15:12 EST Thứ ba, 13/11/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 38

Máy chủ tìm kiếm : 5

Khách viếng thăm : 33


Hôm nayHôm nay : 7217

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 89487

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9183478

Trang Liên kết

Đảng Cộng sản việt nam
Bộ Tư pháp
Tổng cục thi hành án dân sự
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Công an Bắc Ninh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Trang nhất » Tin Tức » NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 62/2015/NĐ-CP NGÀY 18/7/2015 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Chủ nhật - 13/12/2015 20:31
CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 62/2015/NĐ-CP  NGÀY 18/7/2015 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT  VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT  THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 62/2015/NĐ-CP NGÀY 18/7/2015 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Để hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, ngày 18/7/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành án từ ngày 01/9/2015 (Nghị định này thay thế các nội dung về thủ tục thi hành án dân sự được quy định tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP và Nghị định 125/2013/NĐ-CP, bên cạnh các nội dung về tổ chức cán bộ quy định tại Nghị định số 74/2009/NĐ-CP).
Sau khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 ra đời, các cấp có thẩm quyền đã ban hành 52 văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, gồm: 03 Nghị định của Chính phủ, 03 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 18 Thông tư, 17 Thông tư liên tịch, 02 Quy chế phối hợp liên ngành, 03 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, 01 Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, 05 Quyết định của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự ban hành quy phạm nội bộ trong hệ thống tổ chức THADS; mặt khác 01 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và 01 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành trước khi có Luật Thi hành án dân sự vẫn tiếp tục được áp dụng. Sau 05 năm thi hành, Luật Thi hành án dân sự đã phát huy được hiệu quả trong thực tế cuộc sống, tuy nhiên bên cạnh đó cũng đã bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế, bất cập, thậm chí yếu kém cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Vì vậy, Quốc hội đã bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
Ngày 25/11/2014, tại kỳ họp thứ 8, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015.
Để triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung), Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 55/QĐ-TTg ngày 15/01/2015 và Quyết định số 112/QĐ-TTg ngày 22/01/2015 về việc ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật được thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII. Theo đó, Bộ Tư pháp được giao xây dựng Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi tắt là Nghị định).
I. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
Để xây dựng Nghị định, Bộ Tư pháp đã thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập với sự tham gia của đại diện Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng,Văn phòng Chính phủ,  Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và một số chuyên gia và giao Tổng cục THADS chủ trì xây dựng dự thảo. Ban soạn thảo, Tổ biên tập đã tiến hành nhiều hoạt động để xây dựng Nghị định, như:
- Rà soát Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 58/2009/NĐ-CP), Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/09/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 74/2009/NĐ-CP), Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 13/07/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 125/2013/NĐ-CP) và các văn bản khác có liên quan hiện hành để xác định các nội dung cần quy định trong Nghị định.
- Báo cáo, xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Nghị định theo trình tự, thủ tục rút gọn.
- Họp Ban soạn thảo 03 lần; gửi Dự thảo Nghị định lấy ý kiến các thành viên bằng văn bản; thường xuyên tổ chức các cuộc họp của Tổ biên tập, Thường trực Tổ biên tập, có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý trong nhiều lĩnh vực và công chức trực tiếp làm công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
- Tổ chức lấy ý kiến góp ý bằng văn bản của 24 Bộ, ngành; tổ chức 02 lần lấy ý kiến bằng văn bản của 63/63 Cục Thi hành án dân sự địa phương về Dự thảo Nghị định; nghiêm túc tổ chức tiếp thu, giải trình các ý kiến góp ý; giới thiệu những nội dung cơ bản của Nghị định tại Hội nghị quán triệt Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và sơ kết công tác thi hành án dân sự 06 tháng đầu năm 2015, do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 24/4/2015 với hình thức trực tuyến tại 63 điểm cầu trong cả nước, có sự tham gia của đại diện các Bộ, ban, ngành ở Trung ương, đại diện Ban chỉ đạo thi hành án dân sự và lãnh đạo Ủy ban nhân dân các địa phương.
- Đăng tải Dự thảo Nghị định trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Cổng thông tin điện tử của Chính phủ để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân.
- Tổ chức thẩm định Dự thảo Nghị định theo quy định.
- Tổ chức nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến của Hội đồng thẩm định, đồng thời chỉnh lý, hoàn thiện Nghị định.
- Xây dựng và hoàn chỉnh hồ sơ Nghị định trình Chính phủ.
- Tiếp thu, giải trình theo ý kiến của các thành viên Chính phủ đối với Dự thảo Nghị định và 03 vấn đề còn có ý kiến khác nhau.
- Hoàn thiện Dự thảo Nghị định, phối hợp với Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.
Mặc dù được Thủ tướng Chính phủ cho phép xây dựng Nghị định theo trình tự, thủ tục rút gọn, nhưng Ban soạn thảo, Tổ biên tập vẫn tổ chức lấy ý kiến sâu rộng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý vào Nghị định, đảm bảo Nghị định được ban hành, sát với thực tiễn.
Ngày 18/7/2015, Thủ tướng Chính phủ thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2015.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
1. Tiếp tục thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; bảo đảm tính khả thi, cải cách hành chính nói chung và thi hành án dân sự nói riêng.
2. Bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; có tính đến những nội dung sửa đổi, bổ sung lớn trong các bộ luật khác đang được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, dự án Luật đấu giá tài sản, dự án Luật phí và lệ phí, dự án Luật tiếp cận thông tin...
3. Tạo thuận lợi cho người dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; cải cách thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự; đồng thời bảo đảm nguyên tắc người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật.
 III. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ BỐ CỤC CỦA NGHỊ ĐỊNH
1. Phạm vi điều chỉnh
1.1 Những nội dung Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự giao cho Chính phủ quy định chi tiết:
Luật sửa đổi, bổ sung được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 đã giao cho Chính phủ quy định chi tiết 6 vấn đề (trong đó có 5 vấn đề về thủ tục thi hành án và 1 vấn đề về việc bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển ở một số địa bàn), bao gồm:
(i) Miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và trường hợp khác (khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự)
(ii) Ra quyết định Thi hành án (khoản 15 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự)
(iii) Xác minh điều kiện thi hành án (khoản 17 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự)
(iv) Việc đăng thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành (khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự)
(v) Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có hoặc không thu hồi được Giấy chứng nhận (khoản 37 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự)
(vi) Danh sách các cơ quan Thi hành án dân sự thuộc địa bàn được tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển (khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự)
1.2. Những nội dung Luật Thi hành án dân sự năm 2008 giao cho Chính phủ quy định chi tiết
Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có 15 điều khoản giao cho Chính phủ quy định chi tiết, trong đó có 14 điều khoản giao cho Chính phủ quy định cụ thể và 01 điều khoản (Điều 183 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành) giao hướng dẫn nội dung cần thiết khác để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
Để hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Chính phủ đã ban hành 03 Nghị định (gồm Nghị định số 74/2009/NĐ-CP, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP).
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về hạn chế tình trạng có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, gây khó khăn trong quá trình áp dụng Luật, vì vậy, Nghị định thu hút những quy định còn phù hợp của 03 Nghị định (gồm Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP và Nghị định số 74/2009/NĐ-CP) nêu trên.
1.3. Những nội dung cần thiết khác:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về hạn chế tình trạng có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, Nghị định cũng thu hút 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và pháp điển hóa những quy định của các Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành đã được thực tiễn kiểm nghiệm là phù hợp.
Do vậy, phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự số 64/2014/QH13 về thủ tục thi hành án dân sự; hệ thống tổ chức cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự; Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp, Chấp hành viên cao cấp (sau đây gọi chung là Chấp hành viên); Thẩm tra viên thi hành án, Thẩm tra viên chính thi hành án, Thẩm tra viên cao cấp thi hành án (sau đây gọi chung là Thẩm tra viên); Thư ký thi hành án, Thư ký trung cấp thi hành án (sau đây gọi chung là Thư ký thi hành án); Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; việc thi tuyển, tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên; thẻ, công cụ hỗ trợ, trang phục, phù hiệu, cấp hiệu và chế độ đối với Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án và người làm công tác thi hành án dân sự.
2. Bố cục của Nghị định    
Nghị định có 85 điều, được kết cấu thành 4 chương:
- Chương I. Quy định chung (gồm 03 Điều, từ Điều 1 đến Điều 3)
- Chương II. Thủ tục thi hành án dân sự (gồm 48 Điều, từ Điều 4 đến Điều 51)
- Chương III. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự; cơ quan thi hành án dân sự; người làm công tác thi hành án dân sự (gồm 32 Điều, từ Điều 52 đến Điều 83)
- Chương IV. Điều khoản chuyển tiếp và thi hành (gồm 2 Điều, từ Điều 84 đến Điều 85)
IV. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH 
Các quy định của Nghị định cơ bản được giữ nguyên các quy định còn phù hợp tại Nghị định Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/09/2009, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 13/07/2013 “sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự”.
Trong đó, tập trung vào 6 vấn đề Luật sửa đổi, bổ sung giao cho Chính phủ quy định chi tiết và có 14 vấn đề lớn bổ sung các quy định hiện hành hoặc pháp điển từ các quy định của các Thông tư, Thông tư liên tịch hiện hành. Cụ thể:
1. Những vấn đề Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự giao cho Chính phủ quy định chi tiết (có 05 vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và 01 vấn đề về tổ chức thi hành án dân sự)
1.1 Về việc ra quyết định thi hành án (Điều 6, Điều 7 Nghị định)
- Thứ nhất, bổ sung trường hợp chủ động thi hành án
Xuất phát từ tình trạng trong một số vụ án kinh tế, tham nhũng tài sản của nhà nước nhưng các cơ quan hoặc tổ chức quản lý tài sản của nhà nước không làm đơn yêu cầu thi hành án dẫn đến việc mặc dù bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không có căn cứ ra quyết định thi hành án, vô hình chung đã tạo điều kiện cho người phải thi hành án tẩu tán tài sản, tài sản nhà nước không được thu hồi (ví dụ như trường hợp thi hành án của Vinaline hoặc một số vụ án mà bị cáo phải nộp trả nhà nước tiền thuế..). Do đó, cụ thể hóa quy định tại khoản 15 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung, đồng thời tránh việc thất thoát tài sản nhà nước đối với các khoản tiền của nhà nước đã giao cho các cơ quan, tổ chức quản lý hoặc làm đại diện thì cần có quy định khi có bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án mà không phụ thuộc vào đơn yêu cầu thi hành án
