dân sự thì bị áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên có nội dung buộc người sử dụng lao động phải tiếp tục trả lương cho người lao động kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến ngày nhận người lao động trở lại làm việc thì việc thi hành án được thực hiện theo đúng nội dung của bản án, quyết định.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên không có nội dung buộc người sử dụng lao động phải tiếp tục trả lương cho người lao động kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến ngày nhận người lao động trở lại làm việc thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 121 Luật Thi hành án dân sự.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như của người thứ ba có liên quan, vì vậy, đòi hỏi việc áp dụng phải thận trọng, chặt chẽ. Hồ sơ thi hành án phải đảm bảo thể hiện đầy đủ các quyết định đã ban hành, các hoạt động thi hành án đã thực hiện của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, của Chấp hành viên, các giấy tờ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ tư, về việc thực hiện việc kê biên trong một số trường hợp cụ thể
a. Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 89 Luật THADS 2008)
Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký.
Sau khi kê biên, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Luật THADS 2008.
b. Kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp (Điều 90 Luật THADS 2008, khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14)
- Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.
Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán.
- Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án; yêu cầu người nhận cầm cố, thế chấp thông báo để cơ quan thi hành án kê biên tài sản đã cầm cố, thế chấp khi người vay thanh toán hợp đồng đã ký hoặc để kê biên phần tiền, tài sản còn lại (nếu có) sau khi tài sản bị bên nhận cầm cố, thế chấp xử lý để thanh toán hợp đồng đã ký (khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14).
c. Kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ (Điều 91 Luật THADS 2008)
Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án, kể cả trường hợp tài sản được xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành án.
Trường hợp tài sản kê biên đang cho thuê thì người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết.
d. Kê biên vốn góp(Điều 92 Luật THADS 2008)
Chấp hành viên yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó. Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành án.
Đương sự có quyền yêu cầu Toà án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án.
đ. Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói (Điều 93 Luật THADS 2008)
Khi kê biên đồ vật đang bị khoá hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý đồ vật mở khoá, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khoá, phá khoá hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khoá, phá khóa, mở gói.
Trường hợp cần thiết, sau khi mở khoá, phá khoá, mở gói, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định. Việc mở khoá, phá khoá, mở gói hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người làm chứng.
e. Kê biên tài sản gắn liền với đất (Điều 94 Luật THADS 2008)
Khi kê biên tài sản là công trình xây dựng gắn liền với đất phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc tách rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó.
g. Kê biên nhà ở (Điều 95 Luật THADS 2008)
Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.
Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.
Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.
Việc kê biên nhà ở bị khoá được thực hiện như sau: Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý nhà ở mở khoá; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khoá, phá khoá, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khoá, phá khóa. Trường hợp cần thiết, sau khi mở khoá, phá khoá, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định. Việc mở khoá, phá khoá hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người làm chứng.
h. Kê biên phương tiện giao thông (Điều 96 Luật THADS 2008)
Trường hợp kê biên phương tiện giao thông của người phải thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng phương tiện đó phải giao giấy đăng ký phương tiện đó, nếu có.
Đối với phương tiện giao thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có thể thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp.
Trường hợp giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng phương tiện giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó biên bản thu giữ giấy đăng ký để phương tiện được phép tham gia giao thông.
Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, cho thuê hoặc hạn chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên.
Việc kê biên đối với tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.
k. Kê biên hoa lợi (Điều 97 Luật THADS 2008)
Trường hợp người phải thi hành án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 87 của Luật thi hành án dân sự năm 2008.
Thứ năm, về định giá tài sản kê biên (Điều 98 Luật THADS 2008, Điều 15 Nghị định số 58; khoản 8, điểm 1 khoản 9 Điều 1 Nghị định số 125)
a. Về thẩm quyền
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định việc xác định giá tài sản đã kê biên chủ yếu do tổ chức thẩm định giá, đó là tổ chức độc lập ngoài cơ quan thi hành án, trong địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cơ quan thi hành án dân sự ký kết hợp đồng dịch vụ tiến hành, nếu như đương sự không có thoả thuận hoặc không thỏa thuận được về giá. Chấp hành viên chỉ có thẩm quyền xác định giá tài sản trong trường hợp nhất định. Cụ thể như sau:
- Tổ chức thẩm định giá sẽ thẩm định giá trong các trường hợp sau đây:
+ Trường hợp đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm định giá: Ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thoả thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá. thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
+ Đương sự không thoả thuận được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá.
+ Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
+ Thi hành phần bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này (trường hợp thuộc diện Thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án).
- Chấp hành viên xác định giá trong các trường hợp sau đây:
+ Không thực hiện được việc ký hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật thi hành án dân sự.
+ Tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thoả thuận được với nhau về giá. Tài sản kê biên có giá trị nhỏ là tài sản mà tại thời điểm xác định giá, sản phẩm cùng loại chưa qua sử dụng có giá bán trên thị trường không quá 5.000.000 đồng.
Khi xác định giá tài sản kê biên tài sản Chấp hành viên tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan trước khi xác định giá của tài sản kê biên. Việc tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan phải lập thành văn bản hoặc biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn đó. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Chấp hành viên mà cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn không có ý kiến bằng văn bản thì Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cùng cấp chỉ đạo các cơ quan chuyên môn có ý kiến để Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên.
b. Về định giá lại tài sản kê biên
Tại Điều 99 Luật THADS 2008; điểm 2, 3 khoản 9 Điều 1 Nghị định số 125 quy định thực hiện trong các trường hợp sau đây:
Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp:
- Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 Luật THADS 2008 dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản.
Trường hợp có căn cứ chứng minh kết quả thẩm định giá trước đó không khách quan, có tiêu cực làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của mình thì đương sự có quyền đề nghị thuê tổ chức thẩm định giá khác thẩm định lại và phải chịu chi phí thẩm định lại trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá theo điểm a khoản 1 Điều 99 Luật thi hành án dân sự.
- Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản.
Trường hợp đương sự yêu cầu định giá lại tài sản kê biên trước khi có thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 99 Luật thi hành án dân sự hoặc yêu cầu định giá lại tài sản bán đấu giá không thành, không có người đăng ký tham gia đấu giá, trả giá thì Chấp hành viên tổ chức định giá lại tài sản kê biên. Chấp hành viên thông báo cho đương sự biết về việc người yêu cầu định giá lại phải chịu chi phí định giá lại tài sản theo quy định của pháp luật.
- Việc yêu cầu định giá lại tài sản theo quy định tại khoản này chỉ được thực hiện một lần trước khi thông báo lần đầu về bán đấu giá tài sản và một lần đối với tài sản bán đấu giá không thành, không có người đăng ký tham gia đấu giá, trả giá. Yêu cầu định giá lại chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn sau:
        + 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá đối với tài sản thông báo đấu giá tài sản lần đầu;
+ 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo bán đấu giá không thành, không có người đăng ký tham gia đấu giá, trả giá.
Thứ sáu, về bán tài sản đã kê biên, giao tài sản bán đấu giá, hủy kết quả bán đấu giá và xử lý tài sản bán đấu giá không thành
Sau khi tài sản đã được xác định giá, thì tuỳ theo giá trị, loại tài sản Chấp hành viên xác định phương thức bán tài sản để thi hành án.
a. Bán tài sản kê biên
- Về hình thức, thẩm quyền bán tài sản đã kê biên được quy định tại Điều 101 Luật THADS 2008, cụ thể:
+ Tài sản đã kê biên được bán theo các hình thức: Bán đấu giá. Bán không qua thủ tục đấu giá.
+ Việc bán đấu giá đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện.
Đương sự có quyền thoả thuận về tổ chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá. Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thoả thuận. Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.
Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.
Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng.
- Chấp hành viên bán đấu giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
+ Tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.
+ Động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá.
Chấp hành viên bán không qua thủ tục bán đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng.
Việc bán tài sản phải được thực hiện trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên.
Trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá.
Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Thủ tục bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
b. Huỷ kết quả bán đấu giá tài sản (Điều 102 Luật THADS 2008)
Đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản.
Trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ theo bản án, quyết định của Toà án thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ được giải quyết theo quy định của pháp luật.
c. Giao tài sản bán đấu giá (Điều 103 Luật THADS 2008)
Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không giao tài sản bán đấu giá cho người mua được tài sản thì thủ tục cưỡng chế giao tài sản được thực hiện theo quy định tại các điều 114, 115, 116 và 117 của Luật thi hành án dân sự 2008.
d. Xử lý tài sản bán đấu giá không thành (Điều 104 Luật THADS 2008, Điều 17a Nghị định số 125)
- Sau hai lần niêm yết, thông báo công khai theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản mà không có người tham gia đấu giá, trả giá thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự biết về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định.