Do đó, từ việc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã bổ sung “các khoản thu khác cho Nhà nước” thuộc diện chủ động thi hành án, để có cơ sở thống nhất trong việc thực hiện, khoản 3 Điều 6 Nghị định bổ sung quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án đối với “các khoản thu khác cho Nhà nước” quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự thuộc diện chủ động ra quyết định thi hành án bao gồm khoản truy thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà nước và các khoản bồi thường cho Nhà nước trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; các khoản thu khác nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước.
- Thứ hai, quy định rõ thủ tục ra quyết định thi hành án, phục vụ chính sách hình sự.
Để tạo điều kiện cho người phải thi hành án là phạm nhân có thể được xem xét giảm chấp hành hình phạt, xem xét đặc xá theo quy định của pháp luật, Nghị định đã bổ sung quy định giải quyết trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án. Trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án mà chỉ ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp. Đồng thời, lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do phạm nhân là người phải thi hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận. Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà người được thi hành án không đến nhận tiền, tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước, sau khi khấu trừ tiền, tài sản mà họ phải thi hành theo quyết định thi hành án khác, nếu có.
1.2. Về xác minh điều kiện thi hành án và xử lý kết quả xác minh (Điều 9 Nghị định)
- Về trách nhiệm xác minh:
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự bỏ quy định trách nhiệm của người được thi hành án phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, trong trường hợp người được thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh thì họ phải chịu chi phí xác minh. Thay vào đó, Chấp hành viên phải chịu trách nhiệm tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Để việc xác minh đạt hiệu quả cao và đảm bảo tính khách quan, Nghị định đã bổ sung quy định người phải thi hành án có trách nhiệm kê khai tài sản, kể cả số tiền mà người phải thi hành án hiện có theo yêu cầu của Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình. Đây là quy định mới nhằm ràng buộc trách nhiệm của người phải thi hành án đối với hoạt động thi hành án và có khả năng giảm bớt việc tẩu tán tài sản trong thi hành án. Theo đó, Nghị định quy định: khi tiến hành xác minh, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai Chấp hành viên phải nêu rõ trong biên bản xác minh điều kiện thi hành án về việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án không kê khai hoặc phát hiện việc kê khai không trung thực thì tùy theo mức độ vi phạm, Chấp hành viên có thể xử phạt hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Việc yêu cầu người phải thi hành án kê khai tài sản được thực hiện khi Chấp hành viên tiến hành xác minh. Chấp hành viên lập biên bản xác minh và nêu rõ trong biên bản xác minh việc đương sự kê khai hoặc không kê khai.
-  Về việc ủy quyền xác minh:
Để khắc phục tình trạng khi cơ quan thi hành án ủy thác việc thi hành án đến địa phương khác nhưng cơ quan thi hành án nơi nhận ủy thác thực hiện việc xác minh thì người phải thi hành án không cư trú hoặc không có tài sản ở địa phương mình, dẫn đến tình trạng hồ sơ bị đùn đẩy từ cơ quan thi hành án này sang cơ quan thi hành án khác, Nghị định cũng bổ sung quy định về “ủy quyền xác minh”. Mục đích của ủy quyền xác minh là làm rõ thông tin về tài sản nơi cư trú … của người phải thi hành án hoặc các thông tin liên quan đến việc thi hành án, trên cơ sở đó làm căn cứ để cơ quan thi hành án thực hiện việc ủy thác thi hành án hoặc tổ chức thi hành án được chính xác hơn.
Theo đó, Nghị định quy định: Trường hợp cần làm rõ thông tin về tài sản, nơi cư trú, nơi làm việc, trụ sở của người phải thi hành án hoặc các thông tin khác liên quan đến việc thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có thông tin trên.
Việc ủy quyền xác minh của cơ quan thi hành án dân sự phải thể hiện bằng văn bản, nêu rõ bên ủy quyền, bên nhận ủy quyền, nội dung ủy quyền và nội dung cần thiết khác. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận uỷ quyền phải trả lời bằng văn bản kết quả xác minh và những nội dung cần thiết khác cho cơ quan thi hành án dân sự đã uỷ quyền xác minh.
Đối với việc xác minh tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, thời hạn xác minh và gửi kết quả xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy quyền là 30 ngày, kể từ ngày nhận được ủy quyền. Trường hợp việc xác minh tài sản khó khăn, phức tạp thì thời hạn xác minh và gửi kết quả xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được ủy quyền.
Đối với việc xác minh các loại tài sản và thông tin khác, thời hạn xác minh và gửi kết quả xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy quyền là 15 ngày, kể từ ngày nhận được ủy quyền.
-Về xử lý kết quả xác minh:
Thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã bổ sung quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án. Đây là quy định mới của Luật Thi hành án dân sự, vì vậy, để đảm bảo việc thực hiện quy định trên của cơ quan thi hành án được chính xác và không xảy ra tiêu cực trong quá trình tổ chức thi hành án Nghị định quy định:
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có một trong các căn cứ sau, Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án:
(i) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
(ii) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;
(iii) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.
Để đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án theo quyết định của Tòa án và tránh tình trạng việc Chấp hành viên chưa làm hết trách nhiệm của mình khi tiến hành xác minh thì trong trường hợp cơ quan thi hành án đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án nhưng người được thi hành án cung cấp thông tin điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh lại nội dung mà đương sự đã cung cấp để có căn cứ tổ chức thi hành án.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh.
Nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án.
Thứ hai, Nghị định cũng bổ sung quy định về việc quản lý và theo dõi các hồ sơ chưa có điều kiện thi hành án. Theo đó, cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi có đủ các điều kiện sau:
(i) Đã hết thời hạn 02 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án hoặc đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án;
 (ii) Đã xác minh ít nhất hai lần theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự;
(iii) Không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án nhưng phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức việc thi hành án.
Tại các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 08/2015/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2013/TT-BTP ngày 03/01/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn Chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự, loại việc này được thống kê vào mục “Chưa có điều kiện thi hành án” và khi xác định được người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án ra Quyết định tiếp tục thi hành án để tổ chức thi hành.
Thứ ba, trường hợp chưa xác định được địa chỉ và tài sản của người phải thi hành án hoặc chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án mà theo bản án, quyết định họ phải tự mình thực hiện nghĩa vụ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án. Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án phải ghi rõ việc thi hành án bị hoãn theo Điểm b Khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự.
 Liên quan đến kết quả xác minh và việc trả đơn yêu cầu thi hành án, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự bỏ cơ chế trả đơn yêu cầu thi hành án mà Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định. Tại Công văn số 3823/BTP-TCTHADS ngày 19/10/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuyển tiếp có nội dung hướng dẫn về việc nhận lại đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp đã trả đơn yêu cầu thi hành án trước ngày 01/7/2015.Theo đó, Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định đối với trường hợp đã trả đơn yêu cầu thi hành án trước ngày 01/7/2015 mà đương sự yêu cầu thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định trả đơn có trách nhiệm phải thụ lý, ra quyết định thi hành án mới, thống kê việc thi hành án là một việc mới và tổ chức việc thi hành án theo quy định. Trường hợp đương sự yêu cầu xác nhận về việc đã trả đơn thì cơ quan thi hành án dân sự đã trả đơn có trách nhiệm xác nhận cho đương sự.
1.3. Về việc công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành (Điều 11 Nghị định)
Thứ nhất, công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự và tích hợp trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; gửi quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết công khai.
Điều 106 Hiến pháp năm 2013 quy định “Bản án và quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Do đó, để làm rõ quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự về công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành, giúp những cá nhân, tổ chức có thông tin của người phải thi hành án cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự, Nghị định quy định rõ thời hạn đăng thông tin, quy trình đăng thông tin, cụ thể như sau: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đăng tải công khai thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự và tích hợp trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; gửi quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết công khai. Thời gian niêm yết công khai quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án là 03 tháng, kể từ ngày niêm yết.”
Thứ hai, bổ sung, sửa đổi, thông báo về sửa đổi và chấm dứt công khai thông tin, chấm dứt việc niêm yết công khai:
 Để tránh tình trạng việc công khai kéo dài không đúng thực tế, ảnh hưởng để uy tín, danh dự của người phải thi hành án, Nghị định cũng xác định rõ thời hạn và trách nhiệm trong việc bổ sung, sửa đổi, thông báo về sửa đổi và chấm dứt công khai thông tin, chấm dứt việc niêm yết, cụ thể như sau: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày xác định được thông tin về sự thay đổi tên, địa chỉ, nghĩa vụ và điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đã công khai thông tin phải bổ sung, sửa đổi thông tin và công khai nội dung thay đổi.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc có văn bản xác nhận về việc người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải chấm dứt việc công khai thông tin trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự để chấm dứt tích hợp trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận được quyết định đình chỉ thi hành án hoặc có văn bản xác nhận về việc người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã phải chấm dứt niêm yết công khai”.
Nhằm cụ thể hơn nữa quy trình, nghiệp vụ đăng tải thông tin, Nghị định giao Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đăng tải, cập nhật, bổ sung, sửa đổi, quản lý, khai thác, sử dụng, cung cấp thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự, Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử quốc gia về thi hành án dân sự (hiện nay Bộ Tư pháp đang xây dựng Thông tư hướng dẫn việc công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án và thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính, biểu mẫu nghiệp vụ trong hoạt động thi hành án dân sự để hướng dẫn cụ thể hơn về nội dung này).
            1.4. Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có hoặc không thu hồi được giấy (Điều 28 Nghị định)
Trong thực tiễn cưỡng chế liên quan đến quyền sử dụng đất, người phải thi hành án thường không chịu hợp tác và có thể chống đối quyết liệt, không tự nguyện nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cơ quan thi hành án làm thủ tục đề nghị cấp giấy cho người nhận mua, nhận tài sản. Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2013 không có quy định thủ tục hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chủ sở hữu để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác. Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 cũng chỉ quy định 04 trường hợp Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, tuy nhiên không có trường hợp nào liên quan đến hoạt động kê biên cưỡng chế thi hành án. Trong thực tế, nhiều trường hợp cơ quan thi hành án dân sự không thu hồi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến việc người mua được tài sản bán đấu giá hoặc người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của họ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án thì cần quy định theo nguyên tắc: trong trường hợp Chấp hành viên đã thực hiện các biện pháp cần thiết mà không thu hồi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án, đồng thời hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng cũ.