- Sau ba lần giảm giá mà không có người tham gia đấu giá, trả giá thì tài sản được xử lý như sau:
+ Nếu người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án. Đối với tài sản là bất động sản và tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án;
+ Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá, nếu tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 Luật Thi hành án dân sự.
+ Trước khi giảm giá tài sản, Chấp hành viên yêu cầu các đương sự thỏa thuận mức giảm giá. Nếu các đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định mức giảm giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định.
Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án.
Thứ bảy, về giải toả kê biên tài sản (Điều 105 Luật THADS 2008)
Việc giải toả kê biên tài sản được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
- Đương sự thoả thuận về việc giải toả kê biên tài sản mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;
- Đương sự đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi hành án;
- Có quyết định của người có thẩm quyền hủy bỏ quyết định kê biên tài sản;
- Có quyết định đình chỉ thi hành án.
 Chấp hành viên ra quyết định giải toả kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ giải toả kê biên tài sản nêu trên.
Thứ tám, về đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản (Điều 106 Luật THADS 2008)
Người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những văn bản, giấy tờ quy định cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.
Hồ sơ đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có:
- Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự.
- Bản sao bản án, quyết định.
- Quyết định thi hành án, quyết định kê biên tài sản.
- Văn bản bán đấu giá thành hoặc biên bản giao nhận tài sản để thi hành án.
-  Giấy tờ khác có liên quan đến tài sản, nếu có.
Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất mà không có giấy chứng nhận hoặc không thu hồi được giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu.
Giấy tờ được cấp mới có giá trị thay thế cho giấy tờ không thu hồi được.
1.3. Chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự
Thứ nhất, về đối tượng phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự
Chi phí cưỡng chế thi hành án được xác định là các khoản chi phí do người phải thi hành án chịu để tổ chức cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp pháp luật quy định chi phí cưỡng chế thi hành án do người được thi hành án hoặc do ngân sách nhà nước chi trả.
a. Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây (khoản 1 Điều 73 Luật THADS 2008, khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 184/2014/TTLT-BTC-BTP):
- Chi phí thông báo về cưỡng chế:
+ Chi phí thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, đài phát thanh, báo chí).
+ Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án (cán bộ thi hành án, đại diện chính quyền địa phương, đại diện tổ chức xã hội và các thành phần khác).
- Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án.
- Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, định giá lại tài sản, bán đấu giá tài sản:
+ Chi phí định giá, định giá lại tài sản:
Chi phí thẩm định giá, thẩm định giá lại tài sản: Giá dịch vụ thẩm định giá, thẩm định giá lại tài sản theo hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá.
Chi phí liên quan đến việc định giá trong trường hợp Chấp hành viên thực hiện việc xác định giá tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự: chi bồi dưỡng cho các thành viên họp xác định giá, xác định giá lại tài sản.
Chi giám định tài sản: Phí giám định tài sản và một số khoản chi thực tế hợp pháp để thực hiện việc giám định tài sản.
+ Chi phí bán đấu giá tài sản:
Phí bán đấu giá theo quy định và các chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán đấu giá trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự ủy quyền cho tổ chức bán đấu giá tài tài sản.
Tiền thuê địa điểm, phương tiện phục vụ tổ chức bán đấu giá, niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tổ chức tiến hành bán đấu giá tài sản để thi hành án.
- Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án.
- Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu:
+ Chi thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, thuê địa điểm và các khoản chi phí thực tế hợp pháp khác phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện biện pháp bảo đảm tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu.
+ Chi bồi dưỡng cho các đối tượng trực tiếp thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu.
- Chi bồi dưỡng cho Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án, kiểm sát viên, cảnh sát, dân quân tự vệ, đại diện chính quyền địa phương, đại diện tổ dân phố, trưởng thôn, già làng, trưởng bản và một số đối tượng khác trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự và bảo vệ cưỡng chế.
b. Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây (Khoản 2 Điều 73 Luật THADS 2008, khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch số 184/2014/TTLT-BTC-BTP):
- Chi phí xác minh điều kiện thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự đối với trường hợp người được thi hành án có đơn yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án, người được thi hành án chịu các chi phí:
+ Chi tiền công tác phí cho các đối tượng tham gia vào việc xác minh điều kiện thi hành án.
+ Chi bồi dưỡng cho các đối tượng tham gia vào quá trình xác minh điều kiện thi hành án.
+ Các chi phí khác phục vụ trực tiếp cho việc xác minh điều kiện thi hành án.
- Chi phí định giá lại tài sản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch 184/2014/TTLT-BTC-BTP nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá.
- Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ. 
Trường hợp người được thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án không đúng thì người đó phải thanh toán các khoản chi phí thực tế do việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án đó.
c. Ngân sách nhà nước bảo đảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án (Khoản 3 Điều 73 Luật THADS 2008, khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch số 184/2014/TTLT-BTC-BTP):
Các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án do Ngân sách Nhà nước bảo đảm, bao gồm:
- Chi phí họp bàn cưỡng chế do Chấp hành viên tổ chức họp với các cơ quan liên quan trước khi tiến hành cưỡng chế.
- Chi phí cho việc bố trí phiên dịch, biên dịch trong trường hợp đương sự là người dân tộc thiểu số của Việt Nam mà không biết tiếng Việt và trường hợp đương sự là người nước ngoài.
- Chi phí định giá lại tài sản trong trường hợp có vi phạm quy định về định giá theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự.
- Phí, chi phí bán đấu giá tài sản tài sản không thành theo quy định tại khoản 3 Điều 43 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ.
- Chi phí xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp chủ động thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự.
- Chi phí cưỡng chế thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án, người được thi hành án được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ.
- Chi phí cưỡng chế trong trường hợp không thu được tiền của người phải thi hành án. Bộ Tư pháp quy định cụ thể đối với các trường hợp này.
- Chi phí khi đang tiến hành tổ chức cưỡng chế nhưng phải ngừng, đình chỉ vì các lý do sau:
+ Do sự kiện bất khả kháng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 2 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ;
+ Trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại điểm a, điểm b, điểm d, điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự.
Đối với các trường hợp tạm ngừng, đình chỉ vì các lý do chủ quan của người được thi hành án hoặc người phải thi hành án thì chi phí cưỡng chế thi hành án đến thời điểm tạm ngừng, đình chỉ do đối tượng gây tạm ngừng, đình chỉ chịu.
- Các khoản chi cho việc áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài liệu của người phải thi hành án trong trường hợp người thi hành án được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật hoặc trường hợp không thu được tiền của người phải thi hành án.
- Toàn bộ chi phí cưỡng chế và chi phí định giá, định giá lại tài sản đã thực hiện nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền huỷ toàn bộ quá trình cưỡng chế.
Thứ hai, về mức chi cưỡng chế thi hành án (Điều 3 Thông tư liên tịch số 184/2011/TTLT-BTC-BTP)
- Chi cho các thành viên tham gia họp bàn cưỡng chế thi hành án, các thành viên họp định giá và định giá lại giá tài sản:
+ Chủ trì: 100.000 đồng/người/ngày;
+ Thành viên: 70.000 đồng/người/ngày.
- Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án
+ Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án, kiểm sát viên, cảnh sát, dân quân tự vệ, đại diện chính quyền địa phương trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án
 Người chủ trì: mức 100.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế;
 Đối tượng khác: mức 70.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.
+ Đại diện tổ dân phố, trưởng thôn, già làng, trưởng bản và các đối tượng khác được huy động tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp cần thiết: mức 70.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.   
- Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án; những người trực tiếp thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ
+ Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án, kiểm sát viên, cảnh sát: Mức 50.000 đồng/người/ngày.
+ Dân quân tự vệ, đại diện chính quyền địa phương và các đối tượng khác: Mức 70.000 đồng/người/ngày. 
- Chi công tác phí cho các đối tượng đi xác minh điều kiện thi hành án:
Thực hiện theo Thông tư số 97/2010/TT-BTC ngày 6/7/2010 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị trong cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.
- Chi thuê phiên dịch
+ Phiên dịch tiếng dân tộc: Tối đa 200% mức lương tối thiểu chung, tính theo lương ngày do Nhà nước quy định cho khu vực quản lý hành chính.
+ Phiên dịch tiếng nước ngoài: Thực hiện theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về mức chi dịch thuật trong chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài và chi tiêu tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam.
- Các chi phí
Chi phí thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ cưỡng chế; chi phí phòng cháy, nổ; thuê địa điểm, phương tiện để tổ chức bán đấu giá; phí thẩm định giá; phí bán đấu giá; thuê trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản và các khoản chi khác có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án được thực hiện căn cứ theo hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hoá đơn, chứng từ chi tiêu thực tế, hợp pháp, hợp lệ theo quy định và được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt.
Thứ ba, về việc miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự (Điều 32 Nghị định số 58)
- Đương sự là cá nhân có thể được Thủ trưởng cơ quan thi hành án có thẩm quyền tổ chức thi hành án xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Có thu nhập không đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu để sinh sống bình thường (mức thu nhập tối thiểu được xác định theo chuẩn nghèo của Nhà nước ban hành theo từng thời kỳ cụ thể) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn.
+ Thuộc diện gia đình chính sách, có công với cách mạng.
+ Thuộc diện neo đơn, tàn tật, ốm đau kéo dài.
- Đương sự phải làm đơn đề nghị xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án nêu rõ lý do đề nghị xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
Kèm theo đơn phải có giấy tờ chứng minh lý do đề nghị xét miễn, giảm thi hành án. Đương sự có khó khăn về kinh tế, thuộc diện neo đơn phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, sinh sống hoặc xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó nhận thu nhập. Đương sự là gia đình chính sách, có công với cách mạng phải có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp để chứng minh. Đương sự bị tàn tật, ốm đau kéo dài phải có xác nhận của Hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan y tế cấp huyện trở lên.
- Mức miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án được xác định như sau:
+ Đương sự thuộc diện có thu nhập không đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu để sinh sống bình thường hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn hoặc thuộc diện neo đơn, tàn tật, ốm đau kéo dài, thì được xét giảm năm mươi phần trăm (50%) số tiền chi phí cưỡng chế thi hành án phải nộp.
+ Đương sự thuộc diện có thu nhập không đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu để sinh sống bình thường hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn đã thi hành được ít nhất 1/2 chi phí cưỡng chế thì có thể được xét miễn chi phí cưỡng chế thi hành án còn lại.
- Người có lỗi trong việc vi phạm thủ tục về định giá tài sản, trong việc ra quyết định miễn, giảm chi phí cưỡng chế sai quy định dẫn đến việc ngân sách nhà nước phải trả chi phí cưỡng chế có trách nhiệm bồi hoàn khoản tiền đó cho ngân sách nhà nước.
Quyết định xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế sẽ bị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hủy bỏ trong trường hợp phát hiện đối tượng bị cưỡng chế có hành vi tẩu tán, cất giấu tiền, tài sản nhằm trốn tránh việc thi hành án hoặc cung cấp các căn cứ không đúng sự thật để được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
Thứ tư, việc tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án khi chưa thu được của các đương sự (Điều 4 Thông tư liên tịch số 184/2011/TTLT-BTC-BTP)
- Tạm ứng chi phí tổ chức cưỡng chế thi hành án
+ Chi phí cưỡng chế thi hành án do người phải thi hành án, người được thi hành án nộp hoặc được khấu trừ vào tiền bán đấu giá tài sản đã bị kê biên hoặc khấu trừ vào tài sản của người phải thi hành án đang do người khác giữ, thuê, vay, mượn, sửa chữa.
Trong khi chưa thu được chi phí cưỡng chế thi hành án của người phải thi hành án, người được thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ứng trước kinh phí cho các Chấp hành viên để tổ chức cưỡng chế thi hành án từ nguồn dự toán kinh phí được cấp có thẩm quyền giao cho cơ quan thi hành án dân sự.
+ Ngân sách nhà nước bố trí một khoản kinh phí trong dự toán của cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án. Mức bố trí cụ thể cho từng cơ quan thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp giao sau khi thống nhất với Bộ Tài chính trong phạm vi dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
-  Thủ tục Chấp hành viên tạm ứng và hoàn tạm ứng kinh phí cưỡng chế thi hành án
+ Tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án:
Trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên phải lập và trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt kế hoạch cưỡng chế thi hành án (trừ trường hợp phải cưỡng chế ngay). Kế hoạch cưỡng chế gồm các nội dung theo quy định tại Điều 72 Luật Thi hành án dân sự: biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; lực lượng tham gia (số lượng người, thành phần tham gia); dự toán chi phí phục vụ cho cưỡng chế.
Dự toán chi phục vụ cưỡng chế được lập căn cứ vào nội dung chi, mức chi và thông báo cho đương sự biết trước ngày tiến hành cưỡng chế theo quy định tại Điều 39, 40, 41, 42, 43 của Luật Thi hành án dân sự.
Trên cơ sở kế hoạch cưỡng chế được phê duyệt, Chấp hành viên làm thủ tục tạm ứng kinh phí cho hoạt động cưỡng chế từ nguồn kinh phí được ngân sách nhà nước giao cho cơ quan thi hành án dân sự.
Hồ sơ, biểu mẫu về tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án thực hiện theo quy định tại Thông tư số 91/2010/TT-BTC ngày 17/6/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thi hành án dân sự.
+ Hoàn tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án:
Khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền của người phải thi hành án, người được thi hành án, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng chi cưỡng chế thi hành án trước đó cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự.
Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các đối tượng phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án để thu hồi kinh phí đã tạm ứng. Cuối quý, năm, cơ quan thi hành án dân sự tổng hợp báo cáo việc sử dụng kinh phí tạm ứng tổ chức cưỡng chế thi hành án (số kinh phí đã tạm ứng, số kinh phí đã thu hồi được; số kinh phí tạm ứng chưa thu hồi, nguyên nhân chưa thu hồi...) với cơ quan quản lý cấp trên. Bộ Tư pháp tổng hợp, gửi Bộ Tài chính cùng với báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm.
Hồ sơ và biểu mẫu hoàn tạm ứng chi phí cưỡng chế và thanh toán tiền thi hành án đã được quy định tại Thông tư số 91/2010/TT-BTC ngày 17/6/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thi hành án dân sự.
Thứ năm, việc lập dự toán kinh phí cưỡng chế thi hành án (Khoản Điều 5 Thông tư liên tịch số 184/2011/TTLT-BTC-BTP)
Việc lập dự toán, chấp hành, quyết toán chi phí cưỡng chế thi hành án thuộc nhiệm vụ ngân sách nhà nước chi thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Lập dự toán
Hàng năm, trên cơ sở số kinh phí tạm ứng cưỡng chế đã bố trí trong dự toán chi ngân sách của các cơ quan thi hành án dân sự từ những năm trước được chuyển sang để tiếp tục thực hiện, các cơ quan thi hành án dân sự lập dự toán kinh phí thực hiện cưỡng chế thi hành án, trong đó tách riêng làm hai phần:
+ Kinh phí tạm ứng cưỡng chế thi hành án khi chưa thu được của các đương sự: Lập dự toán kinh phí tạm ứng cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp do chia tách tỉnh, huyện; phần kinh phí đã tạm ứng cưỡng chế nhưng không có khả năng thu hồi của người phải thi hành án, người được thi hành án hoặc một số trường hợp đặc biệt khác cần phải tăng hoặc giảm mức tạm ứng ban đầu gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp chung vào dự toán chi ngân sách hàng năm theo quy định.
+ Kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án.
- Chấp hành dự toán, quyết toán
+ Phân bổ dự toán: Trên cơ sở kinh phí thực hiện nhiệm vụ cưỡng chế thi hành án đã được bố trí trong dự toán hàng năm, Bộ Tư pháp phân bổ và giao kinh phí ngân sách để tạm ứng chi cưỡng chế thi hành án cho các cơ quan thi hành án dân sự vào phần kinh phí không thực hiện tự chủ sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Tài chính.
+ Điều chỉnh dự toán: Trong trường hợp xét thấy cần điều chỉnh dự toán kinh phí tạm ứng cưỡng chế thi hành án của các cơ quan thi hành án dân sự đã được giao, Bộ Tư pháp quyết định điều chỉnh phân bổ dự toán giữa các cơ quan thi hành án dân sự trong phạm vi nguồn kinh phí tạm ứng cưỡng chế thi hành án đã được ngân sách nhà nước giao.
+ Kinh phí bố trí tạm ứng chi cưỡng chế thi hành án được chuyển sang năm sau tiếp tục thực hiện.
+ Việc quyết toán kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự thực hiện theo quy định hiện hành.