Theo đó, Nghị định quy định: Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự không thu hồi được giấy tờ có liên quan đến tài sản để hoàn thiện hồ sơ đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì có văn bản nêu rõ lý do, gửi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ có liên quan đến tài sản để thực hiện việc hủy giấy tờ cũ, cấp giấy tờ mới theo quy định.

Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không thu hồi được Giấy chứng nhận thì cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản nêu rõ lý do không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đến Văn phòng đăng ký đất đai nơi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở.
1.5. Về miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và trường hợp khác (Điều 48 Nghị định)
Cụ thể hóa quy định tại khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và trên cơ sở những bất cập hạn chế của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 trong việc người được thi hành án phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án dẫn đến người được thi hành án khó khăn trong việc đề nghị thi hành án. Từ ngày 01/7/2015, việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thuộc trách nhiệm của Chấp hành viên và cơ quan thi hành án và chi phí xác minh thuộc Ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó để tạo điều kiện thuận lợi tối đa trong việc thi hành án cũng như hạn chế tình trạng Chấp hành viên gây khó khăn cho người được thi hành án, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã quy định người được thi hành án có quyền cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án và thông tin về tài sản của người phải thi hành án.
Để khuyến khích người được thi hành án thi hành án tích cực, chủ động trong việc cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nhà nước sẽ miễn, giảm phí thi hành án. Khi người được thi hành án cung cấp thông tin điều kiện về tài sản của người phải thi hành án mà cơ quan thi hành án có thể thể tiến hành xử lý tài sản đó để đảm bảo việc thi hành án cho người được thi hành án thì họ sẽ được miễn, giảm phí thi hành án tương ứng với số tiền hoặc tài sản thu được từ thông tin mà họ cung cấp cho cơ quan thi hành án. Để tạo cơ sở pháp lý thống nhất, thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật về miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp này, Điều 48 của Nghị định bổ sung quy định về nguyên tắc áp dụng việc miễn, giảm phí thi hành án cho người được thi hành án (những trường hợp miễn, giảm đã được quy định tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 thì vẫn giữ nguyên).
Thứ nhất, trường hợp miễn phí thi hành án cho người được thi hành án
Việc miễn phí thi hành án cho người được thi hành án được áp dụng khi đủ 02 điều kiện:
(i) người được thi hành án xác minh chính xác sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án theo quy định tại Khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự và
 (ii) cơ quan thi hành án dựa trên các thông tin đó đã xử lý được tài sản đó để tổ chức thi hành án thành công.
Thứ hai, trường hợp giảm phí thi hành án cho người được thi hành án
Việc giảm một phần phí thi hành án được đặt ra như sau:
(i) Người được thi hành án xác minh chính xác khi yêu cầu thi hành án và
 (ii) Cơ quan thi hành án dân sự xử lý được tài sản để thi hành án và
(iii) Không phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cần huy động lực lượng, trừ trường hợp tài sản đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại thì mức phí thi hành án được giảm là 30%.
(iv) Trường hợp phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cần huy động lực lượng trừ trường hợp tài sản đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại thì mức phí thi hành án được giảm là 20%.
1.6.Tuyển chọn và bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển (Điều 63 Nghị định)
Khoản 3, Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự giao cho Chính phủ quy định danh sách các cơ quan thi hành án dân sự thuộc địa bàn được tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển. Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, từ ngày 01/7/2009 để trở thành Chấp hành viên thì công chức trong các cơ quan thi hành án khi có đủ các tiêu chuẩn như trình độ năng lực và thời gian công còn phải trải qua kỳ thi tuyển Chấp hành viên. Tuy nhiên, trong điều kiện để thu hút cán bộ về công tác tại các đơn vị vùng sâu, vùng xa, hải đảo thì các công chức ở vùng này khi có đủ điều kiện thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã cho phép kéo dài thêm 05 năm (từ 01/7/2015 đến 30/6/2020) cơ chế tuyển chọn bổ nhiệm Chấp hành viên và không phải qua thi tuyển tại địa bàn này. Theo đó, để tránh việc tuyển chọn và bổ nhiệm Chấp hành viên tùy tiện thì cần phải quy định các điều kiện để áp dụng chặt chẽ.
Do đó, Nghị định quy định việc tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển quy định tại khoản 3, Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
(i) Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, không phải là đơn vị thủ phủ của tỉnh, có hệ số phụ cấp khu vực từ 0,3 trở lên, thuộc biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
(ii) Người được tuyển chọn để bổ nhiệm Chấp hành viên có đơn cam kết tình nguyện công tác tại cơ quan thi hành án dân sự nêu trên từ 05 năm trở lên. Nghị định đã xác định danh sách, theo đó toàn quốc có 32 tỉnh và 171 cơ quan thi hành án dân sự thuộc diện được tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển (danh sách được ban hành kèm theo Nghị định).
Thời gian áp dụng quy định trên kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2020.
Từ quy định trên, Bộ Tư pháp giao Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự các tỉnh nơi có cơ quan thi hành án dân sự thuộc Danh sách các cơ quan thi hành án dân sự tại các địa bàn biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có phụ cấp khu vực từ 0,3 trở lên ban hành kèm theo Nghị định số 62/2015/NĐ-CP chủ động rà soát, tổng hợp, báo cáo nhu cầu bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển (số lượng Chấp hành viên hiện có theo từng ngạch Chấp hành viên cao cấp, Chấp hành viên trung cấp, Chấp hành viên sơ cấp; tỷ lệ Chấp hành viên trên tổng biên chế; số lượng Chấp hành viên cần tuyển chọn không qua thi tuyển theo từng ngạch Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp) gửi về Bộ Tư pháp (qua Tổng cục Thi hành án dân sự). Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự các tỉnh nêu trên chủ động tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập Hội đồng tuyển chọn Chấp hành viên để thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định.
2. Những nội dung Nghị định hướng dẫn bổ sung
Để hướng dẫn một số quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, đồng thời tránh tình trạng có nhiều văn bản hướng dẫn, Nghị định đã bổ sung một số quy định mới, đồng thời thu hút một số quy định của Thông tư, Thông tư liên tịch qua kiểm nghiệm cho thấy phù hợp với thực tiễn cần nâng cấp đưa vào Nghị định. Ngoài ra, các quy định cụ thể tại từng điều luật cũng được chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Luật Thi hành án dân sự và phù hợp với tình hình thực tế. Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể liên quan trực tiếp từng vấn đề sẽ được trình bày ở các chuyên đề chuyên sâu trong tập tài liệu này. Phạm vi chuyên đề này chỉ trình bày những nội dung cơ bản Nghị định đã hướng dẫn bổ sung, cụ thể:
(i) Bổ sung quy định về việc nhận lại đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp đã trả đơn yêu cầu thi hành án (Khoản 5 Điều 4);
(ii)  Bổ sung làm rõ quy định về thỏa thuận thi hành án ( Điều 5);
(iii) Bổ sung quy định về hồ sơ thi hành án ( Điều 8);
(iv) Bổ sung quy định về yêu cầu thay đổi Chấp hành viên (Điều 10);
(v) Làm rõ quy định về chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án cho người thứ ba (Điều 15);

(vi) Bổ sung quy định về trách nhiệm của người thứ ba đang giữ tiền tài sản của người phải thi hành án (Điều 23);

 (vii) Bổ sung quy định về kê biên tài sản để thi hành án (Điều 24);

 (viii) Bổ sung quy định về bán đấu giá và xử lý kết quả bán đấu giá tài sản thi hành án (Điều 27);

(ĩ) Bổ sung quy định về thủ tục tạm ứng, thu, nộp, miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án (Điều 43, 44, 45);

 (x) Sửa đổi mức phí thi hành án (Điều 46);
 (xi) Bổ sung quy định về việc xuất cảnh, tạm hoãn xuất cảnh của người phải thi hành án (Điều 51);
(xii) Bổ sung quy định về điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên, Thẩm tra viên (Điều 70 Nghị định);
(xiii) Sửa đổi, bổ sung một số quy định về cấp hiệu và đối tượng được cấp phù hiệu, cấp hiệu, trang phục thi hành án dân sự;
(xiv) Bổ sung quy định về điều khoản chuyển tiếp (Điều 84 Nghị định).
Cụ thể như sau:
2.1.Về nhận lại đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp cơ quan thi hành án đã trả đơn (khoản 5 Điều 4 Nghị định)
Luật sửa đổi, bổ sung đã bỏ cơ chế trả đơn yêu cầu thi hành án (có hiệu lực thực hiện từ 01/7/2015). Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã có nhiều trường hợp cơ quan thi hành án dân sự trả đơn yêu cầu thi hành án và do Luật sửa đổi, bổ sung đã không yêu cầu đương sự phải chứng minh điều kiện thi hành án để yêu cầu thi hành án trở lại như trước đây, nên khả năng sau ngày 01/7/2015 đương sự sẽ thực hiện quyền yêu cầu thi hành án trở lại theo quy định hiện hành.
Vì vậy, Nghị định đã bổ sung quy định về giấy tờ, tài liệu mà đương sự phải cung cấp khi yêu cầu thi hành án trở lại và quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi đã trả đơn là người có thẩm quyền và có trách nhiệm ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành. Cụ thể, Nghị định quy định “Đối với trường hợp đã trả đơn yêu cầu thi hành án trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 mà đương sự yêu cầu thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định trả đơn phải ra quyết định thi hành án và tổ chức việc thi hành án. Yêu cầu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự và phải kèm theo tài liệu liên quan, quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án, nếu có.
Trường hợp không còn quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án, người được thi hành án có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án xác nhận về việc đã trả đơn và thụ lý giải quyết việc thi hành án”.
2.2. Về thỏa thuận thi hành án (Điều 5 Nghị định)
Việc dân sự cốt ở hai bên, do đó Luật Thi hành án dân sự 2008 và Nghị định 58/2009/NĐ-CP của Chính phủ đều ghi nhận đương sự có quyền thỏa thuận về thi hành án. Việc các bên đương sự thỏa thuận với nhau trong quá trình tổ chức thi hành án được nhà nước khuyến khích nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật và không gây thiệt hại cho người thứ ba. Trên thực tế thì sau khi có bản án, quyết định, các đương sự có thể thỏa thuận việc thi hành án với nhau mà không cần phải nộp đơn đến cơ quan thi hành án. Đây là một điều cần được khuyến khích trong xã hội dân sự. Tuy nhiên, việc các đương sự thỏa thuận với nhau và tự thực hiện thỏa thuận đó cần được quy định bởi một hành lang pháp lý cụ thể để các bên có thể thực hiện và để thỏa thuận đó thực sự có hiệu quả; trong trường hợp không thực hiện đúng nội dung thỏa thuận thì các bên có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục tổ chức thi hành án để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Theo đó, Nghị định quy định về thỏa thuận cả ở giai đoạn trước khi yêu cầu thi hành án và sau khi đã yêu cầu thi hành án, xác định rõ cách thức thỏa thuận, trách nhiệm thực hiện và hướng giải quyết khi không thực hiện thỏa thuận.
Cụ thể, Nghị định đã bổ sung thêm quy định:
- Thứ nhất, trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án thì thỏa thuận đó phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận.
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
- Thứ hai, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận. Thỏa thuận phải thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia.
Trường hợp các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ nội dung quyết định thi hành án và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ trường hợp theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự (trường hợp thỏa thuận đó ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba).
2.3. Về lập hồ sơ thi hành án (Điều 8 Nghị định)
Nội dung này được quy định tại Thông tư số 22/2011/TT-BTP ngày 22/12/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục trong quản lý hành chính về thi hành án dân sự, Thông tư đã quy định đầy đủ trình tự, thủ tục lập, sử dụng, bảo quản và lưu trữ sổ sách, hồ sơ thi hành án và được các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện khá nghiêm túc trong thực tiễn. Xác định việc lập hồ sơ là bước đầu tiên của quá trình tổ chức thi hành án, do đó, để tránh tình trạng Chấp hành viên tùy tiện, lỏng lẻo trong việc lập, quản lý hồ sơ thi hành án nên việc đưa nội dung quy định trên của Thông tư vào Nghị định, xác định rõ trách nhiệm, thời hạn Chấp hành viên lập, xây dựng hồ sơ là cần thiết và phù hợp.
Cụ thể, Nghị định quy định:
1. Quyết định thi hành án là căn cứ để lập hồ sơ thi hành án. Mỗi quyết định thi hành án lập thành một hồ sơ thi hành án.
Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Chấp hành viên phải tiến hành lập hồ sơ thi hành án.
2. Hồ sơ thi hành án phải thể hiện toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên đối với việc thi hành án, lưu giữ tất cả các tài liệu đã, đang thực hiện và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ”.
2.4. Về thay đổi Chấp hành viên (Điều 9 Nghị định)
Để đảm bảo quyền của các đương sự trong hoạt động thi hành án theo Hiến pháp Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã bổ sung thêm nhiều quyền của người phải thi hành án, người được thi hành án thay vì chỉ có quyền yêu cầu thi hành án như Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Trong đó có quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên, việc đương sự có quyền thay đổi Chấp hành viên cũng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của Chấp hành viên trong việc tổ chức thi hành án và nâng cao hiệu quả của việc thi hành án, tạo niềm tin cho nhân dân. Tuy nhiên, để tránh việc các đương sự lợi dụng quyền này, tùy tiện yêu cầu thay đổi Chấp hành viên để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án hoặc kéo dài thời gian tổ chức thi hành án, Nghị định đã xác định cụ thể những căn cứ để đương sự thực hiện quyền này.
Theo đó, Nghị định quy định người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên khi:
(i) Thuộc trường hợp quy định tại Khoản 5 Điều 21 Luật Thi hành án dân sự;
(ii) Chấp hành viên đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng trong cùng vụ án đó;
(iii) Chấp hành viên chậm trễ giải quyết việc thi hành án;
(iv) Có căn cứ khác cho rằng Chấp hành viên không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
Về thủ tục và thẩm quyền, yêu cầu thay đổi Chấp hành viên phải được lập thành văn bản và gửi Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý vụ việc, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc yêu cầu thay đổi Chấp hành viên. Trường hợp Chấp hành viên đang thi hành vụ việc là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì đương sự gửi văn bản đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự cấp trên trực tiếp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu thay đổi Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc cơ quan quản lý thi hành án dân sự cấp trên phải xem xét, quyết định thay đổi Chấp hành viên; trường hợp không có căn cứ thay đổi Chấp hành viên thì trả lời bằng văn bản cho người đã có yêu cầu thay đổi Chấp hành viên và nêu rõ lý do.
2.5 Về chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án (khoản 2 Điều 15 Nghị định)
Luật Thi hành án dân sự có quy định về trường hợp các đương sự thỏa thuận chuyển giao quyền, nghĩa vụ về thi hành án cho người thứ ba thì người thứ ba sẽ có quyền, nghĩa vụ của đương sự, nhưng Luật chỉ quy định về nguyên tắc mà không quy định trình tự, thủ tục thực hiện. Trong bối cảnh hiện nay, nhà nước đã thành lập công ty mua bán nợ để thực hiện việc mua bán các khoản nợ liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng nhưng khi các bên thực hiện việc mua bán các khoản nợ liên quan đến thi hành án thì gặp khó khăn trong việc xác định quyền và nghĩa vụ trong thi hành án, ví dụ như trường hợp họ mua lại quyền yêu cầu được thi hành án của ngân hàng sau đó họ có được ủy quyền cho ngân hàng đó tham gia trong quá trình tổ chức thi hành án nữa hay không.
Vì vậy, Nghị định quy định cụ thể việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án trên nguyên tắc:
(1) Đối với việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án được theo quy định của pháp luật về thừa kế quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự
Về vấn đề này thì có sự phân biệt:
 (i) Trường hợp thi hành nghĩa vụ về trả tài sản:
Nếu có người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự ấn định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ, để người quản lý, sử dụng tài sản của người phải thi hành án giao tài sản cho người được thi hành án. Hết thời hạn này mà họ không thực hiện thì cơ quan thi hành án dân sự tổ chức giao tài sản, kể cả cưỡng chế giao tài sản cho người được thi hành án theo quy định của pháp luật;
(ii) Trường hợp thi hành nghĩa vụ về thanh toán tiền:
Cơ quan thi hành án dân sự có văn bản thông báo, ấn định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ, để người thừa kế hoặc người quản lý di sản của người phải thi hành án thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án để lại. Hết thời hạn này, nếu người thừa kế hoặc người quản lý di sản không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với tài sản để lại của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án, đồng thời ấn định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ, để những người liên quan đến tài sản thực hiện quyền khởi kiện phân chia di sản thừa kế. Hết thời hạn thông báo về thực hiện quyền khởi kiện phân chia di sản thừa kế mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án.
Trường hợp chưa xác định được người thừa kế thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại nơi có tài sản, trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày thông báo, niêm yết để người thừa kế biết, liên hệ và thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án để lại; hết thời hạn này mà không có người khai nhận thừa kế thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án.
Đây cũng là quy định hiện hành của Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, đã được nâng cấp đưa vào Nghị định số 125/2013/NĐ-CP về thủ tục thi hành án dân sự, nay tiếp tục quy định tại Nghị định và có sự chỉnh lý cho phù hợp.
 (2) Đối với việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho người thứ ba theo quy định tại Khoản 4 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự
Trong trường hợp này, việc chuyển giao phải thể hiện bằng văn bản có chữ ký xác nhận của các bên theo đúng quy định của Bộ Luật Dân sự và không được ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của của tổ chức, cá nhân khác.
Trường hợp người được thi hành án chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền được thi hành án của mình cho người thứ ba thì người thứ ba trở thành người được thi hành án tương ứng với phần quyền được chuyển giao và có các nghĩa vụ của người được thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Người chuyển giao quyền về thi hành án phải thông báo bằng văn bản cho người phải thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án biết về việc chuyển giao quyền về thi hành án. Việc chuyển giao quyền về thi hành án không cần có sự đồng ý của người phải thi hành án, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Trường hợp người phải thi hành án chuyển giao nghĩa vụ thi hành án cho người thứ ba thì phải được sự đồng ý của người được thi hành án. Người nhận chuyển giao nghĩa vụ có các nghĩa vụ của người phải thi hành án, nếu không tự nguyện thi hành thì bị áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Theo Công văn số 3823/BTP-TCTHADS ngày 19/10/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuyển tiếp, khi thực hiện các quy định này, cơ quan thi hành án dân sự cần lưu ý các nguyên tắc:
 (i) Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án phải đúng quy định của Bộ luật Dân sự và không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;
(ii) Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ phải thể hiện bằng văn bản có chữ ký của người chuyển giao, người nhận chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án;
(iii) Đối với trường hợp tổ chức tín dụng đã bán nợ cho Công ty mua bán nợ (VAMC) thông qua hợp đồng mua bán nợ theo quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 05/4/2015 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 53/2013/NĐ-CP thì quyền và nghĩa vụ thi hành án chuyển giao tương ứng với các khoản nợ được mua bán theo hợp đồng.
2.6. Về trách nhiệm của người thứ ba giữ tiền tài sản của người phải thi hành án ( Điều 23 Nghị định)
Nghị định số 58/2009/NĐ-CP và Nghị định số 125/2013/NĐ-CP đều quy định khi phát hiện người thứ ba giữ tiền, tài sản của người phải thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Trên thực tế có một số trường hợp người thứ ba có hành vi giúp người phải thi hành án trốn tránh nghĩa vụ thi hành án bằng nhiều hình thức khác nhau dẫn đến việc thi hành án không thể thi hành được gây thiệt hại và bức xúc cho người được thi hành án. Tuy nhiên, do Nghị định không quy định trách nhiệm, chế tài rõ ràng của người thứ ba đang giữ tiền và tài sản nên mặc dù Chấp hành viên đã ra quyết định cưỡng chế nhưng nếu người thứ ba không hợp tác thì cơ quan thi hành án gặp khó khăn trong việc xử lý.
 Do đó, Nghị định bổ sung quy định rõ trách nhiệm của người thứ ba đang giữ tiền và tài sản của người thi hành án. Theo đó, trong trường hợp người thứ ba đang giữ tiền, tài sản của người phải thi hành án không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên mà giao tiền, tài sản đó cho người phải thi hành án hoặc người khác dẫn đến việc không thể thi hành được cho người được thi hành án thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2.7 Về kê biên tài sản để thi hành án (Điều 24 Nghị định)
Theo quy định tại khoản 3 Điều 71 Luật thi hành án dân sự thì Chấp hành viên chỉ được kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án. Tuy nhiên, để hạn chế đương sự tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, tạo được hành lang pháp lý rõ ràng về trình tự thủ tục thi hành án dân sự và sự phối hợp liên ngành trong quá trình xét xử, thi hành án, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, tại khoản 1, Điều 6, Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện hành đã cho phép Chấp hành viên được kê biên để đảm bảo thi hành án đối với tài sản đương sự đã chuyển dịch kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm. Theo đó, “Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án.
Kể từ thời điểm có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác, người phải thi hành án không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, xử lý để thi hành án”. Quy định trên đã phát huy tác dụng, góp phần hạn chế rất nhiều tình trạng người phải thi hành tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, giúp cơ quan thi hành án có cơ sở pháp lý để xử lý tài sản của người phải thi hành án đã chuyển nhượng sau khi có bản án.
Tuy nhiên, việc quy định trên có hạn chế, không thống nhất với một số quy định tại các văn bản pháp luật khác và về bảo vệ người thứ ba ngay tình. Cụ thể, theo quy định tại Điều 692 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai”. Theo Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”; khoản 3 Điều 188 Luật này quy định: “ Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”. Căn cứ vào quy định trên, nếu người phải thi hành án chuyển nhượng tài sản của mình cho người khác thông qua hình thức phù hợp với quy định pháp luật thì tài sản đó không còn thuộc của người phải thi hành án. Theo Luật Thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án không thể kê biên, xử lý tài sản không thuộc sở hữu của người phải thi hành án để đảm bảo việc thi hành án. Do đó, quy định quyền kê biên tài sản chuyển dịch sau khi có bản án sơ thẩm mà không thực hiện nghĩa vụ thi hành án đã xâm phạm và gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình. Khi thực hiện quy định này trong thực tế, mặc dù cơ quan thi hành án đã hướng dẫn người thứ ba khởi kiện nhưng đa số họ đều không thực hiện việc khởi kiện vì họ cho rằng giữa người mua tài sản và người bán không có tranh chấp; trường hợp người được thi hành án khởi kiện thì Tòa án không thụ lý vì đương sự không cung cấp được các tài liệu chứng minh mục đích chuyển nhượng là nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án để có căn cứ cho Tòa án thụ lý. Có trường hợp hết thời hiệu khởi kiện, cơ quan thi hành án tiến hành xử lý tài sản và thực hiện việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua trúng đấu giá hoặc người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án nhưng khi họ đến làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất thì cơ quan đăng ký từ chối với lý do họ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người thứ ba, việc cấp giấy chứng nhận không có vi phạm nên không có cơ sở để xem xét thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp mới cho người mua trúng đấu giá. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người mua trúng đấu giá.
Do đó, để hạn chế các bất cập trên, bên cạnh việc tiếp tục kế thừa các quy định hiện hành, Nghị định đã quy định theo hướng kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Khi kê biên tài sản, nếu có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; nếu đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định.
Trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án. Trường hợp này, Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó.
Đối với trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự đã kê biên tài sản theo quy định tại Khoản 1, Điều 6, Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC nhưng chưa tổ chức thi hành xong thì tiếp tục thực hiện các trình tự thủ tục tiếp theo theo quy định. Từ ngày 01/9/2015, cơ quan Thi hành án dân sự áp dụng Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để xác định tài sản kê biên.
2.8 Về bán đấu giá tài sản thi hành án (Điều 27 Nghị định)
Do các quy định hiện hành chưa xác định thời điểm nào thì tiền bán đấu giá tài sản được coi là tiền thi hành án để tính toán thời hạn và thực hiện việc chi trả cho người được thi hành án nên cơ quan thi hành án lúng túng trong việc thực hiện dẫn đến nhiều khiếu nại kéo dài.
Theo quy định tại khoản 3, Điều 35 Nghị định số 17/2010/ NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản thì hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá được ký giữa người mua được tài sản bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá. Trên thực tế khi thực hiện các quy định này, tổ chức bán đấu giá thường yêu cầu người mua nộp tiền vào tài khoản của mình; sau khi người mua nộp đủ tiền thì tổ chức bán đấu giá mới chuyển một phần tiền cho cơ quan thi hành án và giữ lại một khoản tiền để chờ thanh lý hợp đồng. Việc thanh lý hợp đồng chỉ thực hiện khi cơ quan thi hành án thực hiện xong thủ tục cho người mua được tài sản. Do vậy, thời gian từ lúc người mua nộp đủ tiền cho đến khi cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức bán đấu giá thanh lý hợp đồng rất dài. Vì việc cưỡng chế tài sản của người phải thi hành án để giao cho người mua được tài sản là một điều hết sức khó khăn người phải thi hành án dùng mọi cách để cản trở việc giao tài sản và để giao được tài sản cho người mua trúng đấu giá cơ quan thi hành án phải tổ chức cưỡng chế.
Mặt khác, nếu tiếp tục để tổ chức bán đấu giá giữ số tiền bán tài sản trong một thời gian dài làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người phải thi hành án và người được thi hành án. Có trường hợp viện lý do cơ quan thi hành án chưa giao được tài sản bán đấu giá nên tổ chức bán đấu giá đã sử dụng số tiền này và mất khả năng thanh toán, không trả được tiền cho cơ quan thi hành án để chi trả cho người được thi hành án. Hiện nay, Luật đấu giá tài sản đang được dự thảo theo hướng là tổ chức bán đấu giá chỉ làm dịch vụ bán đấu giá và thu phí (dự kiến sẽ được thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII vào cuối năm 2015); Dự thảo cũng quy định hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký kết giữa người mua được tài sản và người có tài sản bán đấu giá và việc thanh toán tiền mua được tài sản sẽ được chuyển vào tài khoản tạm giữ tại ngân hàng.
Hợp đồng mua tài sản bán đấu giá giữa người mua tài sản bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá là hợp đồng dân sự, quyền lợi của người mua được tài sản bán đấu giá được bảo vệ theo quy định tại Điều 138, Điều 258 Bộ Luật dân sự và Điều 4 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá. Theo quy định Điều 374 Bộ luật Dân sự thì nghĩa vụ dân sự được chấm dứt khi nghĩa vụ được hoàn thành hoặc theo thoả thuận của các bên. Do đó, khi nghĩa vụ giao tài sản chưa chấm dứt thì các nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán tài sản chưa hoàn thành nên trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chậm giao tài sản theo thời hạn trong hợp đồng thì người trúng đấu giá có quyền hủy bỏ hợp đồng mua bán tài sản đã ký kết và yêu cầu trả lại khoản tiền mua tài sản đã nộp. Vì vậy, khi chưa giao được tài sản cho người trúng đấu giá, khoản tiền bán đấu giá tài sản chưa được xác định là tiền thi hành án để thực hiện việc chi trả cho những người được thi hành án. Bên cạnh đó, người phải thi hành án thường khiếu nại hoặc khởi kiện để trì hoãn việc cưỡng chế giao tài sản. Việc không thực hiện giao tài sản cho người mua được tài sản nhiều khi không phải lỗi của cơ quan thi hành án mà có bản án bị kháng nghị, bị hủy để xét xử lại…Người mua được tài sản không nhận được tài sản theo đúng thời hạn trong hợp đồng thì khiếu nại, bức xúc và có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá.
Ngoài lý do trên thì hợp đồng mua bán tài sản cũng có thể bị hủy trong một số trường hợp theo quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản. Trường hợp Tòa án hủy hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá thì cơ quan thi hành án phải trả lại tiền cho người mua tài sản nhưng khi đó tiền đã chi trả cho người được thi hành án, cơ quan thi hành án không còn giữ tiền nên không có khả năng thanh toán tiền cho người mua tài sản, cơ quan thi hành án cũng không thể yêu cầu người phải thi hành án trả tiền cho người mua vì họ không có quan hệ trực tiếp trong việc mua bán tài sản và để yêu cầu người phải thi hành án trả tiền thì lại phải phát sinh vụ kiện dân sự khác (Điển hình của trường hợp này là vụ 36 Nguyễn Thị Diệu, quận 3 thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan thi hành án dân sự đã bán tài sản của người phải thi hành án là nhà 36 Nguyễn Thị Diệu để thực hiện nghĩa vụ của họ theo bản án; số tiền thu được từ việc bán nhà 36 Nguyễn Thị Diệu cơ quan thi hành án đã trả cho người được thi hành án là hơn 3000 lượng vàng SJC. Trong quá trình cơ quan thi hành án chuẩn bị cưỡng chế giao tài sản cho người mua thì bản án bị hủy để xét xử lại đến nay sau nhiều năm người mua không nhận được đủ tài sản đã khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy việc mua bán tài sản và yêu cầu cơ quan thi hành án trả lại vàng hơn 3500 lượng vàng SJC và bồi thường thiệt hại hơn 800 lượng vàng SJC do không nhận được tài sản). Như vậy, trong những trường hợp trên, người phải thi hành án chây ỳ, không chịu thi hành án thì được hưởng lợi vì họ vẫn giữ được tài sản của mình, người được thi hành án thì đã được nhận tiền tài sản còn người mua được tài sản và cơ quan thi hành án phải gánh chịu hậu quả mà không phải do lỗi của mình, làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan thi hành án.
Trường hợp khác, Chi cục THADS huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi nhận được Bản án sơ thẩm số 01/2013/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ (đóng dấu án có hiệu lực). Để thi hành án, cơ quan thi hành án đã bán tài sản của ông Út và bà Hạnh (người phải thi hành án). Tuy nhiên, khi chuẩn bị giao tài sản cho người mua trúng đấu giá thì Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của ông Út (vì lý do Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ vi phạm trong việc giao bản án cho đương sự vắng mặt tại phiên tòa) và thụ lý xét xử phúc thẩm, hủy Bản án trên giao xét xử lại và chính quyền địa phương chưa ủng hộ cao trong trường hợp phải giao tài sản cho người mua trúng đấu giá; một số ý kiến khác cho rằng căn cứ ra quyết định thi hành án, quyết định cưỡng chế kê biên tài sản của ông Út không còn nên không thể giao tài sản cho người mua. Việc giao tài sản cho người mua trúng đấu giá gặp nhiều khó khăn.
Do đó, nếu cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc chi tiền bán đấu giá tài sản trước khi giao được tài sản cho người mua trúng đấu giá sẽ khiến cơ quan thi hành án và người mua được tài sản gặp nhiều rủi ro, gây bức xúc và mất niềm tin của người dân với hoạt động bán đấu giá, làm phát sinh khiếu nại kéo dài.
Vì vậy, trên cơ sở cân nhắc đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự, quyền lợi của người mua được tài sản, hoạt động bình thường của cơ quan thi hành án dân sự và hoạt động bán đấu giá tài sản nên Điều 27 Nghị định quy định một số nội dung sau:
Thứ nhất, quy định người mua được tài sản bán đấu giá sẽ thực hiện nộp tiền mua tài sản vào tài khoản của cơ quan thi hành án.
Thứ hai, xác định thời hạn người mua phải nộp tiền mua tài sản trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày đấu giá thành.
Thứ ba, xác định thời hạn cơ quan thi hành án phải giao tài sản cho người mua: Trong thời hạn không quá 30 ngày, trường hợp khó khăn, phức tạp thì không quá 60 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền, cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức việc giao tài sản cho người mua được tài sản, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng
Thứ tư, quy định việc xử lý trong thời gian chưa giao được tài sản cho người trúng đấu giá:
Bên cạnh việc quy định cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, Nghị định cũng quy định xử lý trong thời gian chưa giao được tài sản, cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng theo hình thức gửi tiền có kỳ hạn 01 tháng cho đến khi giao được tài sản, phần lãi tiền gửi được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; trường hợp không giao được tài sản thì phần lãi tiền gửi thuộc về người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định khác. 
Thứ năm, xác định quyền của người mua được tài sản bán đấu giá trong trường hợp đến hạn theo hợp đồng bán đấu giá tài sản mà không giao được tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá thì người này có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng.
Thứ sáu, quy định cách thức xử lý khi người mua không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình:
Trường hợp sau khi phiên đấu giá kết thúc mà người trúng đấu giá tài sản từ chối mua hoặc đã ký hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá nhưng chưa thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào thì khoản tiền đặt trước thuộc về ngân sách nhà nước và được sử dụng để thanh toán lãi suất chậm thi hành án, tạm ứng chi phí bồi thường Nhà nước, bảo đảm tài chính để thi hành án và các chi phí cần thiết khác.
Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá không thực hiện đầy đủ hoặc không đúng hạn nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng thì tiền thanh toán mua tài sản đấu giá được xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá và quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản
Thứ bảy, quy định cách tính giá trị động sản thuộc trách nhiệm bán của Chấp hành viên.
 Nghị định cũng quy định rõ cách tính giá trị động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (theo quy định tại điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 101 Luật thi hành án dân sự) thuộc trách nhiệm bán của Chấp hành viên để tránh việc áp dụng sai thẩm quyền bán tài sản thi hành án. Theo đó, đã quy định theo hướng giá trị động sản là giá trị từng động sản; đối với vật cùng loại, vật đồng bộ là tổng giá trị các động sản đó trong một lần tổ chức bán để thi hành một việc thi hành án.
2.9. Bổ sung quy định về thủ tục tạm ứng, thu, nộp, miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án (Điều 43, 44, 45)
Thứ nhất, bổ sung làm rõ “một số chi phí cần thiết khác” quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 73 Luật Thi hành án dân sự thuộc ngân sách nhà nước chi trả bao gồm:
+ Chi phí cưỡng chế trong trường hợp không thu được tiền của người phải thi hành án do tài sản kê biên không bán được theo quy định tại Khoản 3 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự; tài sản cưỡng chế theo Điều 90 Luật Thi hành án dân sự nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm; tài sản bị cưỡng chế không còn hoặc bị mất giá trị sử dụng; người phải thi hành án phải giao, trả tài sản theo bản án, quyết định mà không có khả năng thanh toán chi phí cưỡng chế; người phải thi hành án phải thực hiện công việc nhất định bỏ đi khỏi nơi cư trú hoặc chết mà không còn tài sản để thanh toán chi phí cưỡng chế;
+ Chi phí cho việc Chấp hành viên xác minh, xác định giá trị tài sản trước khi cưỡng chế để áp dụng biện pháp cưỡng chế tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án, chi phí cần thiết để áp dụng theo Điều 90 Luật Thi hành án dân sự;
+ Các khoản chi cho việc áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài liệu của người phải thi hành án mà không thu được tiền của người phải thi hành án để thanh toán chi phí;
+ Chi phí khi đang tiến hành tổ chức cưỡng chế nhưng phải đình chỉ theo quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự;
+ Chi phí cưỡng chế đã thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền hủy việc cưỡng chế.
- Quy định cụ thể chế độ bồi dưỡng cho người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế theo Khoản 7 Điều 73 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, chế độ được áp dụng cho các hoạt động xác minh điều kiện để bảo vệ cưỡng chế thi hành án, trực tiếp thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án, trực tiếp tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, họp bàn cưỡng chế thi hành án, họp định giá và định giá lại tài sản, bán tài sản trong trường hợp không ký hợp đồng ủy quyền với tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản; trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án trong trường hợp cần thiết.
            - Thứ hai, pháp điển hóa quy định của Thông tư liên tịch số 184/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 19/12/2011 hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự, Nghị định bổ sung Điều 45 quy định về việc tạm ứng, lập dự toán, chấp hành và quyết toán chi phí cưỡng chế thi hành án.
 Việc tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án được thực hiện như sau:
+ Ngân sách nhà nước bố trí một khoản kinh phí trong dự toán của cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện tạm ứng chi phí cưỡng chế thi hành án. Mức bố trí cụ thể cho từng cơ quan thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng giao sau khi thống nhất với Bộ Tài chính trong phạm vi dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Khi chưa thu được chi phí cưỡng chế thi hành án của người phải thi hành án, người được thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ứng trước kinh phí cho các Chấp hành viên để tổ chức cưỡng chế thi hành án từ nguồn dự toán kinh phí được cấp có thẩm quyền giao cho cơ quan thi hành án dân sự.
+ Trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án hoặc dự trù chi phí cưỡng chế trong trường hợp không phải lập kế hoạch cưỡng chế, trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt. Dự toán chi phục vụ cưỡng chế được lập căn cứ vào nội dung chi, mức chi theo quy định hiện hành của Nhà nước và thông báo cho đương sự biết trước ngày tiến hành cưỡng chế theo quy định tại Điều 39, 40, 41, 42, 43 Luật Thi hành án dân sự.
Trên cơ sở dự trù chi phí cưỡng chế, kế hoạch cưỡng chế được phê duyệt, Chấp hành viên làm thủ tục tạm ứng kinh phí cho hoạt động cưỡng chế từ nguồn kinh phí được ngân sách nhà nước giao cho cơ quan thi hành án dân sự.
Nghị định có cho phép trường hợp đương sự tự nguyện nộp tạm ứng chi phí cưỡng chế.
2.10. Sửa đổi mức phí thi hành án ( Điều 46 Nghị định)
Theo quy định tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP thì người được thi hành án phải chịu phí thi hành án và mức phí thi hành án là 3% (ba phần trăm) trên số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận nhưng tối đa không vượt quá 200 triệu đồng/01 đơn yêu cầu thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn, số lượng vụ việc có giá trị tài sản hoặc tiền phải thi hành án từ hàng chục tỷ đồng đã tăng rất nhiều cá biệt có một số vụ việc mà giá trị tiền phải thi hành án lên tới cả ngàn tỷ đồng như vụ Huyền Như, vụ công ty cho thuê tài chính II …,khối lượng công việc mà cơ quan thi hành án phải thực hiện rất nhiều, chi phí mà nhà nước phải bỏ ra để tổ chức thi hành án những vụ việc đó rất tốn kém. Vì vậy cần tăng số tiền phí tối đa mà người được thi hành án có thể phải nộp nhằm bù đắp một phần chi phí nhà nước đã phải bỏ ra để tổ chức thi hành án.
Do đó, Nghị định đã quy định theo hướng:
Thứ nhất, sửa đổi theo hướng bỏ mức phí trần tối đa,
Thứ hai, đã quy định cách tính phí tương đồng với cách tính án phí của Tòa án để đảm bảo sự công bằng chung. Theo đó, người được thi hành án phải nộp 3% phí thi hành án khi được nhận tiền, tài sản từ trên hai lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định đến 5.000.000.000 đồng. Khi giá trị tiền, tài sản thực nhận tăng lên (trên 5 tỷ) thì tỷ lệ phần trăm để căn cứ tính phí sẽ giảm dần, từ 3% đến 2%, đến 1%, đến 0,5% và 0,01%.
Cụ thể, người được thi hành án phải nộp phí thi hành án khi được nhận tiền, tài sản với mức phí sau đây:
a) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên hai lần mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Nhà nước quy định đến 5.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 3% số tiền, giá trị tài sản thực nhận;
b) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 5.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 150.000.000 đồng cộng với 2% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 5.000.000.000 đồng;
c) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 7.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 190.000.000 đồng cộng với 1% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 7.000.000.000 đồng;
d) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 10.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 220.000.000 đồng cộng với 0,5% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 10.000.000.000 đồng;
đ) Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 15.000.000.000 đồng thì mức phí thi hành án là 245.000.000 đồng cộng với 0,01% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 15.000.000.000 đồng.
Thứ ba, quy định một số trường hợp khác: Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án và chứng kiến các đương sự thỏa thuận tự giao, nhận tiền, tài sản cho nhau thì phải chịu 1/3 mức phí thi hành án quy định trên.
Trường hợp Tòa án không tuyên giá trị của tài sản hoặc có tuyên nhưng không còn phù hợp (thay đổi quá 20%) so với giá thị trường tại thời điểm thu phí thì hành án thì cơ quan thu phí tổ chức định giá tài sản để xác định phí thi hành án phải nộp của người được thi hành án. Chi phí định giá do cơ quan thi hành án dân sự chi trả từ nguồn phí thi hành án được để lại.
Thứ tư, áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp: Đối với trường hợp đang tổ chức thi hành án mà cơ quan thi hành án dân sự đã thu đủ mức phí tối đa không quá 200 triệu đồng phí thi hành án/01 đơn yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP thì xác định đương sự đã thi hành xong nghĩa vụ nộp phí thi hành án. Sau ngày 01/9/2015 mà cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục thu được tiền thi hành án thì không tiếp tục thu phí.
Đối với những trường hợp chưa thu đủ 200 triệu đồng phí tối đa thì sẽ thu phí thi hành án trên số tiền thực nhận kể từ ngày 01/9/2015 theo các mức phí quy định tại Điều 46 Nghị định 62/2015/NĐ-CP.
2.11. Bổ sung quy định về việc xuất cảnh của người phải thi hành án (Điều 51 Nghị định)
Theo quy định tại Điều 28 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quả cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài có thể bị tạm hoãn xuất cảnh khi đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định, bản án của Tòa án. Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 50 Luật Tương trợ tư pháp, người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam có thể được chuyển giao cho nước ngoài để thi hành hình phạt tù khi đã thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự, hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản và các trách nhiệm pháp lý khác trong bản án v.v…Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện cho thấy, người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam thường không có tài sản, không có việc làm, hoàn cảnh gia đình ở nước họ mang quốc tịch cũng khó khăn nên không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự. Ngay cả trường hợp đã chấp hành xong hình phạt tù cũng ít có khả năng tìm việc làm, có thu nhập tại Việt Nam để thi hành nghĩa vụ dân sự, đồng thời cũng không được xuất cảnh về nước nên khó có thể thực hiện việc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù.
Bên cạnh đó, Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Nghị định số 65/2012/NĐ-CP ngày 06/9/2012 sửa đổi, bổ sung Nghị định 136/2007/NĐ-CP quy định: Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế.
Tuy nhiên, trên thực tế có một số trường hợp người phải thi hành án bị ốm đau nếu không cho họ về nước hoặc xuất cảnh để chữa bệnh có thể gây nguy hại đến tính mạng sức khỏe của họ. Do đó trong một số trường hợp liên quan khác, Bộ Tư pháp đã phải phối hợp với Bộ Công An, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) và một số cơ quan để xem xét giải quyết cho người phải thi hành án về nước hoặc xuất cảnh.
Do đó, để tạo điều kiện cho việc xuất cảnh đối với một số trường hợp đặc biệt mà người phải thi hành án (là người nước ngoài hoặc là người Việt Nam) đang có nghĩa vụ thi hành án dân sự về tiền, tài sản, Nghị định quy định người phải thi hành án có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.
Thứ hai, đã ủy quyền cho người khác mà người được ủy quyền có đủ tài sản và cam kết thi hành thay nghĩa vụ của người ủy quyền; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.
Thứ ba, đã có sự đồng ý của người được thi hành án;
Thứ tư, đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà không có căn cứ chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn;
Thứ năm, người phải thi hành án là người nước ngoài phạm tội ít nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam, có đơn cam kết thực hiện nghĩa vụ sau khi về nước;
Đơn cam kết phải có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam của nước mà người đó có quốc tịch về việc đôn đốc người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành khoản thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam;
Thứ sáu, đã có văn bản của cơ quan Công an hoặc cơ quan đại diện ngoại giao đề nghị cho xuất cảnh trong trường hợp cá nhân là người phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam nhưng không được người được thi hành án cho xuất cảnh hoặc không xác định được địa chỉ của người được thi hành án hoặc người được thi hành án là người nước ngoài đã về nước và các trường hợp đặc biệt khác. Việc xuất cảnh trong trường hợp này do Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định.
Nghị định cũng quy định việc giải tỏa tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án, quyết định đang thi hành hoặc khi căn cứ tạm hoãn xuất cảnh không còn.
2.12. Bổ sung quy định về điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên, Thẩm tra viên (Điều 70 Nghị định)
Hiện nay số lượng công việc của các cơ quan thi hành án ở các địa phương là khác nhau, trong điều kiện trước mắt các cơ quan thi hành án không được tăng chỉ tiêu biên chế thì việc bổ sung quy định về điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên, Thẩm tra viên là hết sức cần thiết. Việc bổ sung quy định này giúp cơ quan quản lý có thể điều động, luân chuyển, biệt phái công chức từ địa phương ít việc sang địa phương nhiều việc; tăng cường công chức cho các cơ quan thi hành án nhiều việc mà không làm tăng biên chế và kinh phí của nhà nước. Việc điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên, thẩm tra viên cũng giúp các công chức thi hành án tích lũy được nhiều kinh nghiệm, thực tiễn và giảm tải áp lực công việc cho công chức ở một số địa bàn nhiều việc.
Để thống nhất trong thực hiện, Nghị định quy định thẩm quyền điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên, thẩm tra viên như sau:
Thứ nhất, thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái Thẩm tra viên cao cấp không giữ chức vụ lãnh đạo; Chấp hành viên, Thẩm tra viên hiện đang giữ chức vụ lãnh đạo thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
Thứ hai, thẩm quyền của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự:  Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự quyết định việc điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên, Thẩm tra viên từ tỉnh này sang tỉnh khác; Chấp hành viên đang giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, Thẩm tra viên đang giữ chức vụ Phó Vụ trưởng và tương đương thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
Thứ ba, thẩm quyền của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự: Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên, Thẩm tra viên trong địa bàn do mình quản lý. Trường hợp điều động, luân chuyển Chấp hành viên, Thẩm tra viên đang giữ chức vụ lãnh đạo quản lý thì phải báo cáo xin ý kiến của người có thẩm quyền bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo trước khi thực hiện điều động, luân chuyển, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự nêu trên.
2.13. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về cấp hiệu và đối tượng được cấp phù hiệu, cấp hiệu, trang phục thi hành án dân sự
- Chỉnh lý một số vấn đề về mặt kỹ thuật, hình thức về cấp hiệu thi hành án dân sự.
- Nghị định đã bổ sung thêm đối tượng là những người khác làm công tác thi hành án dân sự thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, cơ quan thi hành án dân sự cũng được cấp phù hiệu, cấp hiệu và trang phục để thi hành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, ngoài Chấp hành viên, Thẩm tra viên, công chức khác đã được quy định.
2.14. Quy định về điều khoản chuyển tiếp (Điều 84 Nghị định)
            Ngoài các quy định về điều khoản thi hành, Nghị định đã quy định việc xử lý trong giai đoạn chuyển tiếp, theo đó: “Đối với các việc thi hành án đã thi hành một phần hoặc chưa thi hành xong trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng đã thực hiện các thủ tục về thi hành án theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì kết quả thi hành án được công nhận; các thủ tục thi hành án tiếp theo được tiếp tục thực hiện theo quy định của Nghị định này”.
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang khẩn trương xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định của Thông tư, Thông tư liên tịch hiện hành để phù hợp với quy định của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển tiếp, khi Nghị định đã có hiệu lực những các Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng chưa được sửa đổi, bổ sung đã gây nhiều khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự. Do đó, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 3823/BTP-TCTHADS ngày 19/10/2015 hướng dẫn áp dụng. Cụ thể: Đối với quy định tại các Thông tư, Thông tư liên tịch hiện hành không còn phù hợp với quy định của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì không được áp dụng, mà áp dụng các quy định của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để giải quyết; nếu Nghị định số 62/2015/NĐ-CP chưa quy định thì cần chờ các văn bản thay thế, sửa đổi, bổ sung để có căn cứ áp dụng.
Trên đây là nội dung giới thiệu khái quát về những nội dung cơ bản của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự./. 
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Chức năng, nhiệm vụ

Theo quy định tại Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự...

Đăng nhập thành viên

Trang Liên kết

Webmail Cục thi hành án Bắc Ninh
Hệ thống văn bản pháp luật
diễn đàn
Pháp luật Việt Nam
Báo Bắc Ninh
Cục THADS HCM
Cục THADS ĐỒNG THÁP