2. Tình hình thực hiện quy định của pháp luật liên quan đến cưỡng chế thi hành án trong thời gian qua và những vấn đề, sai sót cần lưu ý
Qua theo dõi, tổng hợp của Tổng cục Thi hành án dân sự thì trong năm công tác 2015 (từ 01/10/2014 đến 30/9/2015) các cơ quan Thi hành án dân sự trong toàn quốc đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với 12.574 trường hợp/599.436 việc có điều kiện giải quyết. Nhưng thực tế, tổng số việc phải tổ chức cưỡng chế là 11.064 trường hợp (do có 1.510 trường hợp đương sự tự nguyện thi hành) và trong số các việc phải tổ chức cưỡng chế có 6.777 trường hợp cưỡng chế có huy động lực lượng liên ngành[1].
Như vậy, qua số liệu nêu trên cho thấy: trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án nên các cơ quan Thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án còn nhiều; việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự là cần thiết.
Tuy nhiên, qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác hướng dẫn nghiệp vụ của Tổng cục Thi hành án dân sự; công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm sát của các cơ quan chức năng các năm gần đây cho thấy: trong quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên còn có các thiếu sót, sai phạm. Có thể chỉ ra một số sai sót chủ yếu, cần lưu ý để tránh lặp lại như sau:
- Chậm xử lý tài sản đã kê biên:
Một số vụ việc, Chấp hành viên đã ra quyết định cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án, hoặc bản án đã xác định rõ tài sản để thi hành án, đã tuyên duy trì lệnh kê biên, tạm giữ tài sản để đảm bảo thi hành án, nhưng đến thời điểm thanh tra, kiểm sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Chấp hành viên vẫn chưa tiến hành xử lý để thi hành án.
Có vụ việc từ năm 2001 hoặc từ năm 2004 Chấp hành viên đã có thông báo bán đấu giá tài sản, nhưng đến tháng 7/2013 chưa thi hành dứt điểm vụ việc, đã vi phạm các quy định về kê kiên, bán đấu giá tài sản được quy định từ Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đến Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Ví dụ như: tại hồ sơ thi hành Quyết định thi hành án số 148/QĐ-THA ngày 01/6/2000 Cục Thi hành án dân sự tỉnh Th; hồ sơ thi hành Quyết định thi hành án số 214/QĐ-THA ngày 09/4/2011 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh T; hồ sơ thi hành Quyết định thi hành án số 112/QĐ-THA ngày 01/4/2004 và Quyết định thi hành án  số 42/QĐ-THA ngày 02/3/2009 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ph; các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát một số tỉnh hoặc qua kết quả kiểm tra của Tổng cục thi hành án dân sự tại các tỉnh năm 2014.
- Vi phạm trong việc kê biên tài sản chung:
Ví dụ: Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 11/2010/KDTM-PT ngày 14/12/2010 của Tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã quyết định: “…Buộc: ông Nguyễn Thế Hùng phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Thái Thị An 39.658 (Ba chín ngàn sáu trăm năm tám) kg cà phê nhân xô quy chuẩn…”. Căn cứ đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, ngày 27/4/2011, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh G đã ra Quyết định thi hành án số 252/QĐ-CTHA và phân công Chấp hành viên tiến hành các trình tự, thủ tục thi hành án theo quy định. Kết quả xác minh điều kiện thi hành án của ông Nguyễn Thế Hùng cho thấy ông Hùng có các tài sản chung với bà Nguyễn Thị Ngọc (vợ ông Hùng) gồm: Quyền sử dụng đối với 10 mảnh đất tại huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai cùng các tài sản có trên đất. Do ông Hùng không tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên đã tiến hành kê biên để xử lý các tài sản đã kê biên để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của ông Hùng gồm: 05 quyền sử dụng đất của ông Hùng, bà Ngọc và đã tổ chức bán đấu giá thành 03/05 quyền sử dụng đất đã kê biên. Sau khi trừ các chi phí tổ chức cưỡng chế thi hành án, nộp các khoản ngân sách nhà nước và ưu tiên thanh toán theo Hợp đồng thế chấp, Chấp hành viên đã làm thủ tục chi trả toàn bộ số tiền bán đấu giá còn lại người được thi hành án.
Qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã phát hiện Chấp hành viên đã không thực hiện xác định phần sở hữu của ông Hùng, bà Ngọc và thông báo cho ông Hùng, bà Ngọc biết về việc xác định đó trước khi tiến hành kê biên tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự . Mặt khác, sau khi xử lý xong tài sản đã kê biên, Chấp hành viên cũng không thực hiện việc trả lại ½ giá trị tài sản cho bà Ngọc (đồng sở hữu) theo quy định.          
Vi phạm trong việc cưỡng chế, kê biên quyền sử dụng đất là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm; kê biên tài sản là hệ thống phòng cháy, chữa cháy...
Việc Chấp hành viên tiến hành kê biên các tài sản trên là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 87 Luật Thi hành án dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 87 Luật THADS 2008 thì cấm kê biên những tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách Nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức hoặc kê biên tài sản không phải của người phải thi hành án.
- Vi phạm trong việc không kê biên tài sản duy nhất của người phải thi hành án đã được thế chấp vay tài sản tại Ngân hàng mà có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án được quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự
Theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự thì: trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án, nhưng Chấp hành viên lại không kê biên. Ngược lại, có trường hợp lại không chú trọng việc xác minh tài sản khác của người phải thi hành án trước khi tiến hành kê biên tài sản dang thế chấp tại Ngân hàng để quyết định việc kê biên một cách đúng đắn theo Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự.
- Vi phạm trong việc giải tỏa kê biên tài sản
Ví dụ: vụ bà Thái Thị Hon là người phải thi hành án trong Quyết định CNSTT số 04/QDDS-ST ngày 19/6/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh T. Để thi hành vụ việc, ngày 07/12/2010, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh T đã ra Quyết định số 01/QĐ-THA hủy Quyết định kê biên tài sản số 10/QĐ-THA ngày 25/12/2008 của Chấp hành viên. Do đó, để thực hiện Quyết định nêu trên của Cục trưởng thì Chấp hành viên phải ra quyết định giải tỏa tài sản kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án. Tuy nhiên, Chấp hành viên không thực hiện việc giải tỏa tài sản kê biên và trả lại tài sản mà lại ra ngay Quyết định kê biên tài sản số 02/QĐ-THA ngày 07/12/2010 kê biên tiếp thửa đất 18.266,5 m2 và thửa đất 80.053 m2 là các tài sản trước đó Quyết định kê biên tài sản số 10/QĐ-THA đã kê biên là chưa phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật Thi hành án dân sự.
- Vi phạm về trình tự thủ tục trong quá trình cưỡng chế thi hành án:
Trình tự, thủ tục trong quá trình cưỡng chế liên quan đến nhiều quy định pháp luật của ngành, lĩnh vực khác nhau; do đó, dạng vi phạm này biểu hiện rất đa dạng tại nhiều khâu, lĩnh vực, thời gian, loại tài sản khác nhau như:
+ Trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, cơ quan Thi hành án không tiến hành xác minh; xác minh không đầy đủ, cụ thể tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án hoặc không xem xét đến tính hợp pháp, hợp lý văn bản của cơ quan có liên quan dẫn đến việc kê biên, bán đấu giá sai đối tượng phải thi hành án, đã vi phạm quy định về xác minh điều kiện thi hành án tại Điều 44 Luật Thi hành án dân sự; Điều 1 Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ sửa đổi Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 và quy định về kê biên và xử lý tài sản thi hành án.
 +Vi phạm trong việc không cho thời gian tự nguyện thi hành án theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc thông báo hợp lệ quyết định thi hành án mà hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện có căn cứ cho thấy phải áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án. 
+ Vi phạm trong việc không thông báo các văn bản về cưỡng chế cho các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không niêm yết thông báo cưỡng chế.
Vi phạm này xảy ra khá nhiều, nhất là trong trường hợp kê biên tài sản chung của người phải thi hành án với người khác, tài sản của hộ gia đình...
+ Không kịp thời hướng dẫn, đảm bảo cho đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản kê biên thuộc sở hữu chung, tài sản cưỡng chế có tranh chấp; kê biên tài sản là nhà và đất nhưng không giao tài sản cho ai quản lý.
- Thực hiện kê biên đối với tài sản không có trong quyết định kê biên
Ví dụ: vụ bà Thái Thị Hon là người phải thi hành án trong Quyết định CNSTT số 04/QDDS-ST ngày 19/6/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh T, Quyết định kê biên tài sản số 02/QĐ-THA ngày 07/12/2010 của Chấp hành viên Cục THADS tỉnh T chỉ kê biên diện tích đất của hai thửa đất, không kê biên tài sản trên đất nhưng tại Biên bản kê biên tài sản ngày 21/12/2010, Chấp hành viên tiến hành kê biên cả tài sản trên đất gồm: khoảng 314 cây chôm chôm khoảng 10 năm tuổi; khoảng 187 cây tràm giấy có đường kính 15 đến 20 cm và 340 cây tràm giấy có đường kính 10 đến 15cm; 695 cây tràm giấy có đường kính khoảng 5 đến 10 cm là không phù hợp quy định pháp luật.
-Vi phạm trong ký hợp đồng thẩm định giá:
+ Đã tiến hành thủ tục cho đương sự thỏa thuận về giá và thẩm định giá tài sản nhưng chậm ký hợp đồng thẩm định giá tài sản được quy định tại khoản 2 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự, theo đó: trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên phải ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên... (Một số nơi chỉ có một số hồ sơ vi phạm, có nơi, số lượng vi phạm gần 30 hồ sơ, là tương đối nhiều).
+ Không cho đương sự thực hiện quyền thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá, vi phạm thời hạn đương sự thực hiện quyền thỏa thuận về tổ chức đấu giá.
+ Việc xử lý tài sản kê biên, bán đấu giá không thành, Chấp hành viên không thực hiện đúng quy định tại Điều 104 Luật Thi hành án dân sự về việc thông báo cho đương sự quyền yêu cầu định giá lại tài sản mà ra ngay quyết định giảm giá đối với tài sản kê biên là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Vi phạm trong việc Chấp hành viên ký Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản với doanh nghiệp bán đấu giá chưa đủ điều kiện theo pháp luật quy định để được bán đấu giá tài sản thi hành án. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản phải là đấu giá viên, nhưng có trường hợp Chấp hành viên ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản khi người đại diện của doanh nghiệp không phải là đấu giá viên. Như vậy, đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 16, Điều 55 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.
Đồng thời, khi thực hiện ký hợp đồng Chấp hành viên đã không chú ý về những điều khoản thỏa thuận, thỏa thuận không chặt chẽ như: thỏa thuận thời điểm chuyển tiền mua trúng đấu giá của Trung tâm bán đấu giá không rõ, chưa ràng buộc trách nhiệm của tổ chức bán đấu giá trong việc chuyển tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản cho cơ quan thi hành án, dẫn đến việc không thu hồi được để xử lý thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Vi phạm trong bán đấu giá tài sản:
Trong thủ tục bán đấu giá tài sản, vi phạm phổ biến là:
+ Việc thông báo về bán đấu giá cho người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa đảm bảo;
+ Nhiều trường hợp do các sai sót về nghiệp vụ ở các quy trình trước khi bán đấu giá dẫn đến vi phạm thời hạn bán đấu giá;
+ Bán đấu giá không thành lần thứ ba nhưng không thông báo cho người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án. Đồng thời, dẫn đến việc thi hành án bị kéo dài.
+ Kết quả bán đấu giá đã thống nhất hủy nhưng không giải quyết các vấn đề sau khi hủy, để kéo dài gây bức xúc cho các bên (không tiếp tục tổ chức bán đấu giá lại tài sản, cũng không thực hiện việc trả lại tiền cho người trúng đấu giá hoặc không xác định hướng xử lý những vấn đề phát sinh do hủy…).
Những vụ việc điển hình cho dạng vi phạm này được phát hiện thông qua hoạt động kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo, ví dụ như tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 836/QĐ-CTHA ngày 12/12/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh T, Thông báo Kết luận cuộc họp số 2623/TB-TCTHADS ngày 22/8/2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự đối với việc thi hành án tại địa bàn thành phố H, các Kết luận kiểm tra của Tổng cục tại các tỉnh được kiểm tra toàn diện.
Từ các thiếu sót, sai phạm nêu trên và các thiếu sót, sai phạm khác được phát hiện qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác hướng dẫn nghiệp vụ của Tổng cục Thi hành án dân sự; công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm sát của các cơ quan chức năng. Ngày 04/7/2014, Tổng cục Thi hành án dân sự đã có Công văn số 1948/TCTHADS-NV1 về việc chấn chỉnh một số thiếu sót, sai phạm liên quan đến việc kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án gửi Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với các nội dung sau:
Thứ nhất: về các thiếu sót, sai phạm trong quá trình kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án
- Không tích cực, không tổ chức cưỡng chế để thi hành án dứt điểm vụ việc, chậm xử lý tài sản đã được kê biên:
+ Có vụ việc sau khi cơ quan thi hành án có thông báo bán đấu giá tài sản nhưng Chấp hành viên đã không có bất kỳ tác nghiệp nào, nhiều năm sau mới xác minh lại thì đương sự đã bán tài sản kê biên;
+ Có nhiều vụ việc người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng Chấp hành viên không tiến hành đôn đốc, không áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc không có bất kỳ biện pháp nghiệp vụ nào để tổ chức thi hành án;
+ Một số vụ việc bản án tuyên duy trì lệnh kê biên, tạm giữ tài sản nhưng đến thời điểm thanh tra, kiểm sát, cơ quan Thi hành án dân sự chưa tiến hành xử lý;
- Vi phạm về trình tự thủ tục trong quá trình xử lý tài sản cưỡng chế thi hành án
+ Không tiến hành xác minh tài sản của người phải thi hành án đã ban hành quyết định cưỡng chế, dẫn đến cưỡng chế sai đối tượng thi hành án;
+ Không tổ chức cho các đương sự tự thỏa thuận trước khi ký hợp đồng thẩm định giá, bán đấu giá tài sản;
+ Chấp hành viên căn cứ lý do người phải thi hành án không đồng ý bán tài sản đã được đưa ra bán đấu giá sau khi tài sản giảm giá lần thứ 3 để quyết định không bán tài sản cho người tham gia bán đấu giá;
+ Không thông báo các văn bản về cưỡng chế cho các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
+ Chậm ký Hợp đồng bán đấu giá tài sản; không niêm yết thông báo cưỡng chế, thông báo bán đấu giá, vi phạm thời hạn bán đấu giá;
+ Vi phạm trong việc ký hợp đồng thẩm định giá;
+ Chấp hành viên căn cứ vào văn bản không đúng quy định pháp luật của cơ quan liên quan dẫn đến kê biên, bán đấu giá sai đối tượng phải thi hành án;
+ Có đơn vị thi hành án đã không tiến hành lập biên bản kê biên tài sản của người phải thi hành án theo quy định mà đã tổ chức thẩm định giá và bán đấu giá tài sản.
- Một số đơn vị thi hành án dân sự đã ban hành quyết định cưỡng chế trái pháp luật:
+ Ban hành quyết định cưỡng chế, kê biên quyền sử dụng đất là đất thuê, trả tiền thuê đất hàng năm;
+ Ban hành quyết định kê biên và hợp đồng bán đấu giá tài sản là hệ thống phòng cháy, chữa cháy...
- Một số đơn vị thi hành án dân sự có vi phạm trong việc chậm ban hành quyết định giải tỏa tài sản bị kê biên khi nhận được quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao và có quyết định đình chỉ thi hành án.
- Chấp hành viên không đề nghị thủ trưởng đơn vị thực hiện việc kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định tại Điều 23 Luật Thi hành án dân sự khi có căn cứ cho rằng Bản án, Quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án hoặc có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án.
- Việc thực hiện Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung:
+ Không xác định phần sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản kê biên, mặc dù đã có thông báo về việc kê biên và hướng dẫn đương sự có quyền làm đơn khởi kiện ra Tòa;
+ Công nhận tài sản chung vợ chồng, phân chia tài sản (theo tỉ lệ 50:50), nhưng không hướng dẫn khởi kiện vì cho rằng pháp luật không bắt buộc và không cần hướng dẫn do đương sự phản ứng gay gắt, không hợp tác với người thi hành công vụ nên việc hướng dẫn khởi kiện là không khả thi, chỉ kéo dài vụ việc.
Thứ hai: yêu cầu Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện một số công việc, cụ thể:
- Chỉ đạo việc rà soát, thống kê những thiếu sót, sai phạm trong quá trình kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án tại các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn và kịp thời có biện pháp xử lý, khắc phục hậu quả.
- Quán triệt, nghiêm túc chấn chỉnh; tổ chức tập huấn, rút kinh nghiệm chung trong toàn hệ thống về những sai phạm trong kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án. Đồng thời, xem xét trách nhiệm đối với Lãnh đạo Cục, Lãnh đạo Chi cục, Chấp hành viên và các công chức khác trong đơn vị về những thiếu sót, sai phạm trên, kiên quyết không để tái diễn các thiếu sót, sai phạm.
3. Những quy định mới của pháp luật về cưỡng chế thi hành án theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008
3.1. Về nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế
Thứ nhất, về căn cứ cưỡng chế thi hành án dân sự
Về cơ bản, Điều 70 Luật sửa đổi, bổ sung vẫn giữ nguyên 03 căn cứ để cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 70 Luật THADS 2008.
Tuy nhiên, đã bổ sung bản án, quyết định được làm căn cứ để cưỡng chế thi hành án là: phán quyết của Trọng tài thương mại và quyết định của Tòa án giải quyết phá sản[2].
Mặt khác, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án cũng có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Thứ hai, về việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trước khi tiến hành cưỡng chế
Điều 44 Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi một cách căn bản quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án liên quan đến việc xác minh điều kiện thi hành án. Đồng thời, Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ đã quy định cụ thể về thời hạn, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên và người phải thi hành án trong việc xác minh điều kiện thi hành án.
Một số nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
- Bổ sung cơ quan Thi hành án dân sự có thể ủy quyền cho cơ quan Thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở thực hiện xác minh điều kiện thi hành án.
- Sửa đổi nghĩa vụ của người được thi hành án trong việc chứng minh điều kiện thi hành án được chuyển thành nghĩa vụ của Chấp hành viên.
- Giảm thời hạn Chấp hành viên phải tiến hành xác minh so với trước. Cụ thể:  trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.
- Bổ sung người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.
- Bổ sung quy định yêu cầu Chấp hành viên phải xuất trình thẻ Chấp hành viên khi xác minh trực tiếp.
- Làm rõ biên bản xác minh phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh thay cho phải đủ 3 chữ ký như quy định của pháp luật trước đây.
Thứ ba, về xây dựng kế hoạch cưỡng chế
- Việc xây dựng kế hoạch cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 72 Luật sửa đổi, bổ sung về cơ bản giữ nguyên như quy định tại Điều 72 Luật THADS 2008.
 Tuy nhiên, đã bổ sung quy định về việc phải nêu tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế trong kế hoạch cưỡng chế thi hành án.
- Việc gửi kế hoạch cưỡng chế thi hành án và phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án không có thay đổi so với quy định trước đây của Luật THADS 2008 và Thông tư liên tịch 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an.
Tuy nhiên, thời hạn cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế (03 ngày, kể từ ngày nhận được kế hoach cưỡng chế của cơ quan thi hành án) đã được luật hóa tại khoản 4 Điều 72 Luật sửa đổi, bổ sung (đây chính là nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư  liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an).
Thứ tư, về thông báo về cưỡng chế thi hành án
- Việc thông báo về cưỡng chế thi hành án được thông báo theo trình tự, thủ tục được quy định tại Điều 39, 40,41,42,43 Luật sửa đổi, bổ sung; Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, Điều 3 Thông tư liên tịch số 14. Về cơ bản việc thông báo về thi hành án được giữ nguyên như trước.
Tuy nhiên, quy định bổ sung việc thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng còn có thể được thực hiện công khai trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự, Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
Mặt khác, Luật sửa đổi, bổ sung cũng đã luật hóa nội dung quy định việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền được thông báo, tham gia vào việc thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành án mà mình có liên quan (điểm a khoản 1 Điều 7b).
- Đối với vụ việc liên quan đến người nước ngoài cần thông báo đến nước ngoài thì thực hiện việc uỷ thác tư pháp thông qua Vụ pháp luật quốc tế thuộc Bộ Tư pháp theo quy định tại Điều 181 Luật sửa đổi, bổ sung, Điều 50 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và Luật Tương trợ tư pháp.
Thứ năm, về việc cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung
- Điều 74 Luật sửa đổi, bổ sung, khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã quy định rõ hơn trách nhiệm của Chấp hành viên trong trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì phải thực hiện như sau:
+ Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật sửa đổi, bổ sung hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự (khoản 1).
+ Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của đương sự (điểm a khoản 2 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP)
 + Trường hợp người phải thi hành án có chung tài sản với người khác mà đã xác định được phần tài sản, quyền tài sản của từng người thì Chấp hành viên kê biên phần tài sản, quyền tài sản của người phải thi hành án để thi hành án theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự; trường hợp chưa xác định được phần quyền của người phải thi hành án thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp quy định về xử lý tài sản chung của vợ chồng và của hộ gia đình (điểm b,c khoản 2 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).
 Theo đó: Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của người phải thi hành án với vợ/chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết.
Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc  thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ (điểm c khoản 2 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).
- Điều 74 Luật sửa đổi, bổ sung đã Luật hóa về quyền của chủ sở hữu chung trong việc được ưu tiên mua tài sản, số lần được ưu tiên mua, quy định thời hạn xử lý tài sản thuộc sở hữu chung khi chủ sở hữu chung không mua tài sản, như:
+ Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ.
+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật THADS 2014 (khoản 3).
Thứ sáu, về giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản thi hành án
- Về mặt hình thức, tên của điều luật từ “Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp” được chuyển thành “Giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án” (Điều 75 Luật sửa đổi, bổ sung).
- Về nội dung điều luật, đã quy định các nội dung mới như:
+ Khẳng định rõ trách nhiệm của Chấp hành viên trong việc thông báo quyền khởi kiện của người tranh chấp. Quy định về việc xử lý tài sản khi đương sự, người tranh chấp thực hiện việc khởi kiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Theo đó, nếu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; nếu đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định (khoản 1).
+ Quy định về trách nhiệm của Chấp hành viên trong việc thông báo cho người được thi hành án thực hiện việc khởi kiện yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án khi có căn cứ cho rằng giao dịch đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Đồng thời quy định thời hạn (15 ngày) Chấp hành viên phải thực hiện việc yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với giao dịch đó khi người được thi hành án không yêu cầu (khoản 2).
+ Quy định về việc Chấp hành viên không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án khi yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung, giải quyết tranh chấp về tài sản thi hành án, hủy bỏ giấy tờ liên quan đến giao dịch về tài sản thi hành án (khoản 3).
Thứ bảy, xử lý trường hợp tài sản đã giao nhưng bị đương sự chiếm lại
Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP cơ bản giữ nguyên quy định về xử lý trường hợp tài sản đã giao nhưng sau đó bị chiếm lại theo định tại Điều 8 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP.
Tuy nhiên, Nghị định có quy định cụ thể hơn về quyền của người đã nhận tài sản nhưng sau đó bị chiếm lại, đó là quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự người vi phạm theo quy định của pháp luật đối với hành vi chiếm lại tài sản đó (Khoản 4 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).
3.2. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Điều 71 Luật sửa đổi, bổ sung vẫn quy định 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật THADS năm 2008.
Tuy nhiên, có một số điều luật quy định về việc cưỡng chế cụ thể được sửa đổi, bổ sung như sau:

Thứ nhất, về cưỡng chế, xử lý đối với các loại tài sản của người phải thi hành án để thi hành nghĩa vụ trả tiền

a. Cưỡng chế thi hành đối với tài sản là tiền

- Khấu trừ tiền trong tài khoản (Điều 76 Luật sửa đổi, bổ sung; Điều 21 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP)
+ Điểm mới trong việc ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản là nội dung quyết định phải có: tên tài khoản của người phải thi hành án và của cơ quan thi hành án. Đồng thời, nội dung của quyết định không còn họ tên của Chấp hành viên và họ tên của người phải thi hành án (khoản 1 Điều 21 Nghị định số 62).
+ Quy định cụ thể về trách nhiệm thực hiện quyết định khấu trừ của tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan. Theo đó: “Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng có trách nhiệm thực hiện ngay quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản; nếu không thực hiện ngay mà đương sự tẩu tán tiền trong tài khoản dẫn đến việc không thể thi hành được cho người được thi hành án thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” (khoản 3 Điều 21 Nghị định số 62).
- Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án (Điều 79 Luật sửa đổi, bổ sung; Điều 22 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).
Điểm mới tại quy định này là việc quy định cụ thể về cách xác định mức tiền tối thiểu để lại cho người phải thi hành án khi tại địa phương người phải thi hành án cư trú chưa có quy định về chuẩn hộ nghèo. Theo đó, Chấp hành viên căn cứ vào quy định chuẩn hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo từng giai đoạn cụ thể (khoản 2 Điều 22 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).
- Thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ (Điều 81 Luật sửa đổi, bổ sung; Điều 23 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP)
So với quy định trước đây thì hiện nay, pháp luật về thi hành án dân sự đã quy định cụ thể trách nhiệm của người thứ ba khi không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên về việc giao tiền, tài sản dẫn đến việc không thể thi hành được cho người được thi hành án. Theo đó, người thứ ba phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 23 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).
b. Cưỡng chế đối với các tài sản khác
Về kê biên, xử lý tài sản khác, Nghị định số 62/2104/NĐ-CP đã có những quy định mới sau đây:
- Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi kê biên tài sản, nếu có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự (khoản 1 Điều 24).
Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác. Đồng thời, thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.
- Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà kết quả xác minh tại thời điểm thi hành án cho thấy tài sản có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết.
Cơ quan thi hành án dân sự kê biên tài sản sau khi đã được giải chấp hoặc thu phần tiền còn lại sau khi xử lý tài sản để thanh toán hợp đồng đã ký, nếu có.
Nếu người nhận cầm cố, thế chấp không thông báo hoặc chậm thông báo mà gây thiệt hại cho người được thi hành án thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Khoản 3 Điều 24).
- Trường hợp người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan thì Chấp hành viên lập biên bản giải thích cho họ về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án. Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án (khoản 4 Điều 24).
- Việc kê biên tài sản khác của doanh nghiệp chỉ được thực hiện sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ mà vẫn không đủ để thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác (khoản 5 Điều 24).
- Trường hợp người phải thi hành án tự nguyện giao tài sản theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 7a Luật Thi hành án dân sự để thi hành nghĩa vụ trả tiền thì Chấp hành viên lập biên bản về việc tự nguyện giao tài sản. Biên bản này là cơ sở để Chấp hành viên giao tài sản theo thỏa thuận hoặc tổ chức việc định giá, bán tài sản.
Trường hợp đương sự tự nguyện giao nhà ở là tài sản duy nhất nhưng số tiền thu được để thanh toán các nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà ở hoặc tạo lập nơi ở mới thì Chấp hành viên vẫn thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự (khoản 6 Điều 24).
Thứ hai, về cưỡng chế trả vật, giấy tờ
- Xuất phát từ quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đã bỏ đi chế định trả lại đơn yêu cầu thi hành án. Do đó, trong trường hợp vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà các bên đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được (điểm c khoản 1 Điều 114 Luật sửa đổi, bổ sung).
- Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được thì Luật cho phép Thủ trưởng cơ quan thi hành ra quyết định xác định việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành theo quy định tại Điều 44a Luật sửa đổi, bổ sung.
Thứ ba, về định giá tài sản kê biên
- Về xác định giá tài sản, theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì việc xác định giá tài sản kê biên có những nội dung mới so với quy định trước đây, cụ thể:
+ Chấp hành viên có thể lựa chọn và ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá ngoài địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên khi không ký được hợp đồng dịch vụ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự.
+ Chấp hành viên được quyền xác định giá đối với tài sản kê biên tại thời điểm xác định giá, tài sản giống hệt hoặc tương tự chưa sử dụng có giá mua bán trên thị trường không quá 10.000.000 đồng.
- Về định giá lại tài sản kê biên, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 99 Luật sửa đổi, bổ sung.
Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản.
Thứ tư, về việc bán tài sản đã kê biên
a. Bán đấu giá và xử lý kết quả bán đấu giá tài sản thi hành án (theo quy định tại Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP)
 Việc bán đấu giá và xử lý kết quả bán đấu giá tài sản thi hành án được quy định như sau:
- Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung mà có nhiều chủ sở hữu chung đề nghị mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định thì Chấp hành viên thông báo cho các chủ sở hữu chung đó thỏa thuận người được quyền mua. Nếu không thỏa thuận được thì Chấp hành viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người được mua tài sản bán đấu giá.
- Quy định rõ về cách tính giá trị của tài sản để xác định thẩm quyền, thủ tục bán tài sản của Chấp hành viên. Theo đó, giá trị động sản được bán đấu giá theo quy định tại Điểm b Khoản 3 và Khoản 4 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự là giá trị từng động sản. Đối với vật cùng loại, vật đồng bộ là tổng giá trị các động sản đó trong một lần tổ chức bán để thi hành một việc thi hành án.
- Người mua được tài sản bán đấu giá phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày đấu giá thành.
Trong thời hạn không quá 30 ngày, trường hợp khó khăn, phức tạp thì không quá 60 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền, cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức việc giao tài sản cho người mua được tài sản, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng.
Tổ chức bán đấu giá tài sản có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá. Tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp trái pháp luật dẫn đến việc chậm giao tài sản bán đấu giá thành mà gây thiệt hại cho người mua được tài sản bán đấu giá thì phải bồi thường.
- Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá.
Trong thời gian chưa giao được tài sản, cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng theo hình thức gửi tiền có kỳ hạn 01 tháng cho đến khi giao được tài sản, phần lãi tiền gửi được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; trường hợp không giao được tài sản thì phần lãi tiền gửi thuộc về người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định khác.
Trường hợp đến hạn theo hợp đồng bán đấu giá tài sản mà không giao được tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá thì người này có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng.
- Trường hợp sau khi phiên đấu giá kết thúc mà người trúng đấu giá tài sản từ chối mua hoặc đã ký hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá nhưng chưa thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào thì khoản tiền đặt trước thuộc về ngân sách nhà nước và được sử dụng để thanh toán lãi suất chậm thi hành án, tạm ứng chi phí bồi thường Nhà nước, bảo đảm tài chính để thi hành án và các chi phí cần thiết khác.
Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá không thực hiện đầy đủ hoặc không đúng hạn nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng thì tiền thanh toán mua tài sản đấu giá được xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá và quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản.
Cơ quan thi hành án dân sự tổ chức bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật.
b. Huỷ kết quả bán đấu giá tài sản (Điều 102 Luật sửa đổi, bổ sung)
- Khi thực hiện việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản, Chấp hành viên phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
- Chỉ có Chấp hành viên và người mua được tài sản bán đấu giá mới có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản.
c.  Xử lý tài sản bán đấu giá không thành (Điều 104 Luật sửa đổi, bổ sung).
So với quy định trước đây, Luật sửa đổi, bổ sung có những quy định mới sau:
- Quy định cụ thể về thời hạn thông báo cho đương sự về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành: 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá.
- Làm rõ hơn quyền được nhận tài sản của người được thi hành án để trừ vào tiền được thi hành án: Theo đó, sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành (trước đây là sau ba lần giảm giá) thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án là Nhà nước (các khoản thu Ngân sách).
+ Trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết.
+ Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án. Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
+ Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Người phải thi hành án không được đưa tài sản này tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.
Thứ năm, về việc bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá
Quy định này trước đây đã được quy định tại Nghị định số 125/2013/NĐ-CP nay được luật hóa tại Điều 103 Luật sửa đổi, bổ sung, cụ thể như sau:
- Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.
- Việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án thực hiện theo quy định tại các điều 114, 115, 116 và 117 của Luật này.
Thứ sáu, về việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản (Điều 106 Luật sửa đổi, bổ sung; Điều 28 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP)
Xuất phát từ quy định của pháp luật về việc Chấp hành viên không phải ra quyết định cưỡng chế thi hành án đối với các trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 70 Luật  sửa đổi, bổ sung nên tại khoản 3 Điều 106 Luật sửa đổi, bổ sung không quy định bắt buộc hồ sơ đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải có quyết định kê biên tài sản.
Đồng thời, việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản được quy định cụ thể tại Điều 28 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP như sau:
- Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự không thu hồi được giấy tờ có liên quan đến tài sản quy định tại Điểm e Khoản 3 Điều 106 Luật Thi hành án dân sự thì có văn bản nêu rõ lý do, gửi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ có liên quan đến tài sản để thực hiện việc hủy giấy tờ cũ, cấp giấy tờ mới theo quy định.
- Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không thu hồi được Giấy chứng nhận thì thực hiện như sau:
+ Cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản nêu rõ lý do không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đến Văn phòng đăng ký đất đai nơi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
+ Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở.
3.3. Chi phí cưỡng chế thi hành án và việc miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự
Thứ nhất, về việc chịu chi phí cưỡng chế thi hành án
- Về cơ bản, theo quy định tại Điều 73 Luật sửa đổi, bổ sung thì chi phí cưỡng chế thi hành án vẫn giữ nguyên chế định về chi phí cưỡng chế như cũ, nhưng cũng có hai nội dung thay đổi sau:
+ Người được thi hành án phải chịu chi phí định giá lại tài sản khi có yêu cầu định giá lại.
+ Ngân sách Nhà nước chi trả chi phí xác minh điều kiện thi hành án.
- Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì Ngân sách Nhà nước còn chi trả các khoản chi phí sau:
+ Chi phí họp bàn cưỡng chế do Chấp hành viên tổ chức họp với các cơ quan liên quan trước khi tiến hành cưỡng chế;
+ Chi phí cưỡng chế trong trường hợp không thu được tiền của người phải thi hành án do tài sản kê biên không bán được theo quy định tại Khoản 3 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự; tài sản cưỡng chế theo Điều 90 Luật Thi hành án dân sự nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm; tài sản bị cưỡng chế không còn hoặc bị mất giá trị sử dụng; người phải thi hành án phải giao, trả tài sản theo bản án, quyết định mà không có khả năng thanh toán chi phí cưỡng chế; người phải thi hành án phải thực hiện công việc nhất định bỏ đi khỏi nơi cư trú hoặc chết mà không còn tài sản để thanh toán chi phí cưỡng chế;
+ Chi phí cho việc Chấp hành viên xác minh, xác định giá trị tài sản trước khi cưỡng chế để áp dụng biện pháp cưỡng chế tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án, chi phí cần thiết để áp dụng theo Điều 90 Luật Thi hành án dân sự;
+ Các khoản chi cho việc áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài liệu của người phải thi hành án mà không thu được tiền của người phải thi hành án để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án;
+ Chi phí cho việc bố trí phiên dịch, biên dịch trong trường hợp đương sự là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số của Việt Nam không biết tiếng Việt;
+ Chi phí khi đang tiến hành tổ chức cưỡng chế thi hành án nhưng phải đình chỉ thi hành án theo quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự;
+ Chi phí cưỡng chế thi hành án đã thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền hủy việc cưỡng chế thi hành án.
- Mức chi cưỡng chế thi hành án: Trong khi chờ Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thì mức chi vẫn được thực hiện theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 184/2011/TTLT-BTC-BTP.
Thứ hai, về việc miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự
 Theo quy định tại Điều 44 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ thì việc miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án được quy định như sau:
- Đương sự là cá nhân có thể được Thủ trưởng cơ quan thi hành án có thẩm quyền tổ chức thi hành án xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Có thu nhập không đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu để sinh sống bình thường hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn.
Mức thu nhập tối thiểu được xác định theo chuẩn hộ nghèo quy định tại Khoản 2 Điều 22 Nghị định này.
+ Thuộc diện gia đình chính sách, có công với cách mạng.
+ Thuộc diện neo đơn, tàn tật, ốm đau kéo dài.
- Đương sự phải làm đơn đề nghị xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án nêu rõ lý do đề nghị xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
Đương sự có khó khăn về kinh tế, thuộc điện neo đơn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, sinh sống hoặc xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó nhận thu nhập. Đương sự là gia đình chính sách, có công với cách mạng phải có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp để chứng minh. Đương sự bị tàn tật, ốm đau kéo dài phải có tóm tắt hồ sơ bệnh án được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp huyện trở lên xác nhận.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị và tài liệu kèm theo của đương sự, cơ quan thi hành án dân sự xem xét, quyết định về việc miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
- Mức miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án được xác định như sau:
+ Đương sự thuộc diện quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều này được xét giảm 1/2 chi phí cưỡng chế thi hành án phải nộp;
+ Đương sự thuộc diện quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này đã thi hành được ít nhất 1/2 chi phí cưỡng chế thì có thể được xét miễn chi phí cưỡng chế thi hành án còn lại.
Người có lỗi trong việc vi phạm thủ tục về định giá tài sản, trong việc ra quyết định miễn, giảm chi phí cưỡng chế sai quy định dẫn đến việc ngân sách nhà nước phải trả chi phí cưỡng chế có trách nhiệm bồi hoàn khoản tiền đó cho ngân sách nhà nước.
Quyết định xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án bị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thu hồi hoặc hủy bỏ trong trường hợp phát hiện đối tượng bị cưỡng chế có hành vi tẩu tán, cất giấu tiền, tài sản nhằm trốn tránh việc thi hành án hoặc cung cấp các căn cứ không đúng sự thật để được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
4. Những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện việc cưỡng chế, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án
Thứ nhất, trong thực tiễn tổ chức thi hành án, cho thấy việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án không phải là biện pháp đầu tiên và duy nhất để tổ chức thi hành án thành công. Ngược lại, các cơ quan thi hành án dân sự cần hết sức chú ý và trách nhiệm của Chấp hành viên là khéo vận động, giáo dục, thuyết phục để người phải thi hành án tự nguyện thi hành án, để các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về thi hành án. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án và đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, uy tín của cơ quan thi hành án dân sự là cần thiết. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thi hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự cần chú ý áp dụng đúng quy định của pháp luật, tránh khiếu nại tố cáo của đương sự.
Thứ hai, về việc áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuyển tiếp
Ngay sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực thi hành (01/7/2015), Bộ Tư pháp đã kịp thời có văn bản số 2423/BTP-THADS ngày 07/7/2015 hướng dẫn thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS trong giai đoạn chuyển tiếp.
Theo nội dung văn bản nêu trên thì các quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ về thi hành án dân sự phát sinh từ ngày 01/7/2015. Vì vậy, những quy định tại các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự trước đây không còn phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì không được áp dụng giải quyết.
Do đó, từ ngày 01/7/2015, các cơ quan Thi hành án dân sự và Chấp hành viên không áp dụng các quy định về cưỡng chế thi hành án được quy định tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 125/2013/NĐ-CP mà áp dụng các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2008, cụ thể:
+ Xác định giá đối với tài sản kê biên có giá trị nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 101.
 + Định giá tài sản đã kê biên được thực hiện theo quy định tại điểm  b khoản 1 và khoản 3 Điều 99.
+ Đảm bảo quyền ưu tiên mua tài sản thuộc sở hữu chung được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 74.
+ Xử lý tài sản thi hành án không có người tham gia đấu giá, trả giá được thực hiện theo quy định tại Điều 104.
+ Bảo đảm quyền lợi của người mua được tài sản đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 103.
+ Chi phí cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 31 và Điều 44.
Bên cạnh đó, ngay sau khi Nghị định số 62/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 01/9/2015), Bộ Tư pháp đã tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu và trên cơ sở kết quả nghiên cứu, phối hợp với các ngành liên quan và lấy ý kiến của các cơ quan thi hành án dân sự địa phương, đã tiếp tục kịp thời có văn bản số 3823/BTP-TCTHADS hướng dẫn thực hiện Nghị định số 62 với các nội dung như sau:
- Kể từ ngày 01/9/2015, không áp dụng các quy định tại 03 Nghị định: Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự; Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự; Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP mà áp dụng quy định của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP trong hoạt động thi hành án dân sự.
- Đối với những việc thi hành án đã thi hành một phần hoặc chưa thi hành xong trước ngày 01/9/2015 nhưng đã thực hiện các thủ tục về thi hành án theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì kết quả thi hành án được công nhận; các thủ tục thi hành án tiếp theo được thực hiện theo quy định của Nghị định 62/2015/NĐ-CP.
- Đối với quy định tại các Thông tư, Thông tư liên tịch hiện hành không còn phù hợp với quy định của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì không được áp dụng, mà áp dụng các quy định của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để giải quyết; nếu Nghị định số 62/2015/NĐ-CP chưa quy định thì cần chờ các văn bản thay thế, sửa đổi, bổ sung để có căn cứ áp dụng; cần thiết thì tổng hợp, báo cáo về Tổng cục Thi hành án dân sự để được hướng dẫn cụ thể.
- Đối với trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự đã kê biên tài sản theo quy định tại Khoản 1, Điều 6, Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC nhưng chưa tổ chức thi hành xong thì tiếp tục thực hiện các trình tự thủ tục tiếp theo theo quy định.
Từ ngày 01/9/2015, cơ quan Thi hành án dân sự áp dụng Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để xác định tài sản kê biên.
Như vậy, để việc tổ chức cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự thì đòi hỏi Chấp hành viên phải nắm được và nắm vững các quy định về cưỡng chế thi hành án các quy định có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2008 và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 cũng như các hướng dẫn về áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuyển tiếp để đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất.
Trên đây là những điểm mới của pháp luật về áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, đề nghị các chấp hành viên nghiên cứu, áp dụng đúng trong quá trình tổ chức thi hành án. Đồng thời, các chấp hành viên cần kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện để cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, xử lý theo quy định của pháp luật./.
 

[1] Số liệu tại Báo cáo số 566/BC-CP ngày 22/10/2015 của Chính phủ báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án năm 2015
[2] Được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Tổ chức bộ máy

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh là đơn vị trực thuộc Tổng Cục thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp, được tổ chức và hoạt động theo Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trụ sở của Cục tại số 2 đường Nguyên Phi Ỷ Lan, phường Suối Hoa, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Cơ cấu...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP